Con Trâu trong tâm thức văn hóa – Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng

Con Trâu trong tâm thức văn hóa - Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng

CON TRÂU TRONG TÂM THỨC VĂN HOÁ

Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng

Trâu ơi ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cấy cày vốn nghiệp nông gia,
(…)

Là một nước nông nghiệp, ở xứ ta, trâu/bò là sức kéo quan trọng. Tục ngữ: “Con trâu là đầu cơ nghiệp”, bởi nó là nguồn lực lao động thiết yếu giúp cho người lao động bớt vất vả. Do đó trâu/bò được con người quí mến và cứ đến tết, ngày mồng ba, làm Tết trâu để tạ ơn những công lao đóng góp của chúng. Thậm chí, trong lịch sử không ít sắc luật cấm giết trâu bò để ăn thịt đã được ban bố. Năng lực vạch những luống cày đầu tiên xuống đất để tiếp nhận những cơn mưa làm cho sự sống sinh sôi nảy nở đã khiến cho trâu/bò trở thành con vật thiêng của cư dân nông nghiệp. Chúng hiện diện trong lễ tịch điền của các triều đại phong kiến, ở đó vua là người cầm cày, cày những luống cày mở đầu cho vụ mùa hàng năm. Ở đó, trâu/bò biểu trưng cho giới tư tế, trung gian giữa người và vũ trụ. Do hàm chứa những tính chất thiêng liêng khác nhau, trâu/bò có quan hệ với đa số các nghi lễ với tư cách từ con vật là đối tượng thờ tự đến con vật hiến sinh.

Ở lễ Tiến Xuân ngưu vào ngày lập xuân hàng năm thời quân chủ ờ xứ ta (cũng như Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên), người ta đã nặn tượng trâu “Xuân ngưu” bằng đất sét cùng với tượng Mang thần (còn gọi là Ngưu Mang) để dùng vào việc thực hành nghi lễ. Ở đây, người chủ lễ dùng roi bằng cây liễu để đánh vào các con trâu đất “Xuân ngưu”, gọi là “Đả xuân ngưu”, có ý thôi thúc cho trâu phải làm việc. Thực ra, đây là một hành vi nghi lễ thúc đẩy sự thức dậy của mùa xuân, tứckhai mở một chu kỳ mới trong vòng quay tuần hoàn của vũ trụ: tứ thời bát tiết. Ở đây là từ tối tăm – giá lạnh sang sáng sủa – ấm áp, từ sự ngưng đọng đến sự hoạt động. Chính vì vậy, lễ này còn được gọi là lễ Nghinh Xuân.

Trong lịch sử, Mang Thần [1] thấy xuất hiện đầu tiên vào đời Lý Anh Tông (1293-1314) trong lễ “lập đàn ở Nam giao tế trời” để cầu mưa. Sau lễ, quả nhiên có mưa to nên vua hạ lệnh rằng “Dưới Hậu thổ phu nhân có Câu Mang thần quân coi về mùa xuân. Từ nay, phàm làm lễ mùa xuân rồi, phải đem con trâu bằng đất để ở dưới đền thờ[2]. Tập tục thờ con trâu đất Xuân ngưu này duy trì đến thời Lê thì bộ tượng lớn (Mang Thần và Xuân Ngưu) sau lễ đem chôn, các bộ tượng nhỏ thì phân phối cho các nha môn và địa phương để tế cúng. Thời nhà Nguyễn tập tục thờ tượng Mang Thần và Xuân Ngưu tồn tại đến đời Minh Mạng mới thôi.  Năm Minh Mạng 11 (1830), vua ra lệnh, sau lễ thì đem “Xuân ngưu” đi chôn dưới đất và đến đời Khải Định (1918), Xuân ngưu lại được vẽ trên vải thay vì nặn bằng đất sét [3].

*

Nói chung, trâu (tượng hay tranh vẽ) ở lễ Tiến Xuân ngưu là đối tượng tôn kính của nghi lễ, trong khi đó, theo điển lệ, các lễ tế lớn, qui định lễ phẩm Thái lao, gồm heo, bò, dê. Ở bộ “Tam sinh” này, bò là con vật hiến tế, có nơi bò được thay bằng trâu.

Trâu (thuỷ ngưu) là loài vật ưa đầm mình trong nước nên được coi là biểu tượng cho nước, sự ẩm ướt bị chiến thắng bởi mặt trời và khô hạn. Do đó, người ta giết trâu tế thần vào cuối mùa mưa. Tập tục này phổ biến ở Ấn Độ. Quan niệm trâu gắn với sông nước ở xứ ta thấy biểu lộ ở các truyền thuyết kể về các anh hùng, các nhân vật lịch sử có tài bơi lặn. Theo đó, truyện luôn cắt nghĩa là họ sở đắc được một/ một vài sợi lông trâu thần, hoặc do quan hệ thần kỳ nào đó với trâu thần: bẩm sinh trên thân người ấy mọc những sợi lông trâu nước! Trong thực tế, ở xứ ta, trâu được dùng làm vật hiến tế quanh năm không nhất thiết là cuối mùa mưa để cầu tạnh ráo. Thậm chí, hiến tế trâu là để cầu mưa như lễ hội Khô già già của người Hà Nhì Đen (Bát Xát, Lào Cai) [4] hoặc trâu tham dự vào nghi thức chống hoả hoạn như lễ hội Cầu Mát của người Mường (Mường Bi): Khi một làng nào đó (thuộc Mường Bi) bị hoả hoạn (theo quan niệm của người dân ở đây là do đất nóng quá nên bốc lửa) thì người ta tổ chức lễ Cầu Mát. Lễ cúng xong, dân Mường chọn một lão nông dắt con trâu ra cày một luống quanh làng và người dân lấy nước đổ xuống luống cày đó [5].

Trong tập tục phong hoá, chọi trâu cũng rất phổ biến. Ở xứ ta chọi trâu có hai loại: một là trò chơi thi đấu súc vật thuần tuý và hai là hình thức thực hành nghi lễ: chọn con vật để làm hiến tế.

Tục chọi trâu ở Đồ Sơn (tổng Đồ Sơn cũ gồm 3 xã Đồ Sơn, Đồ Hải, Ngọc Xuyên) hẳng năm là một trò thi đấu có chức năng thực hành nghi lễ hiến sinh (Bà Đế-Thuỷ Thần) nổi tiếng về qui mô và lề luật. Tuy nhiên, tập tục chọi trâu ở vùng Đất Tổ Vĩnh Phú-Vĩnh Phúc có lẽ lâu đời hơn. Cũng như ở Đồ Sơn, tập tục chọi trâu ở đây cũng là hình thức thực hành nghi lễ: hoặc là lễ cầu trận – tưởng niệm vị tướng chống quân Hán là ông Công Lộ (Bạch Lưu, Lập Thạch), hoặc tế Tản Viên (Hoàng Cương, Thanh Hoá), hoặc tế phúc thần thờ ở đình làng (Chu Hoá, Phong Châu), hoặc được xác tín là phục hiện việc các vị tướng của vua Hùng săn được hai con hổ vào thời khai quốc cổ xưa (Phù Ninh, Phong Châu). Điều khác biệt giữa tục chọi trâu ở vùng Đất Tổ với Đồ Sơn là ở Vĩnh Phú, con trâu thua cuộc bị đem làm thịt để hiến tế, còn ngược lại ở Đồ Sơn, tất thảy 14 con trâu của 14 thôn/ giáp dù thắng hay thua đều làm thịt để hiến tế, đặc biệt là con trâu thắng giải vô địch lại là con vật hiến tế quan trọng nhất. Cổ tục: Con trâu vô địch được chở ra Hòn Độc, ném xuống biển để hiến sinh cho Bà Đế, đối tượng chính của lễ hội này.

Nói chung, việc hiến tế trâu ở Vĩnh Phú, tuy được xác định rõ các đối tượng của cuộc lễ là các nhân vật huyền sử và lịch sử, song đàng sau đó vẫn là bóng dáng của nghi lễ nông nghiệp. Riêng việc hiến tế trâu ở Đồ Sơn, lại cho thấy ý nghĩa trâu biểu trưng cho huyết khí không kiềm chế, xung lực mãnh liệt buông thả nên được hiến cho thần Bão tố và thần Biển – luôn biểu thị sức mạnh vô thức của tự nhiên. Ở đây, trâu trở lại nguồn gốc là con vật của sông nước.

*

Việc dùng trâu hiến tế, phổ biến trong hầu hết các tộc người ở đất nước ta, song ấn tượng là lễ Đâm Trâu của các tộc người Tây Nguyên. Ở đây, trâu không dùng để kéo cày, bừa, xe… Trâu được dùng để cúng hay làm vật trao đổi để lấy những thứ khác, nhưng trâu vẫn là con vật thân thiết đối với người Tây Nguyên. Có tác giả cho rằng Tây Nguyên coi trâu là vật tổ, song không đưa ra cứ liệu minh chứng điều này. Điều rõ ràng nhất là ở Tây Nguyên, trâu là vật hiến tế hầu hết trong các lễ lớn: Ăn Cơm mới, Mừng Năm mới, lễ Cúng giữa vụ, lễ Tắm lúa, lễ Trừ nợ, Khánh thành nhà làng (Rông/ Gươl), lễ kết nghĩa, Mừng chiến thắng, lễ Bỏ mả, lễ Cưới, lễ Thành đinh, lễ Làm ghế K’pan, lễ Làm trống da… Con trâu ở đây được quí trọng như con người/ bạn của người và việc giết trâu để hiến tế là biến con vật này thành phái viên can thiệp giúp cộng đồng/ gia đình bên cạnh thần linh.

Việc thực hành nghi lễ Đâm trâu cực kỳ phong phú và đa dạng theo từng tộc người, từng nghi lễ cụ thể. Ở đây, giới hạn trong chủ đề của bài viết, chúng ta lưu ý đến hai sự việc chính: máu trâu và đầu-sừng trâu. 

1. Sau khi chọc tiết, người hứng máu trâu (pha với rượu) bôi lên: 1/ Các thành viên trong bản để cầu may (Tà ôi), bôi lên người chủ cuộc lễ (chủ làng/ bản, chủ nhà) hay người thanh niên (đối tượng chính) của lễ Thành đinh… và 2/ Bôi lên các vật dụng: miếng gỗ để xin quẻ âm – dương, cột buộc ché rượu cúng chính, cột Gơng Blang (cột lễ buộc con trâu hiến tế), chiêng, ché, ghế thiêng K’pan, trống…

Rõ ràng là nghi thức này để chỉ việc người Tây Nguyên đã nhận thức rõ ý niệm về thể lực và khí huyết mãnh liệt của trâu. Qua việc việc thụ nhận máu huyết như vậy máu con vật hiến tế đã truyền cho họ sức mạnh cường tráng của con trâu và hơn thế nữa là năng lực tinh thần. Cái sinh lực tinh thần – có thể gọi là “sinh hồn”, này thấy rõ rệt hơn trong nghi thức bôi máu con vật hiến tế vào các đồ vật, tức truyền huyết khí không kìm chế của trâu vào chúng với sự xác tín các đồ vật thiêng và quí giá cần tiếp nhận và có thể tiếp nhận được cái xung lực sinh vật đó để tăng sinh lực và năng lực tinh thần. Cũng có thể nói rộng ra, đất cũng tiếp nhận máu con trâu hiến tế được chủ lễ vẩy ra là để bù đắp sự màu mỡ đã bị mất đi từ vụ mùa trước và chính nhờ sự bù đắp này, sự màu mỡ được tái tạo: hứa hẹn một vụ mùa mới bội thu…

2. Cái phần quan trọng nhất của con trâu hiến tế này là cái đầu với cả cặp sừng. Sau cuộc lễ, cái đầu lâu – cặp sừng này sẽ được treo ở cột chính của nhà Gươl (Cà Tu) hay dưới mái đầu hồi nhà Rông (Giẻ Triêng, Xê Đăng, Rmăm …). Đây là chứng tích của các cuộc lễ lớn hiến tế bằng trâu và nó biểu thị cho thế giá (status) của chủ làng. Ngoài ra, xét về ý nghĩa khác, cũng có ý kiến liên hệ với các thần thoại khai nguyên của một số tộc người, theo đó trâu là Bà Tổ/ Ông Tổ nên tập tục treo đầu trâu nói trên là biểu hiện tục thờ tiên tổ. Liên quan đến tín lý này có lẽ là tập tục tạo tác quan tài độc mộc hình trâu (Ka tu, Giẻ-Triêng. Mnông…) hay nhà mồ (Ping) có tượng đầu trâu ở hai đầu bờ nóc và 4 góc (Ka Tu) [6]; theo đó, chết là sự trở vào cái bụng trâu (quan tài) và trở về thế giới tổ tiên trâu (nhà mồ).

Hiện tượng phổ biến hơn hết thảy ở Tây Nguyên là việc trang trí trên góc đầu hồi hay giữa bờ nóc nhà làng cặp sừng trâu cách điệu [7]. Đặc điểm này không chỉ có riêng ở các tộc người xứ ta mà là hiện tượng khá phổ biến trong kiến trúc truyền thống của nhiều tộc người ở Đông Nam Á.

Theo Roxana Waterson: Cặp sừng Trâu là vũ khí tấn công và tự vệ của chính nó. Việc dùng đầu trâu – cặp sừng hay sừng trâu để trang trí như người ta giả định là những cặp sừng của ngôi nhà là biểu trưng đảm nhận chức năng bảo vệ chống lại những thế lực ma quỉ, bảo vệ những người sống trong ngôi nhà đó [8]. Chức năng bảo hộ này thể hiện rõ ở cặp tượng đầu trâu – sừng đặt ở đầu cầu thang nhà Gươl (katu) thay cho cặp chó thấy ở đầu cầu thang một số nhà Rông.

Ở chiều kích lớn lao hơn, con trâu giống như con vật 4 chân khác (rùa, voi) được coi là biểu trưng của vật đỡ vũ trụ. Theo đó, cặp sừng trâu trên nóc nhà, cùng bốn cột cái bên dưới và bờ nóc lõm hình yên ngựa (còn gọi là hình thuyền) được coi là phiên bản của thân thể con trâu. Ở đây, các thành viên sống trong ngôi nhà kiểu này xác tín là được bảo bọc bởi trâu, họ ở trong bụng trâu, là bào thai của trâu.

*

Nói chung trâu/bò chiếm vị trí quan trọng trong tâm thức văn hoá của loài người. Ở đó, ý nghĩa biểu trưng của chúng khác nhau khá căn bản xét về mặt giới tính (cái, đực). Riêng trâu/bò thiến, được hiểu là không phân biệt giới tính, tức không tách bạch âm dương nên nó được đồng nhất với cái-một-đầu-tiên (thái cực) tượng trưng cho sức mạnh sáng thế, khai mở cái mới.

Trâu/bò cái sản sinh ra sữa biểu trưng cho đất nuôi dưỡng và là nữ thần phồn thực, người mẹ mắn con. Nó cũng đảm đương vai trò vũ trụ thần thánh. Ngược lại, trâu/bò đực, biểu tượng cho khí dương đầy dục tính cùng ý niệm về sức mạnh thể lực và khí huyết không kiềm chế. Trong truyền thống Hindu, Nandi, con bò đực của thần Civa biểu thị năng lực tính dục, thế nhưng cỡi con bò đực như thần Civa là biểu thị sự chế ngự và làm biến hoá năng lực ấy – sử dụng nó để luyện Yoga và tu luyện tinh thần[9]. Trong Phật giáo, trâu biểu thị cho cái bản tâm, được thể hiện ở Thập ngưu đồ, mười bức tranh chăn trâu, biểu thị cho quá trình tu chứng của hành giả.

Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng


[1]Mang Thần là thần Câu Mang. Theo thần thoại Trung Quốc, ngũ phương có 5 vị thiên đế thống quản, mỗi thiên đế có một bộ hạ chủ quản một mùa. Thần Câu Mang chủ quản mùa xuân là thuộc hạ của Thanh đế Phục Hi, thống quản phương Đông.
[2] Lý Tế Xuyên: Việt điện u linh. Bản dịch của Trịnh Đình Rư. Nxb Văn hoá, H; 1960, tr 47-48.
[3] Xem thêm Đỗ Bằng Đoàn – Đỗ Trọng Huề: Những đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt Nam. Nxb Hoa Lư, S., 1968.
[4] Trần Hữu Sơn chủ biên: Lễ hội cổ truyền Lào Cai. Nxb VHDT, H., 1999, tr 21.
[5] Nguyễn Hữu Thức: Tín ngưỡng dân gian, tục thờ và lễ hội/ Trong Người Mường Bi và văn hoá cổ truyền Mường Bi. Huyện Tân Lạc – Sở VHTT Hà Sơn Bình xb, 1988, tr 142.
[6] Nguyễn Hữu Thông chủ biên: Katu – kẻ sống đầu ngọn nước. Nxb Thuận Hoá, Huế, 2004, các trang 112, 114-116, 146, 410, 412, 423…
[7] Xem: – Le Pichon: Les Chasseurs du sang. B.A.V.H. 1938, No 4.
– Nguyễn Văn Kự – Lưu Hùng : Nhà Rông Tây Nguyên. Nxb Thế giới, H., 2007, các trang 138, 144, 146, 175, 180.
[8] Roxana Waterson: The Living House/ An Athropology of Architecture in South-East Asia. Thame and Hudson, 1997, p. 8.
[9] Xem: Jean Chevalier – A. Gheebrant: Từ điển biểu trưng văn hoá thế giới. Bản dịch, Nxb Đà Nẵng, 1997.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây