Fansipan – Ngày trở về

Fansipan – Ngày trở về - VSD Giới Thiệu Kéo cáp khi chuyên gia nước ngoài ngả mũ trước Việt Nam

Fansipan – Ngày trở về

Gió ở trên độ cao 3.143m vẫn phần phật thổi khiến cho Trịnh Văn Hà – cựu kỹ sư trác đạc từng ăn dầm, ngủ dề với Fansipan 5 năm về trước rùng mình. Bên cạnh anh, hơn chục “đồng đội xưa” cũng đã… thở cả ra khói vì hít thở cái lạnh của đại ngàn Hoàng Liên.

Sau hơn 5 năm, những người cũ mới lại có dịp tụ về tại nóc nhà Đông Dương. Nhiều người thậm chí đã… lạc bởi Sa Pa bây giờ khác nhiều quá. Nhưng, khi ngồi lại với nhau, hướng tầm mắt nhìn ra biển mây đang ngùn ngụt chảy, những mảng ký ức lại ùa về, như chưa từng chia xa….

Tr ị nh Văn Hà th ở h ổ n h ể n khi đo ạ n đư ờ ng núi trư ớ c m ặ t b ấ t th ầ n d ự ng đ ứ ng. Xung quanh anh, r ừ ng Hoàng Liên m ỗ i lúc m ộ t r ậ m rì. T ừ ng tin r ằ ng mình có... th ừ a đ ủ kinh nghi ệ m đ ể chinh ph ụ c Fansipan khi đã lăn l ộ n v ớ i cáp treo Bà Nà, nhưng th ự c t ế kh ố c li ệ t c ủ a Tây B ắ c l ạ i khi ế n gã k ỹ sư tr ắ c đ ạ c... rùng mình.

Chương I: Thử thách bắt đầu: Mở lối lên đỉnh trời

Trịnh Văn Hà thở hổn hển khi đoạn đường núi trước mặt bất thần dựng đứng. Xung quanh anh, rừng Hoàng Liên mỗi lúc một rậm rì. Từng tin rằng mình có… thừa đủ kinh nghiệm để chinh phục Fansipan khi đã lăn lộn với cáp treo Bà Nà, nhưng thực tế khốc liệt của Tây Bắc lại khiến gã kỹ sư trắc đạc… rùng mình.

Đó là mùa hè cách đây 8 năm về trước, lần đầu tiên trong đời Hà phải đối mặt với những thử thách cực đại trong giấc mơ có phần điên rồ và bất khả thi vào thời điểm ấy: Dựng tuyến cáp treo hơn 6 cây số… bay lên đỉnh trời.

Mở đường

Đầu tháng 5/2013, ngay sau khi tuyến cáp số 3 tại Bà Nà khánh thành không lâu, Trịnh Văn Hà nhận được lệnh khẩn điều động tới Sa Pa. “Mệnh lệnh” vô cùng ngắn gọn: Định tuyến, vẽ lối để mở đường cho việc xây dựng tuyến cáp treo 3 dây đầu tiên của Việt Nam nối thẳng lên đỉnh Fansipan.

Trịnh Văn Hà trên công trìnhTrịnh Văn Hà trên công trình

Không kịp suy nghĩ quá nhiều, anh chỉ kịp ghé qua nhà chào vợ con rồi xách balo ra Bắc. Hành trang của Hà là sự tự tin cao độ khi đã có thâm niên 6 năm “mò mẫm” với núi Chúa Bà Nà.

Thế nhưng, khi thực sự “gặp gỡ”, đại ngàn Hoàng Liên lại khiến “lính chiến” Trịnh Hà… choáng váng: “Nhìn lên phía đỉnh thì… đen sì sì, không biết đâu vào đâu, không thấy hướng gì cả. Đường núi rất trập trùng và… rất dã man”.

Nhiệm vụ đầu tiên của cả nhóm cựu binh là nghiên cứu, tìm kiếm các phương án dựng tuyến cáp lên đỉnh Fansipan. Hai giải pháp được cân nhắc khi đó là cáp treo 1 dây và cáp treo 3 dây…Kỹ sư Sun Group leo bộ khảo sát

Nhiệm vụ đầu tiên của cả nhóm cựu binh là nghiên cứu, tìm kiếm các phương án dựng tuyến cáp lên đỉnh Fansipan. Hai giải pháp được cân nhắc khi đó là cáp treo 1 dây và cáp treo 3 dây…

Nhiệm vụ đầu tiên của cả nhóm cựu binh là nghiên cứu, tìm kiếm các phương án dựng tuyến cáp lên đỉnh Fansipan. Hai giải pháp được cân nhắc khi đó là cáp treo 1 dây và cáp treo 3 dây…

“Yêu cầu chung của toàn tuyến cáp sẽ phải đi qua tất cả những đặc trưng của Sa Pa như ruộng bậc thang, các bản làng, sông suối, rừng chè, rừng đỗ quyên hay vân sam. Do đó, chúng tôi đã phải tính toán rất kỹ từng chi tiết. Đơn cử như Ga đi hiện tại, ban đầu dự định đặt tại Sín Chải ngay giữa thung lũng Mường Hoa. Tuy nhiên, sau khi tính toán lại, vị trí đó không thỏa mãn được cao độ để có tầm nhìn toàn cảnh”, anh Hà nhớ lại.

lựa chọn xây dựng cáp treo 3 dây là chưa từng có tiền lệ tại Việt Nam. Toàn bộ trang thiết bị, máy móc chính sẽ đều phải nhập khẩu. Kỹ thuật cũng hoàn toàn mới mẻ. Quyết định ấy đồng nghĩa với việc chấp nhận tốn kém và khó khăn cũng sẽ nhân lên gấp bội phần.

Bên cạnh đó, hạn chế tác động là yêu cầu tiên quyết của chủ đầu tư Sun Group xuyên suốt toàn dự án. Cáp treo 3 dây thỏa mãn được thách thức đó, lại cực… an toàn với Hoàng Liên Sơn khi số trụ cáp sẽ ít hơn, có thể thực hiện được phương pháp kéo cáp nổi trên mặt rừng. Và hơn hết, cáp treo 3 dây cũng sẽ đảm bảo tuyệt đối sự an toàn của du khách khi trong điều kiện gió lớn vẫn vận hành ổn định.

Vào thởi điểm những năm 2013-2016,  lựa chọn xây dựng cáp treo 3 dây là chưa từng có tiền lệ tại Việt Nam. Toàn bộ trang thiết bị, máy móc chính sẽ đều phải nhập khẩu. Kỹ thuật cũng hoàn toàn mới mẻ. Quyết định ấy đồng nghĩa với việc chấp nhận tốn kém và khó khăn cũng sẽ nhân lên gấp bội phần.

Vẽ sống lưng cáp trên đại ngàn Hoàng Liên Sơn

Giải được câu đố cáp treo 3 dây, tổ đặc nhiệm vẽ sống lưng Fansipan chính thức lên đường. Bằng mọi giá, họ sẽ phải xác định được “đường đi” của cáp. Đây là yêu cầu sống còn quyết định toàn bộ sự thành bại của toàn bộ công trình giai đoạn về sau.

Do địa hình đặc thù nên toàn bộ 6 cột trụ [bao gồm cả ga đi và ga đến -PV] sẽ được dựng xuyên qua đại ngàn; đồng nghĩa với việc để định tuyến thành công, đội khảo sát buộc phải cắt sâu vào rừng để tìm lối. Tổ đặc nhiệm gồm toàn những gã đàn ông mảnh khảnh lình kỉnh cõng… nồi, niêu, xoong chảo, muối gạo cùng cả chục kilogam thiết bị lầm lũi tiến vào lòng Hoàng Liên Sơn tìm lối.

Nguyễn Khắc Hằng, một kỹ sư… đời đầu tại Fansipan khẽ nhăn mặt khi nhắc lại quãng thời gian khó quên ấy: “Những ngày đầu tiến hành khảo sát thực sự kinh hoàng”. Điệp khúc ăn rừng, ngủ gió, tắm sương… từ Bà Nà tiếp tục lặp lại với “tổ đặc nhiệm” nhưng được tính bằng… cấp số nhân. Đường đã không còn được tính bằng cây số nữa mà bằng cách đếm số con dốc và trảng rừng đã leo qua. “Phòng ở” được dựng sơ sài bằng tre nứa uốn cong mà người ở trong “chui như con chuột” và lúc nào cũng phập phồng… chờ sập.

lều tạm 1Lều tạm 

Điệp khúc ăn rừng, ngủ gió, tắm sương… từ Bà Nà tiếp tục lặp lại với “tổ đặc nhiệm” nhưng được tính bằng… cấp số nhân. Đường đã không còn được tính bằng cây số nữa mà bằng cách đếm số con dốc và trảng rừng đã leo qua. “Phòng ở” được dựng sơ sài bằng tre nứa uốn cong mà người ở trong “chui như con chuột” và lúc nào cũng phập phồng… chờ sập. Điệp khúc ăn rừng, ngủ gió, tắm sương… từ Bà Nà tiếp tục lặp lại với “tổ đặc nhiệm” nhưng được tính bằng… cấp số nhân. Đường đã không còn được tính bằng cây số nữa mà bằng cách đếm số con dốc và trảng rừng đã leo qua. “Phòng ở” được dựng sơ sài bằng tre nứa uốn cong mà người ở trong “chui như con chuột” và lúc nào cũng phập phồng… chờ sập. e2-min

Gian khổ là thế, song việc vẫn cứ phải làm. Thách thức lớn nhất được đặt ra trong giai đoạn đầu là cần phải đảm bảo tính chính xác tuyệt đối của việc định tuyến. Sai số cho phép do các chuyên gia từ Doppelmaryer đưa ra chỉ là 0,25cm.

Cựu kỹ sư trắc đạc Trịnh Hà đã từng dở khóc dở cười khi phải giải bài toán này.

“Đối mặt với Fansipan, mọi lý thuyết viết trên sách vở về trắc đạc đều không thể áp dụng. Một loạt sai số xuất hiện do địa hình quá phức tạp. Máy móc đo cũng bị ảnh hưởng mạnh bởi sóng viễn thông phía Trung Quốc. Khó khăn chồng lên khó khăn. Giải pháp khả dĩ nhất vẫn là dùng sức người, kết hợp với việc đo đạc, tính toán trên bình đồ”, anh nhớ lại.

lựa chọn xây dựng cáp treo 3 dây là chưa từng có tiền lệ tại Việt Nam. Toàn bộ trang thiết bị, máy móc chính sẽ đều phải nhập khẩu. Kỹ thuật cũng hoàn toàn mới mẻ. Quyết định ấy đồng nghĩa với việc chấp nhận tốn kém và khó khăn cũng sẽ nhân lên gấp bội phần.Bữa ăn của đội kéo cáp

Công việc bắt đầu từ 5 giờ sáng. Hai người trong nhóm dậy nấu cơm cho 2 bữa, bữa sáng có thêm tý canh, bữa trưa được gói vào túi nilon bên trên cùng là miếng thịt hay cá khô, đôi khi là muối vừng. 8 giờ sáng là ra khỏi lán, mỗi người lại mang máy móc, rựa, áo mưa, chai nước, đùm cơm phía sau. Chỉ có thế, tất cả chia làm nhiều nhóm rồi tản mát vào rừng để đo đạc.

Tổ khảo sát được chia làm 2 mũi, đi từ hai hướng ngược nhau xuống. Thế nhưng, đến khi gặp, có khi cả hai đã bị lệch đến cả chục mét. Những người trong tổ đặc nhiệm không thể đếm được đã phải qua, lại bao lần chỉ để khoảng cách ấy dần dần thu hẹp lại; chỉ biết “tất cả các đỉnh núi trong phạm vi 5km chúng tôi đã đều in dấu chân” như cách nói của Hà.

Những chuyến đi cứ thế nối tiếp. Nhờ có những đôi chân không mệt mỏi, cuối cùng, 6 tháng sau, việc định ra tuyến xương sống của cáp treo mới được hoàn thành đúng với yêu cầu của Doppelmayr. 6 tháng ăn núi, ngủ rừng dù vất vả nhưng đã đủ khiến cho Fansipan từ lạ bỗng hóa thân quen.

hoa đỗ quyên và vân sam trên rừng Hoàng LiênHoa Đỗ Quyên và Vân Sam trên rừng Hoàng Liên

Chính trong khoảng thời gian này, tình yêu với Fansipan đã lặng lẽ đến và thấm sâu vào họ. Thứ tình yêu đã được đánh đổi bằng mồ hôi và cả máu của họ – điều khiến cho tới tận bây giờ, hầu hết những con người trong “tổ đặc nhiệm” ngày nào vẫn còn tha thiết với Fansipan như một duyên nợ lâu bền.

“Ngày qua ngày, những nỗi khiếp đảm đã trở thành điều bình thường. Yêu thương, đoàn kết, đùm bọc, sẻ chia từ miếng cơm, điếu thuốc, tấm áo ấm là những điều sau cùng đọng lại” anh Trịnh Văn Hà tâm sự.

 

Chương II: Những gã… điên và kỳ tích khó tin giữa đại ngàn

Điên. Đó là cách Trịnh Văn Hà, Nguyễn Khắc Hằng và hàng trăm cán bộ, kỹ sư, công nhân Fansipan 8 năm về trước tự trào phúng chính mình. Tính chi li, cho tới 2/2016 khi tuyến cáp được khánh thành, những gã điên của Hoàng Liên Sơn đã có ngót nghét 800 ngày đêm ăn rừng, ngủ núi – khoảng thời gian đủ dài để thử thách ý chí và sức bền cực hạn của bất cứ ai. Trong 800 ngày ấy, họ đã dùng mồ hôi, nước mắt và cả máu của mình để dựng nên một trong những công trình kỳ vĩ bậc nhất Việt Nam.

Khi điều bất thường trở thành… bình thường

Cuối năm 2013, không lâu sau khi giấy phép xây dựng cáp treo Fansipan có hiệu lực, từ Đà Nẵng, Trần Công Mỹ ngược ra Sa Pa đảm nhiệm vị trí Phó ban quản lý dự án phụ trách phần thô và hạ tầng. Ngồi trên chuyến tàu đêm loang lổ bóng đêm chạy về hướng Lào Cai, chàng kỹ sư trẻ không bao giờ nghĩ tới việc mình sắp trải qua chuỗi ngày bất bình thường nhất trong đời.

Ngày đầu tiên đến Fansipan, Mỹ còn khẳng khái: “Ô, độ nào mình làm cũng xong”. Thế nhưng, thực tế khốc liệt đã nhanh chóng khiến anh phải… hối hận ngay trong chuyến băng rừng thứ nhất.

Ngày đầu tiên đến Fansipan, Mỹ còn khẳng khái: “Ô, độ nào mình làm cũng xong”. Thế nhưng, thực tế khốc liệt đã nhanh chóng khiến anh phải… hối hận ngay trong chuyến băng rừng thứ nhất.

“Chúng tôi hồ hởi xuất phát với suy nghĩ: Ừ thì chinh phục Nóc nhà Đông Dương cũng dễ thôi. Đến cao độ 1.800, độ dễ đã giảm đi quá nửa. Một loạt đầu tiên đã phải dừng chân. Đến điểm 2.200, đoàn tiếp tục rơi rụng một phần. Vừa leo, vừa bò, vừa thở cả bằng mũi, mồm và tai… đến tận đêm mới chạm đỉnh. Lúc này, cả đoàn chỉ còn lại vài anh em, cứ nằm vật ra trong ‘lều vịt’ [Lán dựng tạm bằng tre – PV] mà… ngáp”, Mỹ rùng mình nhớ lại.

Nguyễn Văn Mùi – nhân chứng của thời kỳ “mở lối, dựng cáp” thậm chí còn ví von “Đi Sa Pa như là đi… đánh trận” bởi mức độ khốc liệt đến độ bất thường anh nếm trải. Khó khăn lớn nhất với Mùi không nằm ở kỹ thuật mà là yếu tố con người. Fansipan trong giai đoạn sơ khởi chính là phép thử rõ ràng nhất cho nghị lực, ý chí và cả tính kỷ luật.

“Rất nhiều người đã bỏ cuộc chỉ sau 1-2 ngày làm việc. Chỉ những người có máu… điên mới trụ lại sau cùng”, Mùi tự trào phúng.

Bất thường – Đó có lẽ là cách gọi chính xác nhất về cuộc sống của Mỹ, Mùi và hàng trăm kỹ sư, cán bộ xây dựng cáp treo 3 dây ngày ấy. Bài tập thể dục mỗi ngày là leo núi ở độ cao hàng ngàn mét sơ với mực nước biển – nơi mà dốc đứng cứ chốc chốc lại chồm lên như lưng ngựa đua đang hí vang trời. Những khi rét buốt, họ lại có thêm bài tập… phá băng lấy nước về dùng.

Cực nhất là giai đoạn tuyết rơi ở Hoàng Liên Sơn. Nhiệt độ trong rừng nhanh chóng hạ sâu. Tuyết đóng thành từng mảng dày ngập quá cổ chân khiến cho mặt đá trơn tuột. Việc thi công hay vận chuyển vật liệu trở nên khó khăn do đôi tay cóng buốt. “Nhiều lúc có cảm giác rõ rệt mình thở ra toàn là băng”, Mùi kể.

Chỉ tính riêng trong khoảng thời gian hơn 800 ngày đêm thi công, Fansipan đã có tới 5 trận mưa tuyết. Thời tiết thường xuyên ở mức âm độ khiến cho mọi sinh hoạt trên dọc sống lưng Fansipan trở nên bất thường theo cách… bình thường nhất. Mọi người quen dần với việc cả tuần cố thủ trong mấy lớp áo khoác dày sù sụ, chấp nhận quên luôn… cả thói quen tắm rửa hàng ngày. Họ cũng quen luôn với đồ tiếp tế thi thoảng lại bị… cắt đứt do thời xấu. Có đợt mưa lớn khiến cho hoạt động cung ứng bằng sức người tạm thời bị cắt đứt. Không điện, không thức ăn, cả đội chỉ còn nhõn vài gói mỳ tôm chia nhau cầm cự. Để có sức tiếp tục làm việc, anh em phải cắt cử nhau tỏa ra, hái rau rừng, thậm chí bắt cả… nòng nọc của ếch núi mà ăn.

Nguyễn Khắc Tưởng – Đội trưởng Đội bảo dưỡng cáp công vụNguyễn Khắc Tưởng – Đội trưởng Đội bảo dưỡng cáp công vụ

Nhắc tới chuyện… ăn, Nguyễn Khắc Tưởng – Đội trưởng Đội bảo dưỡng cáp công vụ ngay lập tức mở điện thoại khoe tấm ảnh anh chụp 6 năm trước giữa rừng. Trong ảnh, mấy gã đàn ông đang… hớn hở ăn mỳ tôm đã được nấu chín bằng túi nilon.

Nguyễn Khắc Tưởng – Đội trưởng Đội bảo dưỡng cáp công vụ ngay lập tức mở điện thoại khoe tấm ảnh anh chụp 6 năm trước giữa rừng. Trong ảnh, mấy gã đàn ông đang… hớn hở ăn mỳ tôm đã được nấu chín bằng túi nilon.8-min Nguyễn Khắc Tưởng – Đội trưởng Đội bảo dưỡng cáp công vụ ngay lập tức mở điện thoại khoe tấm ảnh anh chụp 6 năm trước giữa rừng. Trong ảnh, mấy gã đàn ông đang… hớn hở ăn mỳ tôm đã được nấu chín bằng túi nilon.

Ăn uống là thế, đến giấc ngủ của họ cũng không… bình thường. Nhà của những người như Tâm, Hậu và hàng trăm công nhân khác trong suốt những ngày đầu chỉ được dựng tạm bằng vài thân trúc uốn cong ghim chặt lên mặt đất. Bạt dứa phủ làm mái, lá cây trải thành giường. Cứ thế, sau ngày làm việc nặng nhọc, cả đám lại mặc nguyên áo quần chui vào bên trong để ngủ.

Sau này, trong hồi ức của mình, Trịnh Văn Hà, một trong những người đầu tiên tham gia mở tuyến xây dựng cáp treo Fansipan đã viết: “Ngày nắng còn đỡ, ngày mưa rừng thực sự là ác mộng. Mười con người chen chúc trong cái lán ẩm thấp và mưa dột tong tong, nếu ngồi thì tất cả cùng ngồi, nếu nằm tất cả cùng nằm, tất nhiên không thể đứng, lại tự an ủi với nhau bằng những bài hát không đầu không cuối, những câu hỏi về gia đình, người thân mà chẳng thể có câu trả lời.”

Sáng tạo kiểu Fansipan

Khó khăn là thế, nhưng công việc vẫn phải làm. Nhiệm vụ của đội phụ trách phần thô và hạ tầng lúc này là phải nhanh chóng tạo mặt bằng, xây dựng móng để dựng 2 nhà ga đi, đến và 4 cột trụ về sau.

Với điều kiện địa hình nhiều dốc đứng, có rừng nguyên sinh bao phủ và phân thành nhiều vành đai thực vật theo cao độ khác nhau, Hoàng Liên Sơn thực sự trở thành nỗi ám ảnh đối với những người thi công. 5/6 địa điểm được chọn để thi công hố móng đều nằm sâu trong rừng rậm, hoặc núi cao, đường vào hết sức khó khăn; cộng thêm chủ trương không phá rừng từ chủ đầu tư nên mọi phương tiện, máy móc vận chuyển nguyên vật liệu đều phải đầu hàng vô điều kiện. Phương án khả thi nhất được đưa ra và phê duyệt là dùng bằng sức người “cõng” sắt, đá, xi măng lên núi. Bất chấp những nghi ngại đến từ Doppelmayr, ngày ngày, từng đoàn “kiến thợ” kiên nhẫn vác từng gùi cát, sỏi, xi măng leo dốc, vượt núi để vào các điểm tập kết.

Phương án khả thi nhất được đưa ra và phê duyệt là dùng bằng sức người “cõng” sắt, đá, xi măng lên núi. Bất chấp những nghi ngại đến từ Doppelmayr, ngày ngày, từng đoàn “kiến thợ” kiên nhẫn vác từng gùi cát, sỏi, xi măng leo dốc, vượt núi để vào các điểm tập kết.

“Các nước khác đều chặt cây, mở đường để thi công, việc đi tới công trường hay lắp đặt các trụ đều dùng trực thăng. Còn ở Fansipan, tất cả đều đi bộ trong địa hình núi non hiểm trở, toàn đèo dốc, vực sâu…”, Reto Sigrist – chuyên gia của Doppelmayr đã phải thốt lên.

Reto thậm chí đã càng kinh ngạc hơn khi các kỹ sư và công nhân người Việt thậm chí còn sáng tạo ra “sàn biện pháp” để giảm thiểu sự tác động tới cây rừng.

Thi công cáp giữa rừngThi công cáp giữa rừng

“Sàn biện pháp là điểm tập kết vật liệu được chúng tôi dựng như một nhà giàn cao vượt lên trên tán rừng, tránh ảnh hưởng tới tự nhiên. Chi phí thực hiện so với biện pháp truyền thống là chặt phá rừng chắc chắn cao hơn rất nhiều lần”, Mùi giải thích.

Kiến tha lâu đầy tổ. Chỉ trong vòng hơn 1 năm, hàng chục nghìn tấn vật liệu đã vượt có mặt tại 6 điểm tập kết cùng với thứ hiện đại duy nhất là dàn máy trộn bê tông cỡ nhỏ cũng được “cõng” vào sau khi tháo rời ra thành từng phần nhỏ. Đến lúc này, những gã thợ chỉ có cuốc, xẻng… trần mình hì hục khoét từng mảng đất, san gạt hố móng tạo mặt bằng chuẩn bị dựng trụ cáp.

Kiến tha lâu đầy tổ. Chỉ trong vòng hơn 1 năm, hàng chục nghìn tấn vật liệu đã vượt có mặt tại 6 điểm tập kết cùng với thứ hiện đại duy nhất là dàn máy trộn bê tông cỡ nhỏ cũng được “cõng” vào sau khi tháo rời ra thành từng phần nhỏ. Đến lúc này, những gã thợ chỉ có cuốc, xẻng… trần mình hì hục khoét từng mảng đất, san gạt hố móng tạo mặt bằng chuẩn bị dựng trụ cáp.

Mãi về sau này, khi tuyến cáp công vụ ra đời, việc vận chuyển máy móc cỡ lớn đã được cơ giới hóa. Thế nhưng, những “kiến thợ” Fansipan vẫn cứ mải miết trên những tuyến đường của mình. Họ lần lượt cõng điện lên nóc nhà Đông Dương, gánh đá lên tới đỉnh trời. Chỉ tính riêng giai đoạn thi công khu ga đến, hàng trăm công nhân đã xoay trần, đánh vật với hơn 4.200 viên đá nguyên khối, mỗi khối 300kg. Cứ 20 người sẽ khiêng một trụ mà hoàn toàn không có máy móc nào trợ lực.

Trần Vinh – kỹ sư cơ khí tủm tỉm cười khi nhớ lại sự sự ngạc nhiên đến tột cùng của các chuyên gia tới từ Châu Âu. Anh bảo: “Họ không thể tin với cách làm ‘made in Vietnam’, chúng ta có thể đưa công trình về đích đúng thời hạn. Nhưng thực tế

Trần Vinh – kỹ sư cơ khí tủm tỉm cười khi nhớ lại sự sự ngạc nhiên đến tột cùng của các chuyên gia tới từ Châu Âu. Anh bảo: “Họ không thể tin với cách làm ‘made in Vietnam’, chúng ta có thể đưa công trình về đích đúng thời hạn. Nhưng thực tế, Fansipan khi ấy vừa là một công trường, lại vừa là một trường học nơi hàng loạt sáng kiến của người Việt Nam ra đời và chứng minh được sự đúng đắn”.

Điển hình nhất như kết cấu thép, sau khi nghiên cứu điều kiện thời tiết đặc thù, tổ cơ khí đã đề xuất phải dùng loại thép có thể chịu nhiệt độ -20 độ C. Đối với bê tông, các kỹ sư người Việt cũng phải tìm hiểu để bổ sung thêm các chất phụ gia để đẩy nhanh quá trình đông kết cũng như khả năng chịu nhiệt độ thấp trong điều kiện đặc biệt của Fansipan.

“Chúng tôi phải tự tìm hiểu và đề xuất nhập khẩu các nguyên vật liệu cực kỳ đặc biệt và tốn kém này từ Châu Âu để đảm bảo chất lượng công trình có thể trường tồn với thời gian. Đây cũng là nơi duy nhất tại Việt Nam sử dụng loại thép và bê tông này”, Nguyễn Văn Mùi cho biết.

Sáng tạo kiểu Fansipan không chỉ nằm ở những khối công trình kỳ vĩ. Trịnh Văn Hà – cựu kỹ sư trắc đạc kể lại: “Trời lạnh, ẩm ướt, ủng cứng nước thấm vào bên trong và một “phát minh” đã ra đời. Chúng tôi truyền tai nhau dùng băng vệ sinh phụ nữ để lót ủng, hiệu quả ngay tức khắc, chân khô và ấm hơn, những bước đi thanh thoát hơn. Nhưng khổ nhất là lúc đi mua cái thứ chỉ dành cho phụ nữ ấy, người thông cảm thì nói ‘thương vợ thế’, kẻ ác ý nhìn từ đầu đến chân rồi nhạo ‘đồ bệnh hoạn’. Chúng tôi chỉ biết cười trừ.”

Hơn 5 năm sau, khi ngồi lại với nhau, những gã điên ngày nào vẫn thường kể cho nhau những thứ… bất bình thường ấy và cười xòa.

“Đến tận bây giờ, chúng tôi vẫn chưa hiểu động lực nào khiến chúng tôi vượt qua được tất cả những khó khăn và thách thức ấy. Có thể đơn giản chỉ vì muốn khẳng định người Việt Nam chúng ta có thể làm được những công trình kỳ vĩ nhất. Hoặc, mong muốn mọi người đều có thể chinh phục được Fansipan theo cách thuận tiện nhất chăng?” Nguyễn Văn Mùi nói.

Nằm trên độ cao 3.143m, hệ thống điện trên đỉnh Fansipan là tổ hợp điện lưới cao nhất Việt Nam. Không chỉ đưa ánh sáng – biểu tượng vĩnh hằng của văn minh lên nóc nhà Đông Dương, công trình kỷ lục ấy còn thể hiện ý chí và nghị lực phi thường của những người thực hiện.Toàn cảnh Fansipan

Chương III: Kỳ tích kéo điện lên nóc nhà Đông Dương

Nằm trên độ cao 3.143m, hệ thống điện trên đỉnh Fansipan là tổ hợp điện lưới cao nhất Việt Nam. Không chỉ đưa ánh sáng – biểu tượng vĩnh hằng của văn minh lên nóc nhà Đông Dương, công trình kỷ lục ấy còn thể hiện ý chí và nghị lực phi thường của những người thực hiện.

Nhiệm vụ bất khả thi

Trần Đình Luật là người Lào Cai gốc. Năm 2015, sau một thời gian làm điện cho một khách sạn quốc tế, Luật đầu quân về Công ty Cổ phần dịch vụ du lịch cáp treo Fansipan. Đúng giai đoạn này, nhiệm vụ “bất khả thi”: Xây dựng đường dây 35kV từ chân núi lên đỉnh cũng bắt đầu.

Nhiệm vụ đầu tiên dành cho Luật là đi khảo sát tuyến. Sáng hôm ấy, cậu cùng đồng nghiệp để xe lại bìa rừng rồi hướng về phía 3.143m leo lên.

“Ban đầu, tôi nghĩ đi khảo sát như bình thường, nhiều thì vài tiếng rồi sẽ quay ra. Ai ngờ, càng đi càng thấy hun hút”, Luật nhớ lại.

Chỉ sau chừng 1 giờ, cậu bị rớt lại do không đủ sức bắt kịp cả đoàn. Đến tận đêm, Luật mới bò được tới điểm nghỉ, mình mẩy ê ẩm, rã rời.

“Ngay hôm sau về, tôi đã viết đơn xin nghỉ việc. Mình đang làm ở đồng bằng quen, cứ nhìn thấy đồi núi trùng điệp thấy như đi bộ đội là chỉ chực… nản. Làm điện mà cực như thế này thì sao chịu được”. Và trong suy nghĩ của cậu, kéo điện lên Fansipan thực sự là một chuyện hoang đường, đến nằm mơ cũng khó thành hiện thực. Nhưng rồi được các anh trong nhóm động viên, đúng hơn là… chạm vào tự ái của Luật, Luật quyết định ở lại.

“Các anh ấy từ Đà Nẵng ra Lào Cai thì chẳng kêu, còn trách vốn một câu “Em ở đây mà em bỏ thì em đi tới đâu cũng không thành công”. Tôi suy nghĩ nhiều lắm, lại là người địa phương, chẳng lẽ lại bỏ cuộc?! Thế là quyết định ở lại”, Luật kể.

Không chỉ Luật không tin, ngay cả người dạn dày kinh nghiệm như chỉ huy trưởng tổ điện Đặng Ngọc Hồng cũng phải có cảm giác gai người khi mường tượng đến những chông gai phía trước. Từng kéo điện cho 2 tuyến cáp lớn tại Bà Nà, ngày đầu tiên tới Fansipan, anh thừa nhận mình thấy “mịt mù, chưa biết đâu với đâu.”

“Nhìn lên đỉnh núi chỉ thấy màu xanh – màu đen lẫn lộn. Nghĩ đến việc đi bộ lên tận độ cao 3.143m để thi công tôi cũng bị sốc và choáng”.

“Nhìn lên đỉnh núi chỉ thấy màu xanh – màu đen lẫn lộn. Nghĩ đến việc đi bộ lên tận độ cao 3.143m để thi công tôi cũng bị sốc và choáng”.

Mịt mù và bất khả thi là thế nhưng để đảm bảo sự thành công của toàn dự án, việc kéo điện là nhiệm vụ bắt buộc. Những chuyến khảo sát vẫn nối tiếp nhau. Dựa trên thực tế địa hình, tuyến 35KV được định vị bám sát đường phượt chạy từ Trạm Tôn lên phía đỉnh. Phương án này giúp đảm bảo thuận tiện khi vận chuyển nguyên vật liệu, đồng thời cũng hạn chế tối đa việc ảnh hưởng tới cây rừng – theo đúng chủ trương xuyên suốt toàn dự án.

Chỉ huy trưởng Đặng Ngọc HồngChỉ huy trưởng Đặng Ngọc Hồng

Định tuyến xong, việc thi công các trụ điện cũng bắt đầu. Từ Trạm Tôn, trong vài tháng tiếp theo, hàng trăm công nhân mang theo cuốc, xẻng vào rừng. Cùng lúc, từng tốp đồng bào người Mông, Dao, Thái… cũng được thuê vận chuyển vật liệu bằng gùi. Chỉ huy trưởng Đặng Ngọc Hồng khẽ trầm ngâm, miệng lẩm nhẩm đếm. Có thời điểm, chỉ riêng đội porter cõng thiết bị đã lên tới 400-500 người. Bằng phương thức thô sơ ấy, tổng cộng hơn 15.000 tấn vật liệu đã có mặt tại các vị trí thi công.

Vận chuyển đã khó khăn, việc thi công lại càng gian nan gấp bội phần. Một móng cột rộng trung bình 5-6m2, sâu 4m “như một căn phòng nhỏ”. Toàn bộ quá trình đào hoàn toàn bằng cuốc, xẻng. Bên cạnh đó, do thời điểm tiến hành dựng cột lại vào mùa khô nên nước cực kỳ khan hiếm. Anh em công nhân buộc phải đi sâu hơn vào trong lõi rừng, tìm kiếm khe suối, hứng từng can nước về để đổ bê tông và sinh hoạt.

Tháng 11/2015, 33 cột điện đã dựng nên dọc đường mòn, giúp củng cố hơn niềm tin vào sự thành công của con đường ánh sáng trong một ngày không xa.

Đổ máu để thắp sáng nóc nhà Đông Dương

Đổ máu để thắp sáng nóc nhà Đông Dương

Kí ức 11 tháng ngủ lán ngoài trời, đu dây xuống vực, kéo dây cheo leo trên địa hình hiểm trở.. là quãng thời gian khó quên của các anh em trong nhóm thi công… Mỏi chân, đau ê ẩm người, chảy máu mũi vì không khí thay đổi, da khô khốc hay vỡ mạch máu – đó là những chuyện bình thường mà đội quân cõng điện lên núi phải đối mặt hàng ngày.

Cực nhất phải kể tới giai đoạn kéo dây. Ban đầu, “lính điện lực Fansipan”  rải những sợi thừng có đường kính 8mm loại nhẹ dọc từ cột này sang cột khác để làm dây mồi. Sau khi đã căng được lên trụ thì mới đưa dây 35kV lớn hơn buộc vào để kéo lên cho nhẹ.

“Nghe thì đơn giản thế, nhưng yêu cầu bắt buộc là dây điện phải đi trên tán cây để giữ rừng. Đây là giai đoạn khó khăn nhất khi chúng tôi liên tục phải vượt qua những thung lũng, trèo cây như Tazan”, tổ trưởng Đặng Ngọc Hồng nói.

Đó là vào giai đoạn trước khi cáp treo chính thức vận hành, trời bất ngờ có mưa tuyết. Đường dây 35kV bị đứt. Nhà thầu chỉ nhận khắc phục ở những điểm dễ. Còn khu vực giữa hai cột 14 và 15, tổ điện của Luật được giao làm.

Sờ tay vào vết sẹo vẫn còn rõ nét trên trán, Trần Đình Luật cười bảo: Để kéo được điện lên đỉnh như bây giờ, anh đã để một phần máu của mình ở lại.

Đó là vào giai đoạn trước khi cáp treo chính thức vận hành, trời bất ngờ có mưa tuyết. Đường dây 35kV bị đứt. Nhà thầu chỉ nhận khắc phục ở những điểm dễ. Còn khu vực giữa hai cột 14 và 15, tổ điện của Luật được giao làm.

“Đây là đoạn phức tạp nhất toàn tuyến khi giữa hai cột là khe sâu hơn 100m địa hình chủ yếu là vách đá. Khi cả đội đã nối thành công dây, chỉ cần néo nốt sợi cuối để về thì trời lại có sương mù rất dày. Ở trên cột, tôi nói anh em ở dưới trùng dây để đấu nối nhưng do gió và sương mù nên nhóm hỗ trợ nghe nhầm thành thả dây”, Luật kể.

Sợi cáp thép không có người giữ ngay lập tức bật ngược lên, quét qua trán khiến Luật ngã ngửa, treo lơ lửng giữa cột điện cao cả chục mét. Cậu trai trẻ người Lào Cai lịm dần đi, máu chảy đầm đìa bất chấp phần đầu đã được garo bằng sợi dây thường buộc ngang.

“Mọi người phải lấy cây rừng khiêng tôi về. Có đoạn dốc quá, tôi bị kéo lê trên đất. Phải 3 tiếng sau mới ra tới Trạm Tôn. Lúc này tôi đã mê man. Anh em phải tát thật mạnh thì tôi mới tỉnh lại được”, Luật rùng mình.

Sự cố ngày ấy “tặng lại” cho Luật vết sẹo chạy chéo phía trái trán và gần chục vết khâu ở tay và chân. Nhưng với Luật, đó như một minh chứng sinh động cho quãng thời gian cậu gọi là đáng nhớ và ý nghĩa nhất trong cuộc đời.

Đúng ngày 2/9/2015, sau 11 tháng gian khổ, dòng điện 35KV đã chính thức thắp sáng trên nóc nhà Đông Dương. Có điện rồi. Hành trình hoang đường đã tới đích rồi. Từ nay, đỉnh Fansipan cuối cùng cũng đã có ánh đèn – thử biểu tượng vĩnh hằng của văn minh và sự khai mở.

Kéo cáp – Khi chuyên gia nước ngoài ngả mũ trước Việt Nam

 

Chương IV: Kéo cáp – Khi chuyên gia nước ngoài ngả mũ trước Việt Nam

Đánh giá riêng về quá trình kéo cáp Fansipan, các chuyên gia của Doppelmayr Garaventa – Đơn vị thi công cáp số 1 thế giới đã từng phải thừa nhận: Đây là một trong những dự án khó nhất trong cuộc đời mà họ từng gặp.

Sự khốc liệt của núi rừng Hoàng Liên đã phá vỡ mọi tính toán thông thường của Garaventa. Và đây cũng chính là lý do khiến cho việc thi công “cây cầu” nối tới nóc nhà Đông Dương trở nên… dị thường không giống bất kỳ một công trình tương tự nào trước đó.

Thử thách cực đại của Doppelmayr Garaventa

Doppelmayr Garaventa là một tập đoàn nổi tiếng với những cáp treo lớn bậc nhất toàn cầu. Sau cú “bắt tay” thực hiện công trình kỷ lục tại Bà Nà, các chuyên gia từ Áo và Thụy Sỹ tiếp tục lên đường tới Sa Pa. Reto Sigrist là một trong số đó. Reto tin tưởng: Với kinh nghiệm vốn có cùng công nghệ hàng đầu thế giới, Fansipan sẽ là đỉnh cao tiếp theo được chinh phục.

các chuyên gia từ Áo và Thụy Sỹ tiếp tục lên đường tới Sa Pa. Reto Sigrist là một trong số đó. Reto tin tưởng: Với kinh nghiệm vốn có cùng công nghệ hàng đầu thế giới, Fansipan sẽ là đỉnh cao tiếp theo được chinh phục.

Thế nhưng, sự khốc liệt của Hoàng Liên Sơn đã phá vỡ mọi tính toán thông thường của vị chuyên gia này.

Tháng 7/2014, thời điểm Reto có mặt tại Lào Cai, sau 8 tháng khởi công, tiến độ thực hiện các hạng mục vẫn rất chậm. Lúc này, sức người không thể đảm bảo hoàn thành khối lượng công việc khổng lồ, nhất là việc dựng các cột trụ cao tới hàng chục mét. Vấn đề sống còn là bằng mọi cách phải thiết lập được tuyến cáp công vụ chạy dọc tuyến để có thể đưa máy móc, bê tông và kết cấu thép vào các vị trí chờ.

Từ Áo và Thụy Sỹ, nhóm chuyên gia Doppelmayr Garaventa bay thẳng sang Việt Nam, mang theo kinh nghiệm gần 100 năm chuẩn bị sẵn sàng các phương án tối tân nhất. Theo lẽ thường, Reto và cộng sự đề xuất kéo cáp bằng trực thăng hoặc khinh khí cầu.  Thậm chí, đã có thời điểm, Tập đoàn từ Áo và Thụy Sỹ sử dụng 1 máy bay không người lái 8 cánh cỡ lớn trị giá hơn 1 tỷ đồng để thử kéo cáp.

Nhưng, không loại phương tiện tối tân nào trong số ấy chịu được sức gió quẩn từ dãy Ô Quy Hồ tạt ngược sang Hoàng Liên Sơn. Fly mất tích chỉ sau chừng 10 phút bay.

Thất bại, Garaventa tiếp tục đưa ra cách vạt rừng, kê gỗ để dựng trụ kéo cáp mồi.

“Chủ trương nhất quán của chúng tôi là giảm thiểu sự tác động vào thiên nhiên. Do đó, phương án này cũng phải gạt bỏ. Cách duy nhất vẫn phải tận dụng sức người, kéo cáp thủ công dọc tuyến”, Đỗ Minh Giang, cựu kỹ sư phụ trách cáp công vụ nhớ lại.

sức người không thể đảm bảo hoàn thành khối lượng công việc khổng lồ, nhất là việc dựng các cột trụ cao tới hàng chục mét. Vấn đề sống còn là bằng mọi cách phải thiết lập được tuyến cáp công vụ chạy dọc tuyến để có thể đưa máy móc, bê tông và kết cấu thép vào các vị trí chờ.

Một đợt cao điểm nữa ngay lập tức được mở ra. Những công nhân “kiến thợ của rừng Fan” thêm một lần “cõng sắt, vác cáp” vào rừng. Đầu tiên, họ phải chia các cấu kiện sắt thép dựng trụ công vụ thành từng phần nhỏ rồi gùi vào các điểm chỉ định. Những thanh sắt có khi nặng tới 100kg làm chai sần vai người thợ. Máy tời, dầu máy… cũng lần lượt theo cách ấy sẵn sàng. Chỉ một thời gian sau, những cột trụ công vụ đã được dựng nên.

Tiếp đó là tới giai đoạn rải, kéo cáp mồi. Lúc này, một nhóm công nhân sẽ vác bộ theo các sợ cáp có đường kính 6mm trải ra từng đoạn trước khi đấu nối với nhau thành một đường dài. Sau đó, cáp sẽ được đưa lên trụ công vụ rồi sử dụng máy tời nhỏ để kéo dần.

Tiếp đó là tới giai đoạn rải, kéo cáp mồi. Lúc này, một nhóm công nhân sẽ vác bộ theo các sợ cáp có đường kính 6mm trải ra từng đoạn trước khi đấu nối với nhau thành một đường dài. Sau đó, cáp sẽ được đưa lên trụ công vụ rồi sử dụng máy tời nhỏ để kéo dần.

“Không được chặt cây, chúng tôi đã sử dụng phương pháp kéo cáp nổi trên mặt rừng. Anh em cứ rải dây mồi, tới khi gặp cây cao thì trèo lên vắt qua ngọn”, Giang giải thích thêm.

Địa hình hiểm trở khiến cho hành trình dựng nên tuyến cáp đầu tiên của Fansipan trở nên khó khăn và nguy hiểm hơn bao giờ hết. Có những đoạn gặp vực sâu tới cả trăm mét, Giang và đồng nghiệp buộc phải thuê người Mông bản địa đóng các thang gỗ để xuống đáy.

Địa hình hiểm trở khiến cho hành trình dựng nên tuyến cáp đầu tiên của Fansipan trở nên khó khăn và nguy hiểm hơn bao giờ hết. Có những đoạn gặp vực sâu tới cả trăm mét, Giang và đồng nghiệp buộc phải thuê người Mông bản địa đóng các thang gỗ để xuống đáy.

di chuyển bằng cáp công vụDi chuyển bằng cáp công vụ

Cáp mồi được đấu nối thành công sẽ làm nhiệm vụ “cõng” các sợi cáp tiếp theo với đường kính 12, 18 rồi 42mm nhờ hệ thống module tại các trụ công vụ.

Chứng kiến cách làm “thô sơ” này, Reto đã phải thốt lên:  “Không quốc gia nào có cách làm như ở đây cả.” Thậm chí, các đồng nghiệp của Reto còn dự báo: Nếu cứ thực hiện một cách thủ công chỉ bằng cuốc, xẻng, xà beng… thì sẽ phải mất tới 5 năm, công trình mới có… cơ may vận hành.

Chứng kiến cách làm “thô sơ” này, Reto đã phải thốt lên: “Không quốc gia nào có cách làm như ở đây cả.” Thậm chí, các đồng nghiệp của Reto còn dự báo: Nếu cứ thực hiện một cách thủ công chỉ bằng cuốc, xẻng, xà beng… thì sẽ phải mất tới 5 năm, công trình mới có… cơ may vận hành.

Trái ngược với sự bi quan này, chỉ tới tháng 1/2015, thuần túy nhờ vào sức người, tuyến cáp công vụ (LCS) chính thức được vận hành, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của cả đại công trình trên núi Hoàng Liên.

Trái ngược với sự bi quan này, chỉ tới tháng 1/2015, thuần túy nhờ vào sức người, tuyến cáp công vụ (LCS) chính thức được vận hành, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của cả đại công trình trên núi Hoàng Liên.

Hiện thực hóa giấc mơ

Sau cú hích mang tên LCS, tiến độ công trình hóa thần tốc. Máy phát điện công suất lớn, vật tư, vật liệu, thực phẩm, thiết bị kết nối đường truyền internet… được chuyển lên. Chỉ mất thêm 3 tháng, 4 trụ thép chính T1 đến T4 đã ngạo nghễ vươn cao trên tán rừng Hoàng Liên. Giấc mơ “bay lên đỉnh Fansipan” cuối cùng cũng chỉ còn cách một gang tấc.

Sôi nổi nhớ lại, Nguyễn Xuân Hậu – phiên dịch viên cũng là nhân chứng của giai đoạn nước rút kể lại: Nhìn 4 cột trụ sừng sững, cả chuyên gia nước ngoài lẫn anh em người Việt đều… sôi sục.

Sôi nổi nhớ lại, Nguyễn Xuân Hậu – phiên dịch viên cũng là nhân chứng của giai đoạn nước rút kể lại: Nhìn 4 cột trụ sừng sững, cả chuyên gia nước ngoài lẫn anh em người Việt đều… sôi sục. Phải kéo cáp chính bằng mọi giá là mệnh lệnh chung của tất cả mọi người. Hàng ngàn công nhân tiếp tục được huy động để dựng thêm 12 trụ tạm sát ngay chân các T để phụ trợ. LCS lúc này nhận nhiệm vụ vinh quang dẫn theo sợi cáo mồi ro ro chạy về đỉnh. Kinh nghiệm từ lần kéo cáp công vụ đến đây phát huy tối đa hiệu quả. Vượt qua núi cao, vực sâu, ngày 2/7/2015, sợi cáp mồi đầu tiên đã được đặt đúng vị trí – hiên ngang vắt từ nhà ga đi qua 4 trụ chính trước khi nối thẳng vào ga đến trên độ cao 3.143m.

Sau cú hích mang tên LCS, tiến độ công trình hóa thần tốc. Máy phát điện công suất lớn, vật tư, vật liệu, thực phẩm, thiết bị kết nối đường truyền internet... được chuyển lên. Chỉ mất thêm 3 tháng, 4 trụ thép chính T1 đến T4 đã ngạo nghễ vươn cao trên tán rừng Hoàng Liên. Giấc mơ “bay lên đỉnh Fansipan” cuối cùng cũng chỉ còn cách một gang tấc.

Trải qua thêm 5 lần mồi, cuối cùng giờ phút kéo cáp chính nặng tới 135 tấn cũng chính thức được bắt đầu. 8 máy tời công suất lớn tại 2 nhà ga được huy động. Phía trên, sợ cáp to ì ạch chạy. Phía dưới, một tổ đội gồm chuyên gia từ Doppermayr Garaventa và giám sát người Việt cũng đi bộ bám sát từng ly, phòng sai sót và sự cố.

Do yêu cầu kỹ thuật đối với cáp chính rất nghiêm ngặt, nên tổ giám sát phải đảm bảo cáp không được trùng tới mức có thể chạm đất, chạm điện; đồng thời cũng phải giữ cho dây không căng, tránh trường hợp đổ trụ đỡ hoặc đứt cáp.

“Nhiệm vụ của cả nhóm rất nặng nề vì phải liên tục quan sát và cảnh báo cho người vận hành nếu phát hiện sự cố. Cảm giác sự thành bại của cả dự án đè nặng lên vai mình trong suốt gần 2 tháng đuổi theo cáp chính vậy”, Hậu nhớ lại.

Cũng trong một lần làm nhiệm vụ như thế, Hậu đã “suýt chết”. Kể lại về kỷ niệm này, anh vẫn còn run: Bữa đó, Hậu cùng chuyên gia đi từ T1 theo sợi cáp 12 li tới gần trụ T2. Đường đi mỗi lúc một khó, có đoạn chỉ còn đủ cho một người đặt chân. Tới điểm cách trụ chính chừng 500m thì vách núi đã bắt đầu hun hút. Tay cầm bộ đàm, mắt Hậu vẫn bám sát đường cáp đi. Đột ngột, Hậu thấy chới với. Chỉ vài giây sau, cậu trai trẻ biết mình đang bị trượt xuống vực sâu hun hút phía dưới.

Do yêu cầu kỹ thuật đối với cáp chính rất nghiêm ngặt, nên tổ giám sát phải đảm bảo cáp không được trùng tới mức có thể chạm đất, chạm điện; đồng thời cũng phải giữ cho dây không căng, tránh trường hợp đổ trụ đỡ hoặc đứt cáp.

“Lúc ấy, tôi chẳng thể nghĩ được gì nhiều, chỉ kịp nhớ lời anh em dặn nên giơ tay ra hai bên để xem bám vào được cái gì thì bám lại.”

Trượt thêm được chừng 12,13m, khi đôi tay Hậu đã bỏng rát và tê dần thì bất ngờ lại “quờ” trúng sợi dây leo bò ngang vách vực. Cả người cậu bị giật mạnh rồi khựng lại. Đá vẫn roàn roạt lăn lăn xuống phía dưới.

Reto Sigrist cũng có một kỷ niệm “nhớ đời” với Fansipan, đủ để anh thấm thía sự khó khăn cực độ của lần thi công tại Việt Nam. Trong quá trình “bắt dấu” cáp, Reto đã bị trượt ngã và phải khâu 6 mũi tại đùi trái.

Với sự nỗ lực tối đa của tất cả, giữa tháng 12/2015, sợi cáp cuối cùng cũng cán đích, chính thức thiết lập thành công cáp 3 dây đầu tiên của Việt Nam nói riêng và toàn Châu Á nói chung.

“Khi sợi cáp cuối cùng vào vị trí, cả người Việt lẫn các bạn Tây đều ôm chầm lấy nhau hò hét. Chúng tôi đều cảm thấy mình đã thực hiện được một điều thật vĩ đại”, Hậu nói.


Khi được hỏi: Các chuyên gia của Doppelmayr Garaventa khẳng định: Cáp treo Fansipan là công trình khổng lồ, quá khó khăn vất vả. Có rất nhiều đồng nghiệp của tôi sau khi hoàn thành kéo cáp đã phải thốt lên rằng, họ sẽ không nhận thêm những công trình như vậy nữa


 

Fansipan – hành trình của kỳ tích

Tháng 5/2021.

Cabin bắt đầu rì rì chạy qua trụ T2. Trịnh Văn Hà bỗng đứng hẳn dậy, mắt đăm đắm nhìn về dãy lán đang thấp thoáng dưới nương thảo quả xanh rì phía chân trụ.

  • Em có nhớ chỗ kia không? Là cái lán mà anh em mình hồi đi định tuyến từng ngủ lại. Dân tộc ra còn hô giá cả đoàn 500.000 đồng đó.
  • Còn chỗ này là điểm mà anh với Hằng lạc đường. Đi quanh quẩn mãi vẫn về chỗ cũ nữa này.

Trong phút chốc, cabin rộn lên. Những ký ức về 800 ngày đêm ăn núi, ngủ rừng, thở sương, hít giá… ùa về, khiến tất cả những thành viên xôn xao.

Tháng 5/2021, sau rất nhiều xa cách, hơn 20 “lĩnh cũ Fansipan” lại mới có dịp hội tụ về nơi đã ghi dấu thanh xuân của họ. Có rất nhiều điều đã đổi thay, nhưng những dấu tích cũ vẫn còn hằn in trên từng trảng rừng thâm u phía dưới đường cáp chạy.

Xét trên góc nhìn vĩ mô hơn: Cáp treo Fansipan nói riêng và tổ hợp du lịch nghỉ dưỡng của Sun Group nói chung đã đóng góp lớn cho du lịch Sa Pa, làm thay đổi chất lượng, dịch vụ du lịch. Ông Vương Trinh Quốc, Chủ tịch UBND thị xã Sa Pa khẳng định: “Từ sau năm 2016, du lịch Sa Pa tăng trưởng bình quân 20-30% mỗi năm. Cứ 10 người, khoảng 7 người đi cáp treo Fansipan”..

Chỉ trong vòng 3 năm từ sau khi cáp treo Sa Pa ra đời, tổng thu từ du lịch của huyện tăng gần 3 lần, đạt mức 4.000 tỷ đồng vào năm 2018. Để so sánh, thì con số đó gấp 10 lần năm 2010.

Còn riêng với những Trịnh Văn Hà, Nguyễn Khắc Hằng, Trần Vinh… dù đã rời xa công trình thế kỷ mang tên cũng như hàng trăm kỹ sư, công nhân khác không ai bảo ai đều mang trong mình một phần “hồn cáp”. Cáp trở thành máu thịt, gắn chặt với cuộc đời của mỗi người. Những năm tháng khó khăn và khốc liệt ngày nào lại đã ăn sâu vào máu thịt họ, trở thành một thứ hồn cốt, một sợi dây nối những con người, số phận từ khắp nơi lại thành một mối.

“Nhìn lại những gì đã qua, tôi mới thấy sức hút của công trình cáp treo này. Nó cũng kéo theo những kỷ lục âm thầm. Với riêng chúng tôi, khi đứng giữa ranh giới của sự sống và cái chết, tất cả cũng đã cùng nhau tạo nên một hành trình kỳ tích..”.

 

 

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây