Chân dung nữ văn sĩ đại diện đất nước Na Uy – Tác giả: PGS Lê Thanh Bình


Sigrid Undset (1882 – 1949) là người nhận giải Nobel Văn học năm 1928 và là nhà văn thứ ba của Na Uy được hưởng vinh dự đó, sau Bjørnstjerne Martinius Bjørnson (1832 – 1910) và Knut Hamsun (1859 – 1952).

Chân dung nữ văn sĩ đại diện đất nước Na UyHình ảnh nữ văn sĩ Sigrid Undset được in hình trên tiền Na Uy từ năm 2005, tại mặt trước của tờ 500 kroner có mệnh giá lớn thứ nhì, chỉ sau tờ 1.000 kroner in hình danh họa Edvard Munch (1863 – 1944).

Với ngót hai chục tác phẩm văn học thuộc đủ các thể loại, đặc biệt là tiểu thuyết lịch sử bộ ba Kristin, con gái của Lavrans (1920 -1922) và các hoạt động ủng hộ chính phủ kháng chiến trong Đại chiến Thế giới thứ II, nữ văn sĩ được in hình trên tiền Na Uy từ năm 2005, tại mặt trước của tờ 500 kroner có mệnh giá lớn thứ nhì, chỉ sau tờ 1.000 kroner in hình danh họa Edvard Munch (1863 -1944).

Nghiên cứu tiểu sử về nữ văn sĩ, được biết bà có cha là một nhà khảo cổ học danh tiếng người Na Uy; mẹ là người Đan Mạch. Năm 11 tuổi, cha mất, mẹ của bà rất vất vả trong việc nuôi dạy 3 con gái.

Là con lớn nhất nên mới 16 tuổi, Undset đã đi làm, giúp mẹ và cả gia đình. Năm 1911, bà lấy chồng hơn mình 13 tuổi đã có 3 con riêng do khâm phục tài năng người đàn ông có bàn tay “phù thủy sắc màu” và trái tim hào hoa.

Undset là người rất tinh tế, sâu sắc. Khi còn mặn nồng với người chồng họa sĩ – nghệ sĩ tạo hình, thấy chồng cứ nhìn chăm chăm vào mình, bà hay tủm tỉm “hướng dẫn” chồng là khi 2 người yêu nhau đừng căng thẳng, phải như người chèo thuyền đừng chăm chăm vào tay chèo, nhìn thuyền mà nên hướng tầm nhìn ra phía xa xa trước mũi thuyền, vừa ngắm chân trời, mây nước, phong cảnh ven sông…

Kết quả là họ có với nhau 3 con chung nữa. Cuộc sống càng chật vật, lại là lúc chiến tranh thế giới sắp nổ ra, rồi “gặp đời thường nhật, vỡ mộng thuyền tình”, mâu thuẫn xảy ra thường xuyên, vợ chồng bèn li dị vào năm 1922.

Thời kỳ này, Undset bị khủng hoảng tinh thần, may là hoạt động văn chương đã đem lại cho bà niềm vui sáng tạo và chăm đi lễ nhà thờ. Năm 1924, bà theo đạo Cơ Đốc. Năm 1940, Đức xâm lược Na Uy, Undset tự nguyện đứng trong hàng ngũ chống phát xít.

Từ đó, bà luôn sẵn sàng lên tiếng phản đối phát xít Đức mỗi khi có dịp và phải lánh sang Mỹ suốt hầu hết thời gian Chiến tranh Thế giới thứ II. Tại đây, tiếng nói vì hòa bình và công lý của bà rung động không chỉ dư luận Hoa Kỳ, mà qua báo chí đã ảnh hưởng đến công chúng nhiều nước.

Trong tác phẩm của mình, bà luôn cho rằng tình mẫu tử là sứ mệnh cốt tử của người phụ nữ, bà khuyên phụ nữ: “Đừng theo chủ nghĩa nữ quyền mà hãy là người phụ nữ, là người vợ và người mẹ”.

Tư tưởng này thấm nhuần trong toàn bộ tác phẩm của Undset và cho đến nay, vẫn bị tranh cãi ngay trong nhiều diễn đàn lớn. Trở về Na Uy sau chiến tranh, bà được trao Huân chương Thánh Olav (1947), “vì những đóng góp to lớn trong văn học và sự nghiệp phục vụ nhân dân”. Bà mất cuối năm 1949 vì một cơn nhồi máu cơ tim.

Nữ văn sĩ Sigrid Undset.Nữ văn sĩ Sigrid Undset.

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Undset có nhiều mốc đáng nhớ. Năm 1905, bà gửi đến nhà xuất bản bản thảo đầu tiên là một tiểu thuyết lịch sử nhưng bị trả lại với lời khuyên nên viết về chủ đề hiện đại.

Năm 1907, tiểu thuyết Bà Marta Oulie viết về các phong tục đương đại của bà được xuất bản. Tuy nhiên, phải đến tiểu thuyết Jenny (1911) mang tính tự thuật kể về mối tình của mình với một người đàn ông hơn bà 13 tuổi (sau này hai người lấy nhau và có ba con), Undset mới trở nên nổi tiếng.

Từ năm 1920, bất chấp lời khuyên trước kia của nhà xuất bản, Undset đã trở lại với đề tài lịch sử và cho ra đời tiểu thuyết bộ ba Kristin, con gái của Lavrans (1920 – 1922), miêu tả toàn bộ các sự kiện lớn, phong tục tập quán, lí tưởng của quần chúng lao động trong lịch sử đau xót của Na Uy khi bị Đan Mạch xâm chiếm và đồng hóa (thế kỉ XIV). Với tiểu thuyết này, bà được đề cử trao Giải Nobel Văn học năm 1922. Tuy nhiên, phải sáu năm sau giải thưởng mới được trao cho bà.

Tác phẩm viết về đề tài lịch sử tiếp theo được xuất bản gồm 2 tập Ông chủ của Hestviken chính là cuốn tiểu thuyết đầu tay bị nhà xuất bản từ chối trước đây. Năm 1928, trong lễ trao Giải Nobel cho S. Undset, đại diện Viện Hàn lâm Thụy Điển đã gọi bà là “thiên tài thơ ca đã lấy sức mạnh của mình trong sự vĩ đại và kiên cường của tinh thần”.

Bày tỏ sự cảm kích của bản thân với việc được nhận giải thưởng, bà Undset chỉ phát biểu ngắn gọn, trong đó có câu: “Đối với tôi, viết dễ hơn là nói, nhất là nói về chính mình”.

Thời kỳ sau khi nhận giải thưởng Nobel, Undset viết thêm 5 cuốn tiểu thuyết về đề tài hiện đại và nhiều bài báo được tập hợp thành sách Những chặng đường. Cuốn tiểu thuyết cuối cùng là Bà Dorothea (1939) chống lại khuynh hướng nữ quyền của thời đại.

Ban Giám khảo xét Giải Nobel của Viện Hàn lâm Hoàng gia Thụy Điển đã có bản nhận xét rất chi tiết, xác đáng về thành công kể cả nội dung và nghệ thuật văn chương của văn sĩ:

Đọng lại mãi trong kí ức của độc giả là những cuộc du ngoạn trên xe trượt tuyết ở vùng nông thôn Na Uy hiu quạnh, ấn tượng về những trò đỏng đảnh của ánh sáng mùa đông, niềm hồ hởi của những đợt gió lạnh buốt tim trong suốt cuộc hành trình, điệu nhảy cuồng loạn của máu trong huyết quản, tinh thần phiêu lưu, niềm phấn khích, cảm giác về sự sống và sức mạnh làm trái tim đập dồn trong lồng ngực.

Và cũng với ngòi bút điêu luyện, Sigrid Undset mô vẻ kì diệu của mùa xuân tràn ngập ánh sáng và đầy hứa hẹn. Trong lĩnh vực này, tài nghệ của bà đã đạt đến trình độ bậc thầy từ rất sớm. Về đời sống nội tâm, tác phẩm của Sigrid Undset thật khó chê trách.

Hòa hợp với ý thức dân tộc, dưới ngòi bút của bà, danh dự vẫn giữ được tất cả tính sức mạnh và trọng lượng mà nó từng có đối với giới hiệp sĩ và những điền chủ của thế kỷ XIV. Đòi hỏi danh dự được nêu lên rõ ràng, và những mâu thuẫn được thể hiện dù hậu quả có tàn nhẫn đến đâu.

Đời sống tôn giáo được mô tả chân thực đến giật mình. Dưới ngòi bút của bà, đó không phải là kì nghỉ triền miên của trí óc, xâm nhập và thống trị bản chất con người. Nó bất ổn và nổi loạn, thời này vẫn thế, thậm chí còn khắc nghiệt hơn.

Ý thức sâu sắc rằng phải gìn giữ lòng trung thực trong những linh hồn mộc mạc thiếu kinh nghiệm này, tác giả đã đem lại, trong những giờ phút nguy nan, một sức mạnh vô song.

Đời sống ái tình, vấn đề thông thường đối với hai giới tính, vốn chiếm vị trí trung tâm trong mối quan tâm tâm lý của Undset cũng xuất hiện hầu như nguyên vẹn trong tiểu thuyết lịch sử của bà.

Giải Nobel danh giá.Giải Nobel danh giá.

Trong những tài liệu thời trung cổ, vấn đề nữ quyền chưa hề được biết tới; chưa ai tìm thấy ở đó dù chỉ những lời bóng gió về đời sống riêng tư, cái về sau sẽ dẫn đến vấn đề này. Một nhà sử học, vốn bao giờ cũng đòi hỏi chứng cứ, có quyền chỉ ra điểm không thích hợp này. Nhưng đòi hỏi của nhà sử học không thể là tối thượng.

Nhà viết văn, thơ ít nhất cũng có quyền bình đẳng trong việc diễn đạt những suy nghĩ của mình khi anh ta có một kiến văn vững chắc và sự nhạy cảm đối với tâm hồn con người. Nhà khảo cổ buộc phải thừa nhận rằng trong quá khứ đã tồn tại những công cụ tự nhiên khác ngoài những gì chúng ta đã biết, đó là chưa kể những phương cách thường ngẫu nhiên mà ký ức về quá khứ đến được với chúng ta.

Các nhà văn, nhà thơ có quyền cho rằng bản chất của con người đã chẳng thay đổi bao nhiêu qua các thời đại, cho dù về một số phương diện các cuốn biên niên sử hoàn toàn im lặng.

Dù có những luật lệ được áp đặt, cuộc sống bình thường của người đàn ông và đàn bà cũng hiếm khi bình lặng và giản đơn. Không nghi ngờ là nó ít ồn ã hơn so với thời đại ngày nay, nhưng cũng không thoát khỏi những xung đột và rối loạn đổ máu.

Undset khiến những xung đột và rối loạn này lên tiếng, mặc dù đôi khi ta có cảm giác rằng những giọng nói ấy hơi quá hiện đại và tình cảm hơi quá tinh tế đối với một thời đại mà ảnh hưởng của văn chương chưa mạnh. Môi trường sống dường như cũng phải nặng nề và khắc nghiệt hơn để đủ tôi luyện tính cách các nhân vật.

Nhưng chính nhờ thiếu sót này, nếu thực sự chúng ta có thể nói đó là thiếu sót, mà văn chương của bà có được một đời sống cảm động và giàu liên tưởng. Trong sự thỏa hiệp tất yếu giữa hiện tại và quá khứ, cái mà một tiểu thuyết lịch sử không thể thoát khỏi, Undset đã lựa chọn cách thức tốt nhất.

Phong cách kể chuyện của bà mạnh mẽ, trôi chảy và đôi khi nặng nề. Nó cuốn đi như một dòng sông không ngừng tiếp nhận những nhánh phụ mà dòng chảy của chúng cũng được ngòi bút của bà mô tả chi tiết, khiến cho trí nhớ của độc giả gần như bị choáng ngợp.

Điều này một phần là do chính bản chất của đề tài. Trong nhiều thế hệ nối tiếp nhau, mâu thuẫn và thân phận hòa thành một hình thái rất đậm đặc; chúng chính là những đám mây va chạm nhau tạo nên sấm chớp.

Tuy nhiên, sự khắc nghiệt ấy cũng là kết quả của trí tưởng tượng nóng bỏng và tức thời của tác giả, thứ tạo nên bối cảnh và đối thoại của mỗi sự kiện trong câu chuyện mà không cần nhìn lại toàn bộ bức tranh.

Và dòng sông bao la, mà dòng chảy rất khó nhận biết một cách toàn diện, cuộn lên những đợt sóng dữ dội cuốn phăng cả người đọc đang trong tình trạng mê man. Những tiếng thét gầm của dòng nước mang trong mình nó sức trẻ vĩnh hằng của thiên nhiên.

Ở những chỗ nước xiết và những nơi thác đổ, độc giả tìm thấy niềm vui thích nảy sinh từ năng lượng của các thành tố, còn trong những mặt gương hồ nước rộng lớn là hình ảnh của cái mênh mông, giống như hình ảnh của tất cả những gì hùng vĩ trong bản tính của loài người.

Vì thế, khi dòng sông gặp biển, khi nhân vật Kristin Lavransdatter đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, không ai phàn nàn về độ dài của dòng chảy, dòng chảy đã tích tụ cho số phận của bà một ý nghĩa và chiều sâu thăm thẳm. Trong văn chương của mọi thời đại, hiếm khi có được một cảnh tượng nào sánh được…

Không cần trích dẫn thêm, ngần ấy cũng đủ nói lên tầm vóc của nhà văn đại diện cho đất nước Na Uy có một lịch sử đáng nhớ, và nhà văn Undset đã cung cấp thêm một góc nhìn, quan niệm lý thú về người phụ nữ trong thời đại của mình trong bối cảnh xã hội trước đây. Có những vấn đề hiện nay vẫn cần tranh luận.

 

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây