Giới thiệu khái quát huyện Trà Bồng

huyện Trà Bồng - Tỉnh Quảng Ngãi

Giới thiệu khái quát huyện Trà Bồng

Trà Bồng là huyện miền núi địa đầu phía Bắc của tỉnh Quảng Ngãi, có huyện lỵ là thị trấn Trà Xuân, cách trung tâm tỉnh Quảng Ngãi 40 km về phía Tây Bắc.

TRÀ BỒNG là huyện miền núi nằm ở tây bắc tỉnh Quảng Ngãi. Phía đông giáp hai huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh; phía tây giáp huyệnTây Trà; phía nam giáp huyện Sơn Hà; phía bắc giáp huyện Trà My và huyện Núi Thành (tỉnh Quảng Nam). Diện tích 419,3km2. Dân số 32.127 người (năm 2014). Mật độ dân số khoảng 77 người/km2. Đơn vị hành chínhh trực thuộc gồm 9 xã (Trà Phú, Trà Bình, Trà Giang, Trà Thuỷ, Trà Hiệp, Trà Tân, Trà Bùi, Trà Sơn, Trà Lâm), 1 thị trấn (Trà Xuân, huyện lị), với 44 thôn; trong đó:

Thị trấn Trà Xuân có 3 thôn: Xuân Tây, Xuân Trung, Xuân Đông (đều lấy chữ Xuân làm đầu), sau đổi là tổ dân phố số 1, tổ dân phố số 2, tổ dân phố số 3;

Xã Trà Phú có 4 thôn: Phú Hòa, Phú An, Phú Long, Phú Tân (đều lấy chữ Phú làm đầu);

Xã Trà Bình có 4 thôn: Bình Thanh, Bình Tân, Bình Trung, Bình Đông (đều lấy chữ Bình làm đầu);

Xã Trà Giang có 3 thôn: thôn 1 Trà Mít (Trà Công), thôn 2 Trà Ngang (Trà Giăng), thôn 3 (Trà Nhỉ);

Xã Trà Thuỷ có 6 thôn, tên gọi theo thứ tự từ thôn 1 đến thôn 6;

Xã Trà Hiệp có 4 thôn: thôn Cả, thôn Cưa, thôn Nguyên, thôn Bằng;

Xã Trà Tân có 4 thôn: Tà Ót, Tà Ngon, Trường Biện, Trường Giang;

Xã Trà Bùi có 5 thôn: thôn Quế, thôn Tang, thôn Tây, thôn Gò, thôn Niêu;

Xã Trà Sơn có 7 thôn: Sơn Bàn, Sơn Thành, thôn Đông, thôn Bắc, thôn Trung, Cà Tinh, thôn Tây;

Xã Trà Lâm có 4 thôn: Trà Xanh, Trà Khương, Trà Hoa, Trà Lạc (đều lấy chữ Trà làm đầu).

Từ tỉnh lỵ Quảng Ngãi đến thị trấn Trà Xuân 55km, trong đó có 24km Quốc lộ 1 và 21km đường Quốc lộ 24c.

Trà Bồng là địa bàn cư trú lâu đời của dân tộc Kor với cây quế nổi tiếng, với vùng đông là các xã người Kinh chuyên làm lúa nước. Nơi đây từng nổ ra cuộc Khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi (28.8.1959). Trà Bồng chủ yếu phát triển nông, lâm nghiệp, công – thương nghiệp phát triển chủ yếu ở các xã vùng thấp trong huyện.

Về hành chính, Trà Bồng xưa là một trong bốn nguồn (nguyên) của tỉnh Quảng Ngãi, thường được gọi là nguồn Đà Bồng, sau đổi là nguồn Thanh Bồng, rồi đồn Trà Bồng, châu Trà Bồng, có 3 tổng, 34 sách (làng).

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, châu Trà Bồng đổi là huyện Trà Bồng, các sách cũ nhập thành các xã mới, các làng tây Bình Sơn nhập vào huyện Trà Bồng, hình thành 13 xã: Trà Khê, Trà Phong, Trà Quân, Trà Lâm, Trà Giang, Trà Thanh, Trà Lãnh, Trà Nham, Trà Thuỷ, Trà Sơn, Trà Xuân, Trà Phú, Trà Bình; đại để tên các xã không khác mấy với các xã, thị trấn ở hai huyện Trà Bồng, Tây Trà ngày nay. Đến năm 1951, 3 xã Trà Xuân, Trà Phú, Trà Bình (nguyên là các làng Xuân Khương, Đông Phú, Vinh Hòa thời Pháp thuộc) cắt giao về cho huyện Bình Sơn, thành 1 xã là xã Bình Lâm.

Từ sau 1954, chính quyền Sài Gòn tiếp quản, đến giữa năm 1958, đổi huyện Trà Bồng thành quận Trà Bồng, đổi tên xã cũ thành tên xã mới (cũng lấy chữ Trà làm đầu): xã Trà Xuân đổi thành Trà Khương; xã Trà Giang đổi thành Trà Nhỉ; xã Trà Thuỷ đổi thành Trà Bắc; xã Trà Sơn đổi thành Trà Lang; xã Trà Thanh đổi thành Trà Đoài; xã Trà Lâm đổi thành Trà Binh; xã Trà Lãnh đổi thành Trà Trung; xã Trà Nham đổi thành Trà Thượng; xã Trà Quân đổi thành Trà Hương; xã Trà Khê đổi thành Trà Hoa; xã Trà Phong đổi thành Trà Thạnh. Quận lỵ đặt ở xã Trà Khương (Trà Xuân).

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lực lượng kháng chiến quyết định cắt các xã phía nam Cà Đam của huyện Sơn Hà có dân tộc Kor sinh sống là các xã Sơn Thọ, Sơn Hiệp, Sơn Bùi, Sơn Tân nhập vào Trà Bồng, đổi thành các xã Trà Thọ, Trà Hiệp, Trà Bùi, Trà Tân. Có thời, các xã đông bắc được cắt thành khu I, các xã quanh núi Cà Đam được tách lập thành khu II, các xã phía tây huyện cắt lập thành khu IX, trực thuộc vùng căn cứ địa của Tỉnh uỷ.

Sau năm 1975, sau nhiều lần tách nhập các xã, đến cuối năm 2003, Trà Bồng có 19 xã thị trấn: Trà Thanh, Trà Khê, Trà Quân, Trà Phong, Trà Thọ, Trà Hiệp, Trà Lâm, Trà Lãnh, Trà Thuỷ, Trà Sơn, Trà Nham, Trà Bùi, Trà Giang, Trà Phú, Trà Bình, Trà Tân, Trà Trung, Trà Xinh và thị trấn Trà Xuân.

Cuối năm 2003, 9 xã phía tây huyện được tách lập thành huyện mới Tây Trà. Trà Bồng còn 10 xã, thị trấn (như đã kể trên).

Về tự nhiên, Trà Bồng là huyện miền núi, với diện tích đồi núi chiếm phần lớn đất đai trong huyện. Vùng đồng bằng nằm ở phía đông huyện, giáp giới với huyện Bình Sơn và phía hữu ngạn sông Trà Bồng, ở các xã Trà Bình, Trà Phú và thị trấn Trà Xuân. Địa hình Trà Bồng khá phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi các khối núi và sông suối chằng chịt trong các thung lũng nhỏ hẹp. Núi ở đây có độ dốc rất lớn.

Núi đồi bao bọc khắp nơi trong huyện, như núi Cà Đam, núi Răng Cưa, núi Chớp Vung, núi Cà Đú… Hệ thống sông suối gồm sông Trà Bồng, sông Giang, sông Trà Bói, suối Cà Đú, suối Trà Cân, suối Nun. Đất bằng và thung lũng ở Trà Bồng rất ít ỏi, nhỏ hẹp. Rừng núi Trà Bồng có nhiều lâm thổ sản, đất đai thích hợp với cây quế. Phía đông Trà Bồng có suối khoáng Thạch Bích đang được khai thác dùng trong công nghiệp nước uống.

Khí hậu Trà Bồng nắng lắm mưa nhiều, lượng mưa ở đây thuộc hạng cao nhất trong nước, gây ra nhiều hạn hán, lũ lụt, độ ẩm cũng khá cao.

Trong lời truyền của dân và trong các truyện cổ đều thể hiện những ký ức kinh hoàng về các trận lũ, nhất là trận lũ 1964. Tình trạng lở đất xảy ra ở một số nơi, hiện tượng nứt núi cũng xuất hiện, như tại thôn Đông xã Trà Sơn.

Tình trạng sử dụng quỹ đất ở Trà Bồng năm 2014 như sau: 1) Đất nông nghiệp 8.094 ha; 2) Đất lâm nghiệp 25.703 ha; 3) Đất phi nông nghiệp 1.620 ha; 4) Đất chưa sử dụng 6.508 ha.

Về dân cư, cư dân ở Trà Bồng chủ yếu là người Kor, người Việt. Người Kor sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy, trồng quế, bắp, săn bắn, hái lượm, chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm. Xã hội Kor xưa kia ở vào thời kỳ tiền giai cấp, tính cố kết cộng đồng cao, sống hiền hòa, cần cù nhẫn nại, có nhiều giá trị văn hóa cổ truyền đặc sắc. Người Việt cư trú chủ yếu ở các xã Trà Phú, Trà Bình và thị trấn Trà Xuân phía đông huyện, ven trục lộ giao thông, chủ yếu làm ruộng nước và buôn bán, làm nghề thủ công, và có sự giao lưu với văn hóa Kor. Ngoài ra, còn có người Hrê chủ yếu sống ở xã Trà Tân. Người Kor, người Việtngười Hrê ở Trà Bồng có truyền thống đoàn kết, có sự giao lưu buôn bán lâu đời và có truyền thống yêu nước khá nổi bật.

Trong số dân hơn 32.264 người ở Trà Bồng có trên 14.115 người Kor, trên 17.643 người Việt, trên 396 người Hrê. Số người Việt đông nhất là ở thị trấn Trà Xuân (trên 7.504 người), kế đến là các xã Trà Bình, Trà Phú (toàn bộ số dân của 2 xã này). Người Kor sống đều khắp ở các xã còn lại.

Sự phân bố dân cư theo từng xã, thị trấn thời điểm 2014 như sau:
TT Xã, thị trấn Diện tích
(km2)
Dân số
(người)
Mật độ dân số (người/km2)
1 Trà Xuân 6,1 7.453 1.222
2 Trà Giang 36,50 459 13
3 Trà Thủy 75,6 2.946 39
4 Trà Hiệp 49,7 1.912 38
5 Trà Phú 15,7 4.343 277
6 Trà Tân 70,8 2.022 29
7 Trà Sơn 56,7 4.837 85
8 Trà Lâm 34,7 1.866 54
9 Trà Bình 22,2 4.843 218
10 Trà Bùi 51,4 1.447 28
  Toàn huyện 419,3 32.127 77

Thống kê trên cho thấy thị trấn Trà Xuân có số dân cao tuyệt đối và mật độ dân số cũng cao tuyệt đối, trong khi diện tích thấp tuyệt đối. Rộng nhất là xã Trà Thủy. Dân số và mật độ thấp tuyệt đối là xã Trà Giang. Các xã có người Việt sống tập trung là Trà Bình, Trà Phú, dân số và mật độ dân số cao hơn hẳn so với các xã khác.

Nổi bật trong truyền thống yêu nước của người Kor ở Trà Bồng là sự tham gia phong trào “Nước Xu đỏ” từ năm 1938 và tiếp tục chống Pháp cho đến Cách mạng tháng Tám 1945 thành công. Năm 1938, bốn già làng có uy tín nhất của dân tộc Kor là ông Gia, ông Chân, ông Phú, ông Tài đã kêu gọi nhân dân quanh vùng đứng lên chống thực dân Pháp bắt xâu, thu thuế. Họ chỉ huy bốn đội nghĩa quân trang bị vũ khí thô sơ kéo về tấn công châu lỵ Trà Bồng nhưng bị thất bại, nhiều người hy sinh. Dân các làng buộc phải quay về chịu xâu, thuế như cũ. Các thủ lĩnh, dẫn đầu là ông Gia, ông Tài, cùng dân của hàng chục làng kéo nhau lên Cà Đam, lên đầu nguồn sông Tang xây dựng căn cứ để chiến đấu lâu dài. Nghĩa quân đã gây cho Pháp nhiều thiệt hại, đã đánh trận Gò Rô nổi tiếng (tháng 1.1939). Năm 1942, nhân lúc giặc Pháp đưa quân lên đánh vùng cao, nghĩa quân lại kéo xuống tấn công châu lỵ Trà Bồng, nhưng lại bị thất bại. Pháp tăng cường đánh phá lên căn cứ và dụ dỗ, mua chuộc. Các thủ lĩnh và dân các làng cương quyết cố thủ trong căn cứ cho mãi đến tháng Tám 1945. Khi được biết Việt Minh đang lãnh đạo nhân dân giành chính quyền ở châu lỵ Trà Bồng, nghĩa quân kéo về tham gia. Ông Gia (lúc này đã 90 tuổi) được cử làm Chủ tịch Trà Bồng.

Các xã ở phía đông huyện thuộc địa bàn cư trú của người Việt, hình thành tổ chức cơ sở Đảng từ năm 1930 và liên tục đấu tranh góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trà Bồng trong kháng chiến chống Pháp là căn cứ địa vững chắc của cách mạng, giữ vững tự do và đóng góp sức người, sức của vào công cuộc đánh thắng quân Pháp xâm lược.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Trà Bồng là căn cứ địa đầu tiên của tỉnh Quảng Ngãi. Cũng tại Gò Rô, ngày 7.7.1958, Đại hội nhân dân 4 dân tộc: KorHrêCa Dong, Kinh thể hiện quyết tâm đánh Mỹ, được mệnh danh là đại hội “Diên Hồng” của nhân dân các dân tộc miền Tây Quảng Ngãi. Trà Bồng là nơi khởi phát cuộc Khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi 28.8.1959, một trong những cuộc đồng khởi nổi bật nhất ở miền Nam Việt Nam thời ấy. Sau cuộc khởi nghĩa, nhiều vùng nông thôn đã được giải phóng, các ủy ban tự quản xã ra đời. Nhân dân Trà Bồng đã bẻ gãy các cuộc phản kích, đánh phá của kẻ địch để giữ vững vùng giải phóng và đóng góp nhiều nhân tài vật lực cho cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Trà Bồng được giải phóng hoàn toàn ngày 18.3.1975.

Quân và dân Trà Bồng, quân và dân các xã Trà Sơn, Trà Tân, Trà Bùi, Trà Lâm, Trà Hiệp được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân. Có 12 bà mẹ được phong tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

         

Kinh tế Trà Bồng nhìn chung còn chậm phát triển. Hoạt động kinh tế của nhân dân Trà Bồng chủ yếu là nông, lâm nghiệp. Công, thương nghiệp và dịch vụ cũng dần dần phát triển theo thời gian. Năm 2014 sản lượng lương thực 7.172 tấn các hoạt động công, thương nghiệp, dịch vụ đã tăng lên 45% tổng giá trị. Tuy nhiên, tỉ lệ trên chưa phản ánh thật rõ sự phát triển, vì giá trị sản xuất nông nghiệp tương đối thấp, trong khi đa số dân vẫn sống bằng nông nghiệp. Tính ở thời điểm 2014, số dân sống bằng nông, lâm nghiệp là 27.028 người với 5.568 hộ và 13.389 lao động. Trong khi số dân sống bằng nghề khác là 2.551 người với 922 hộ và 2.928 lao động.

Về nông nghiệp, các tài liệu cổ cho thấy nông nghiệp ở Trà Bồng xưa cũng có một số điểm đáng chú ý. Tập Quảng Ngãi tỉnh chícủa Nguyễn Bá Trác và các tác giả in trên Nam phong tạp chí (1933) có ghi ở thời điểm ấy, Trà Bồng (gồm cả huyện Tây Trà ngày nay) có 1.282 mẫu ruộng (461,52ha), thu hoạch được 228 tấn lúa mỗi năm. Có thể hiểu số ruộng này phần lớn nằm ở vùng thấp của huyện và phần nhiều do người Việt canh tác. Ngoài ra, không thấy ghi chép về loại cây trồng khác. Về chăn nuôi, các tác giả Quảng Ngãi tỉnh chí ghi ở Trà Bồng có nuôi 88 con trâu, 20 con bò, 4 con ngựa, 871 con heo, 4.121 con gà, song các tác giả cũng nhấn mạnh các số liệu ấy cũng chỉ “phỏng chừng mà kê” nên độ chính xác chắc chắn không cao. Trải qua hai cuộc kháng chiến, nông nghiệp ở Trà Bồng chưa có điều kiện phát triển. Từ sau năm 1975, sản xuất nông nghiệp mới thực sự chuyển biến. Tính ở thời điểm 2014, giá trị sản xuất nông lâm và thủy sản ở Trà Bồng là 218,958 tỷ đồng, trong đó trồng trọt 127.398 tỷ đồng, chăn nuôi 22,189 tỷ đồng, các dịch vụ nông nghiệp 6.253 tỷ đồng. Do đặc điểm tự nhiên và tập quán canh tác mà nông nghiệp Trà Bồng có thể phân ra hai vùng khá rõ rệt: nông nghiệp ở ba xã, thị trấn vùng thấp với đa số người Việt và nông nghiệp ở 7 xã vùng cao với đa số đồng bào Kor. Ba xã, thị trấn với đa số người Việt sinh sống ở phía đông huyện làm nông theo kiểu canh tác của miền xuôi, trồng lúa nước và các loại cây hoa màu, cây lương thực, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Ba xã, thị trấn này tuy không rộng lắm nhưng nhờ kinh nghiệm thâm canh lúa nước, nên là nguồn lương thực quan trọng của huyện, chủ yếu là lúa gạo. Thống kê cho thấy, trong tổng sản lượng lương thực toàn huyện Trà Bồng năm 2014 là 7.172 tấn thì tổng lượng lương thực của 3 xã, thị trấn vùng thấp đã có 4.031 tấn (xã Trà Bình 1.864 tấn, xã Trà Phú 1.135 tấn, thị trấn Trà Xuân 1.032 tấn). Tuy nhiên, do vùng thấp tập trung dân số với mật độ cao, nên bình quân lương thực đầu người lại không phải cao nhất trong huyện, trừ xã Trà Bình đạt 388kg/người/năm (đứng thứ hai sau xã Trà Giang 463kg), thì ở xã Trà Phú chỉ 273kg, ở thị trấn Trà Xuân thì thuộc hạng thấp nhất trong huyện (140kg). Bảy xã vùng cao nơi người Kor chiếm đa số, do điều kiện thiên nhiên với nhiều thung lũng hẹp nên từ xưa không có truyền thống trồng lúa nước như vùng người Hrê ở Sơn HàMinh LongBa Tơ. Để có lương thực, xưa kia người Kor chủ yếu tỉa lúa rẫy, tỉa bắp, trồng bo bo… đều ở trên rẫy. Từ khi có chính quyền cách mạng, người Kor dần chuyển cư xuống thấp và bắt đầu có sự khai hoang làm ruộng nước. Xưa kia việc chăn nuôi gia súc như trâu, heo cũng rất khó, vì vùng rừng núi Trà Bồng có rất nhiều thú dữ như voi, hổ. Qua các thời kỳ cách mạng, canh tác nông nghiệp ở Trà Bồng mới dần dần có sự chuyển biến. Người Kor sinh hoạt kinh tế nông, lâm nghiệp theo lối cổ truyền, có thêm các nhân tố mới nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, trong đó có cả dấu ấn của kinh tế nông nghiệp sơ khai. Người Kor ngày nay, bên cạnh việc khai hoang trồng lúa nước với kỹ thuật mới, vẫn thường xuyên trồng và khai thác quế như xưa, phát nương làm rẫy tỉa lúa, ngô, nuôi trâu, gà, vịt ở làng, đi rừng hái rau ranh, bắt ốc, khai thác mật ong, đót, các loại cây, dây rừng để về làm đồ dùng, thức ăn và bán lấy tiền. Sản vật ở rừng có nhiều, nhưng ngon nhất là ốc đá, rau ranh và mật ong hoa quế.

Theo thống kê, tổng sản lượng lương thực có hạt của Trà Bồng năm 2014 trên 7.172 tấn, bình quân lương thực đầu người gần 232,7kg; những con số còn quá thấp so với nhiều nơi trong tỉnh Quảng Ngãi, nhưng là một tiến triển khá cao trong điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho việc trồng cây lương thực.

Thống kê sau đây sẽ cho thấy sự tiến triển ấy: 
Năm 1975 1980 1985 1990 1995 2000 2005 2014
Bình quân lương thực đầu người (kg) 73,1 134,2 159,1 129,1 107,6 163,5 238,3 258

 
Sự tăng đột biến của 2 con số năm 2000 và 2005 có nguyên nhân từ việc chia tách huyện Tây Trà (vùng có rất ít diện tích lúa nước), nhưng nhìn trên đại thể từ 1975 đến 2005, có thể thấy sự tăng tiến trong sản xuất lương thực.

Tính ở thời điểm 2014, sản lượng lương thực bình quân đầu người cao nhất là ở xã Trà Bình 399kg, xã Trà Giang 307kg, xã Trà Thủy 252kg, thấp nhất là thị trấn Trà Xuân 140kg các xã khác xê dịch trong khoảng 20 đến 30kg.

Bên cạnh cây lương thực có hạt, ở Trà Bồng còn trồng nhiều khoai, sắn. Sau đây là thống kê về các loại cây trồng chính ở Trà Bồng 2014 : 

TT Cây trồng Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
1 Lúa 1.741 37,4 6.515
2 Ngô 254 25,9 657
3 Sắn 1.260 157,0 19.872
4 Lạc 37 7,3 23
5 Mía 65 561 3.647
6 Đậu các loại 106 15,3 162
7 Rau các loại 330 219,3 7.243

Lúa trồng nhiều nhất ở xã Trà Bình với diện tích 350ha, sản lượng 1.624 tấn, năng suất lúa cao nhất toàn huyện.

Ngô trồng nhiều nhất ở xã Trà Sơn với diện tích 94ha, sản lượng 190 tấn; tiếp đó là xã Trà Bình với diện tích 45ha, sản lượng 113 tấn; xã Trà Thủy với diện tích 41ha, sản lượng 91 tấn.

Sắn toàn huyện có diện tích khá lớn, trong đó có diện tích sắn lớn nhất là xã Trà Bình với 495ha, xã Trà Tân với 415ha, nhưng sản lượng sắn cao nhất lại là xã Trà Phú với 5.076 tấn.

Lạc trồng nhiều nhất là ở xã Trà Bình với diện tích 120ha, sản lượng 174 tấn; xã Trà Phú 21ha, sản lượng 31 tấn; thị trấn Trà Xuân 9ha, sản lượng 12 tấn. Các xã khác không có.

Mía cũng tập trung ở ba xã, thị trấn vùng thấp, trong đó tập trung ở xã Trà Bình với diện tích 128ha, sản lượng 5.760 tấn mía cây, chiếm khoảng 2/3 về diện tích và sản lượng mía toàn huyện.

Đậu các loại với diện tích ít ỏi phân bố đều khắp các xã, thị trấn.

Rau các loại trồng nhiều nhất ở xã Trà Phú với diện tích 75ha, sản lượng 1.019 tấn, thị trấn Trà Xuân với 46ha, sản lượng 632 tấn.

Về thủy lợi, tổng diện tích tưới nước bằng công trình thủy lợi có 516,4ha, trong đó tưới bằng công trình kiên cố có 421,4ha (năm 2014).

Các loại gia súc, gia cầm ở Trà Bồng phổ biến là bò, trâu, heo, gà, vịt. Tình hình chăn nuôi vẫn chưa ở mức cao, như số liệu của năm 2014 cho thấy: toàn huyện có 270 con trâu; 9.714 con bò, 14.611 con heo và trên 116. 410 gia cầm năm 2014.

Về lâm nghiệp, thuở xưa vùng Trà Bồng nổi tiếng với loại cây trồng đặc chủng là cây quế, thường được gọi là quế Quảng. Bên cạnh một ít quế rừng mọc tự nhiên, người Kor chuyên việc trồng quế trên rẫy, thành rừng. Nhiều thương nhân người Việt đã lên các làng người Kor để mua quế về xuôi bán lại cho người Hoa xuất khẩu. Thời nhà Nguyễn, hằng năm các vua Nguyễn đều cho đặt mua quế Trà Bồng. Người dân Kor bóc vỏ quế bán để mua về các vật dụng thiết yếu. Quế được trồng bổ sung hằng năm. Ngoài việc trồng quế, hoạt động lâm nghiệp của người Kor chủ yếu là khai thác sản vật ở rừng. Trải qua quá trình khai thác và qua hai cuộc chiến tranh, rừng Trà Bồng bị tàn phá nặng, trong khi đồng bào dân tộc Kor vẫn dựa vào việc khai thác lâm thổ sản như một nguồn bổ sung quan trọng cho cuộc sống, thì đối với chính quyền địa phương, việc bảo vệ, khoanh nuôi, trồng rừng phòng hộ, rừng nguyên liệu… là nhiệm vụ quan trọng và cũng là sự tạo môi trường thuận lợi, hỗ trợ cuộc sống cho nhân dân. Việc khai thác chủ yếu tập trung vào gỗ rừng trồng như keo, bạch đàn, các loại cây thiên nhiên như tre, nứa, lồ ô, mây, đót khô. Riêng vỏ quế xô hằng năm khai thác vài trăm tấn. Việc trồng và khai thác quế trong hàng chục năm trở lại đây đã suy giảm, nằm ở mức thấp, vì giá quế trên thị trường xuống rất thấp. Đây là một vấn đề khá nan giải cho vùng đất quế Trà Bồng. Bà con dân tộc Kor vốn trông cậy nhiều ở cây quế và điều kiện, địa hình, khí hậu ở đây không dễ chuyển đổi sang cây trồng khác. Cây keo lai đang được trồng khá nhiều.

Về tiểu thủ công nghiệp, ở Trà Bồng chủ yếu vẫn là các nghề thủ công mang tính tự túc, tự cấp của người Kor, trong đó chủ yếu là đan lát các vật dụng dùng cho sinh hoạt và sản xuất như gùi các loại, chiếu nằm, chiếu phơi lúa, mủng, giỏ nhốt gà… với những nét đan lát khá tinh xảo. Vật liệu đan chủ yếu dùng mây, cây lùng, nứa. Nghề thủ công của người Kinh thì chủ yếu là các nghề thông dụng như hồ, mộc, làm gạch ngói, rèn, khai thác đá. Từ sau năm 1975, ở Trà Bồng còn có thêm nghề sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ từ vỏ quế, như bình ly, ống đựng tăm, quả bánh bằng vỏ quế già (quế tam sơn), nhưng việc tiêu thụ chưa nhiều. Suối Thạch Bích tại xã Trà Bình đã được Nhà máy nước khoáng của Công ty đường Quảng Ngãi khai thác và đóng chai với thương hiệu cùng tên, là một sản phẩm rất được ưa chuộng trên thị trường. Thống kê cho biết năm 2014 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 78.217 triệu đồng. Công nghiệp Trà Bồng chủ yếu tập trung ở việc chế biến thực phẩm, may mặc, sản phẩm gỗ, tre nứa.

Mặc dù cho đến trước Cách mạng tháng Tám 1945 đồng bào dân tộc Kor ở Trà Bồng vẫn trong trạng thái kinh tế – xã hội thời tiền giai cấp, nhưng đã có giao thương xuôi ngược với người Việt, người Hoa từ rất sớm. Chợ Thạch An nằm ở phía tây huyện Bình Sơn là một điểm giao thương khá sầm uất từ nguồn về biển. Người Kor mang quế đến bán, mua về nồi, niêu, cồng, chiêng, chè, vải, muối, gạo, rìu, rựa… tức những vật dụng thiết yếu cho sinh hoạt và sản xuất. Cũng rất phổ biến là các thương nhân người Việt mang cõng lên các làng nóc nằm ở lưng chừng các núi để thực hiện việc buôn bán tại chỗ. Từ sau năm 1975, các hình thức buôn bán như vậy vẫn rất thường thấy. Tuy nhiên, các điểm thương mại, dịch vụ, các chợ đã dần được xây dựng ở các xã, ở huyện lỵ, đã trở thành nơi tập trung buôn bán của đồng bào các dân tộc tại Trà Bồng. Chợ Trà Bồng ở trung tâm thị trấn Trà Xuân và các cửa hiệu ở xung quanh ngày càng buôn bán sầm uất. Ở các thôn, làng của đồng bào Kor, thông thường mỗi nơi có một vài tiệm bán tạp hóa với các mặt hàng thiết yếu, do người Việt đảm nhiệm. Thống kê cho biết trong trong địa hạt Trà Bồng năm 2014 có 181 cơ sở kinh doanh thương mại – dịch vụ cá thể với tổng cộng 326 lao động, phân bố rải rác trong huyện, nhưng tập trung nhiều nhất vẫn là ở Trà Xuân, Trà Phú, Trà Bình.

Cơ sở hạ tầng ở Trà Bồng đã có sự phát triển khá. Từ nhiều trăm năm trước, đường từ miền xuôi lên nguồn Trà Bồng đã có, nhưng chỉ là đường đất. Trà Bồng được xem là vùng rừng thiêng nước độc, xa xôi hiểm trở. Châu lỵ Trà Bồng trước Cách mạng tháng Tám 1945 tuy đã có nhưng còn sơ sài, chỉ có đồn binh và nhà cửa của quan cai trị. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, cứu nước, đường sá có phần được cải thiện hơn trước.

Cuối thập niên năm mươi của thế kỷ XX, vợ cố vấn Ngô Đình Nhu là Trần Lệ Xuân ra lệnh cho cấp dưới làm đường ở địa hạt Trà Bồng để độc quyền khai thác, buôn bán quế. Đường rừng đi Trà Phong, đường nước đi dọc các xã Trà Thuỷ, Trà Hiệp qua huyện Trà My (tỉnh Quảng Nam) có xây cầu cống, tu sửa, cầu bắc qua sông Trà Bồng được xây dựng, năm 1964 bị trận lũ lớn cuốn trôi (đến năm 2005 xây dựng lại). Tuy nhiên phải đến sau 1975, đường sá mới thật sự chuyển biến. Tỉnh lộ 622 từ Châu Ổ (huyện Bình Sơn) nối với huyện lỵ Trà Bồng đã được trải nhựa. Đường Trà Bồng – Trà Phong (huyện lỵ Tây Trà) được xây dựng, trải nhựa. Hiện nay, đoạn tỉnh lộ 622 từ thị trấn Trà Xuân qua cầu men theo tả ngạn sông Trà Bồng dẫn đến Trà My đã có kế hoạch xây dựng, nâng cấp. Đường huyết mạch từ Trà Tân đi Trà Bùi đang được xây dựng. Các con đường nối các xã dần dần đã được bêtông hóa.

Về thông tin liên lạc, ở huyện lỵ Trà Bồng có bưu điện huyện, ở các xã có nhà bưu điện văn hóa xã. Số máy điện thoại cố định năm 2014 là 2.055 máy.

Các cơ sở công cộng, như cơ quan, trạm y tế được xây dựng ngày càng khang trang. Ở các xã người Việt, đa số nhà ở đã được ngói hóa. Ở các làng người Kor, nhiều người đã làm được nhà ngói, có làng đã ngói hóa hoàn toàn như thôn 2 xã Trà Thủy. Tuy vậy, nhìn chung đời sống của nhân dân còn quá thấp là một trở ngại trên con đường phát triển.

Điểm nổi bật trong văn hóa ở Trà Bồng là các di sản văn hóa cổ truyền và các hoạt động văn hóa mới. Ở dân tộc Kor, di sản văn hóa khá phong phú. Trà Bồng là địa bàn cư trú chính của dân tộc Kor. Nơi đây, người dân vẫn bảo tồn được các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể quý báu. Người Kor vốn có tín ngưỡng nguyên thuỷ vạn vật hữu linh. Trong di sản văn hóa dân tộc Kor có truyện cổ tích (đã phần nào được sưu tầm, dịch thuật và xuất bản), có các làn điệu dân ca như xà-ru, a-giới, cà-lu, a-rợp… Người Kor thích đánh chiêng và có nhiều giai điệu chiêng đặc sắc. Lễ hội của người Kor thì có lễ ăn lúa mới, làm nhà mới; đặc sắc có lễ cưới, lễ hội ăn trâu rất đậm màu sắc dân tộc. Trong lễ ăn trâu có cây nêu và cái gu, các bái vật hết sức độc đáo. Cây nêu của dân tộc Kor được dựng khá cao, với nhiều nét hoa văn, đan, khắc tinh xảo, có hình tượng chim chèo bẻo trên đầu nêu, thể hiện quan niệm thẩm mỹ và bàn tay khéo léo của các nghệ nhân Kor. Riêng bộ gu thờ treo trong nhà là di sản riêng có của dân tộc Kor, không thể tìm thấy ở các dân tộc khác. Gu thờ có gu pi treo giữa nhà, có con chim đại bàng lớn được khắc vạch các hoa văn đỏ, trắng trên nền đen. Gu dẹt hay các la vang treo ở cửa ra vào, cửa xuống bếp và gu treo ở bếp. Trên các la vang là cả một bức tranh liên hoàn, trong đó có vẽ các hình ảnh, hoa lá, sinh hoạt rất đặc thù. Người Kor còn giỏi nghề đan. Những sản phẩm đồ đan của người Kor thật sự là những tác phẩm nghệ thuật, tinh xảo, đẹp mắt. Những kinh nghiệm về trồng, chế biến, khai thác quế, kinh nghiệm về chữa bệnh… cũng là những tri thức dân gian quý báu. Về di sản văn hóa Việt ở Trà Bồng, có thể kể đến những bài ca dao, các điệu hát còn lưu truyền ở những người già. Điều đáng lưu ý là có sự giao thoa văn hóa giữa người Việt và người Kor ở Trà Bồng khá đậm nét: người Kor có bộ lễ phục áo dài vốn là sản phẩm của miền xuôi. Ở điện Trường Bà (thị trấn Trà Xuân), người Kor, người Việt đều tới cúng lễ. Đền thờ hổ ở xã Trà Hiệp cũng là một biểu tượng của giao thoa văn hóa Việt – Kor. Bên cạnh đó, di sản thiên nhiên ở Trà Bồng cũng rất quý, như các suối thác, đồi núi hùng vĩ và nên thơ, nổi tiếng như thác Cà Đú, thác Xăng Bay, suối Nước Nun, suối Trà Cân, suối Nang, núi Răng Cưa… Di tích thì có điện Trường Bà, các điểm di tích chung quanh cuộc Khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi. Từ 1999, Nhà Bảo tàng Khởi nghĩa Trà Bồng đã được xây dựng, trưng bày các hình ảnh, hiện vật dân tộc học và về cuộc khởi nghĩa. Đó là những di sản văn hóa quý báu, có khả năng thu hút khách tham quan du lịch.

Trong các hoạt động văn hóa hiện nay, các di sản văn hóa cổ truyền đã được chú ý khai thác, phát huy. Đó là các cuộc liên hoan cồng chiêng, thi trang phục dân tộc, hội diễn ca múa nhạc dân tộc, thi hát dân ca… từ phong trào văn nghệ quần chúng ở huyện, ở tỉnh. Đồng thời, phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cũng được quan tâm. Có thể lấy mốc Cách mạng tháng Tám 1945 là thời điểm dân tộc Kor ở Trà Bồng bước vào nếp sống hiện đại. Tuy nhiên, do phải trải qua hai cuộc chiến tranh, đồng bào Kor chủ yếu vẫn sống theo nếp cũ. Chỉ đến sau năm 1975, đồng bào mới từ các sườn núi cao xuống thấp, định cư ở các thung lũng, bãi bỏ các tập tục lạc hậu và xây dựng đời sống mới. Vừa kế thừa các tinh hoa văn hóa cổ truyền, vừa tiếp thu văn hóa mới là nét nổi bật trong văn hóa các dân tộc ở Trà Bồng ngày nay. Các sinh hoạt thể thao quần chúng dần dần thâm nhập trong đời sống ở nhiều làng xã. Ở huyện có đài truyền thanh và trạm phát lại truyền hình, ở xã có đài truyền thanh xã. Sinh hoạt văn hóa của đồng bào các dân tộc ở Trà Bồng đã được cải thiện, nâng cao hơn nhiều so với trước kia.

Về giáo dục, xưa kia, việc học dường như chỉ hạn chế ở đồng bào Việt và trong đồng bào Việt cũng chỉ có một số ít con nhà khá giả được học. Đa số dân Việt và dân Kor đều mù chữ. Trải qua thời gian và các cuộc chiến tranh với rất nhiều gian khó, việc học ở Trà Bồng ngày nay đã thực sự phát triển. Giáo dục ở Trà Bồng dần dần tiến bộ và đã đi vào nề nếp. Đến 2014, Trà Bồng có tổng số 27 trường học, trong đó có 1 trường Trung học phổ thông, 5 trường Trung học cơ sở, 11 trường Tiểu học; Mẫu giáo 10 trường; có 2.974 học sinh Tiểu học với 136 lớp, 1.658 học sinh Trung học cơ sở với 65 lớp, 884 học sinh Trung học phổ thông với 24 lớp. Hệ mẫu giáo có 10 trường, với 2.068 học sinh. Nhiều người dân tộc Kor học lên bậc Đại học. Một số gia đình người Việt đã nuôi con học đến Tiến sĩ. Tuy vậy, do đời sống khó khăn nên số học sinh bỏ học, nhất là ở dân tộc Kor vẫn còn cao.

Chăm sóc sức khoẻ là một vấn đề được quan tâm ở Trà Bồng. Xưa kia, người Việt, người Kor chữa bệnh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm dân gian từ nhiều đời truyền lại. Từ sau 1975, bệnh xá huyện được xây dựng. Hệ thống y tế gồm Trung tâm y tế huyện, đội vệ sinh phòng dịch và 10 trạm y tế ở 10 xã, thị trấn. Việc chăm sóc sức khoẻ, phòng và chữa bệnh ngày càng được tốt hơn. Bệnh viện huyện có 133 giường bệnh. Số cán bộ y tế có 131 người, trong đó có 25 bác sĩ, 3 dược sĩ đại học. Đồng bào Kor đã cơ bản bãi bỏ việc cúng chữa bệnh. Việc ăn ở vệ sinh, dùng thuốc chữa bệnh đã trở thành phổ biến trong nhân dân.

Về các vấn đề xã hội: Nguồn lao động ở Trà Bồng ngày càng tăng lên về số lượng và có sự cải thiện đáng kể về chất lượng. Mỗi năm, số lượng lao động tăng bình quân khoảng 4,5 – 5%. Chất lượng lao động cũng có tăng lên, nhờ nhiều người có học vấn cao hơn, được đào tạo ngành nghề. Với đà phát triển kinh tế, mỗi năm trên địa bàn huyện giải quyết được khoảng 400 – 500 việc làm cho người lao động. Tuy vậy, việc làm, đói nghèo vẫn là vấn đề lớn ở Trà Bồng. Thống kê năm 2014 cho biết toàn huyện có 19.058 lao động, trong đó số người trong độ tuổi lao động không làm việc là 417 người, số người trong độ tuổi có khả năng lao động không có việc làm là 589 người. Số người ngoài tuổi lao động có tham gia lao động cũng khá cao với 2.254 người (1.126 người già, 1.128 trẻ em). Nhà nước đã thực hiện trợ giá, trợ cước và phát không một số mặt hàng cho đồng bào vùng cao. Số hộ nghèo ở Trà Bồng có giảm đi, nhưng tỷ lệ vẫn còn cao.

Lịch sử hình thành và phát triển.

Theo sách “ Đại Nam Nhất Thống Chí”, Trà Bồng xưa là một trong bốn nguồn (nguyên) của tỉnh Quảng Ngãi, được gọi là “Nguồn Đà Bồng”. Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), triều Nguyễn đổi tên thành “Nguồn Thanh Bồng” . Năm 1915 Thực dân Pháp đổi thành “Đồn Trà Bồng” gồm 3 tổng: Sơn Bồng, Sơn Thuận và Sơn Thọ, chia làm 34 sách (làng).

Năm 1930, Thực dân Pháp đặt tại đây Đồn kiểm lý, dưới đồn kiểm lý có “ Chánh, phó tổng dịch Man” ở các tổng và “Sách trưởng” ở các sách. Sau đó “Đồn Trà Bồng” được đổi tên thành “ Châu Trà Bồng”. Ở các xã vùng thấp, đồng bào Kinh sinh sống ( lúc này thuộc huyện Bình Sơn) gồm: Làng Xuân Khương, ấp Đại An; làng Đông Phú, ấp Phú Tài; làng Bình Hòa, làng An Phong, ấp Thạch Bích; ở mỗi làng Thực dân Pháp đặt một Lý trưởng đứng đầu.

Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chính quyền cách mạng đổi tên châu Trà Bồng thành huyện Trà Bồng, các sách cũ nhập thành các xã mới, các làng Tây Bình Sơn nhập vào huyện Trà Bồng, hình thành 10 xã đồng bào dân tộc thiểu số là: Trà Khê, Trà Phong, Trà Quân, Trà Lâm, Trà Giang, Trà Thanh, Trà Lãnh, Trà Nham, Trà Thủy, Trà Sơn. Đối với các làng, ấp người Kinh, chính quyền tổ chức lại thành 3 xã: Xuân Khương và Đại An hợp thành xã Nguyễn Lang; Đông Phú và Phú Tài hợp thành xã Đào Yển; Bình Hòa, Vinh Hòa, An Phong, Thạch Bích hợp thành xã Nguyễn Hiệt. Đầu năm 1946, ba xã Nguyễn Lang, Nguyễn Hiệt, Đào Yển hợp nhất thành xã có tên là Võ Cẩn.

Cuối năm 1955, sau khi tiếp quản Trà Bồng, ngụy quyền Sài Gòn đổi huyện Trà Bồng thành quận Trà Bồng, lập nên 7 xã và 13 ấp. ba xã người Kinh đổi tên gọi là Trà Khương, Trà An, Trà Hòa. Về phía cách mạng, để xây dựng căn cứ địa phục vụ cho lãnh đạo, chỉ đạo, vào năm 1957, Tỉnh ủy Quảng Ngãi quyết định tách các xã người Kor của huyện Sơn Hà đó là: Sơn Thọ, Sơn Hiệp, Sơn Bùi, Sơn Tân, sáp nhập vào huyện Trà Bồng đổi tên thành: Trà Thọ, Trà Hiệp, Trà Tân, Trà Bùi. Tháng 5-1958, để thuận lợi cho việc lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng, Tỉnh ủy Quảng Ngãi quyết định tách các xã Đông Bắc của huyện, thành lập khu I ( Trà Xuân, Trà Phú, Trà Bình, Trà Sơn, Trà Thủy, Trà Giang) các xã vùng núi Cà Đam thành lập khu II (Trà Tân, Trà Bùi, Trà Phong, Trà Lãnh, Trà Nham, Trà Thọ, Trà Xinh, các xã phía Tây thành lập khu IV (Trà Khê, Trà Thanh, Trà Hiệp, Trà Lâm).

Đầu năm 1970, Trà Bồng được chia làm 2 huyện là Đông Trà và Tây Trà. Cuối năm 1970, Khu ủy V nhập huyện Trà Bồng và Sơn Tây thành Khu Sơn Trà trực thuộc Khu A của Khu ủy V. Cuối năm 1972, Khu Sơn Trà giải thể, các xã Sơn Tây về lại Sơn Tây, các xã thuộc huyện Trà Bồng được tái lập như cũ.

Sau năm 1975, sau nhiều lần tách, nhập các đơn vị hành chính cơ sở, đến cuối năm 1990 Trà Bồng có 19 xã gồm: Trà Thanh, Trà Khê, Trà Phong, Trà Quân, Trà Thọ, Trà Hiệp, Trà Lâm, Trà Lãnh, Trà Thủy, Trà Sơn, Trà Nham, Trà Bùi, Trà Giang, Trà Phú, Trà Bình, Trà Tân, Trà Trung, Trà Xinh và Trà Xuân, đến năm 1995 Trà Xuân được nâng lên thành thị trấn Trà Xuân.

Ngày 01/12/2003, theo Nghị định số 145/2003/NĐ-CP, 9 xã phía Tây huyện được tách lập thành huyện mới Tây Trà, Trà Bồng còn 9 xã: Trà Phú, Trà Bình, Trà Tân, Trà Bùi, Trà Giang, Trà Thủy, Trà Hiệp, Trà Lâm, Trà Sơn và thị trấn Trà Xuân.

DI TÍCH LỊCH SỬ

QUẦN THỂ DI TÍCH KHỞI NGHĨA TRÀ BỒNG

Địa điểm di tích nằm tại huyện Trà Bồng và huyện Tây Trà, các huyện vùng cao phía tây bắc tỉnh Quảng Ngãi; ghi dấu sự kiện lịch sử diễn ra vào ngày 28.8.1959, nhân dân các xã vùng cao Trà Bồng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đứng lên khởi nghĩa, phá xiềng xích kìm kẹp của chính quyền Ngô Đình Diệm giành thắng lợi, tạo ra vùng giải phóng rộng lớn ở miền Tây Quảng Ngãi. Hiện nay, di tích cuộc khởi nghĩa Trà Bồng gồm các điểm: Eo Chim, Đá Liếp, Trà Xuân, Gò Rô, Làng Ngãi… Cuộc Khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi đánh dấu giai đoạn lịch sử cách mạng quan trọng từ đấu tranh chính trị chuyển sang đấu tranh vũ trang khởi nghĩa từng phần giành thắng lợi. Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng trở thành bài học kinh nghiệm được nhân rộng cho cuộc đấu tranh cách mạng ở toàn miền Nam. Di tích Khởi nghĩa Trà Bồng đã được xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa quốc gia và được đầu tư xây dựng nhà bảo tàng, đặt bia bảng và tôn tạo các điểm di tích.

LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC COR

TẾT NĂM MỚI CỦA NGƯỜI COR

Tết năm mới của người Cor diễn ra vào khoảng tháng 10 đến tháng 11 Âm lịch, đây là thời điểm sau khi thu hoạch lúa rẫy, cũng được tổ chức trong ba ngày chính. Mỗi nóc tổ chức ăn Tết riêng, không trùng ngày với nóc khác, tùy thuộc vào sự lựa chọn của già làng và thần linh qua quẻ bói giò gà và xin âm dương.

Cũng giống như các dân tộc miền núi Quảng Ngãi khác, để đón Tết mọi thành viên trong gia đình chuẩn bị gạo mới, củi, lá dong, lá đoak, đi săn thêm thú rừng, xuống sông, suối bắt ốc, cua, ủ rượu cần…

Buổi tối trước ngày diễn ra lễ Tết chính, người chủ gia đình sẽ cúng hồn lúa bằng nghi thức lấy những hạt lúa thiêng (lúa pađăm) bỏ vào rổ, đặt gần bếp lửa, rồi khấn vái thần linh. Sau khi khấn vái thần linh, người chủ gia đình sẽ xoa lên đầu, trên tay các thành viên trong gia đình với sự cầu mong một năm mới gia đình khỏe mạnh, luôn có lúa gạo đầy nhà, cả nhà no đủ. Đây là lễ thức cúng hồn lúa, vì ngày lễ Tết năm mới cũng là dịp thu hoạch lúa rẫy.

Vào ngày Tết đầu tiên mọi nóc đều làm lễ cúng máng nước, cúng tổ tiên và các yang (thần) sông, núi, đất đai tại cây nêu dựng trước sân. Sau khi tế lễ xong cả nóc bắt đầu xẻ thịt heo, làm thịt gà, nấu bánh… để ăn Tết. Trong ngày Tết, người Cor làm các loại bánh như bánh ben aniq (bánh nếp có 3 góc, như kiểu bánh ú của người Việt), bánh ben parok (bánh ống), bánh ben tôôp (bánh tóp)… Khi các lễ tế hoàn tất, các gia đình quây quần ở gươl (tức phần chung của nóc nhà dài) để bắt đầu ăn uống. Ngày nay, các nóc nhà dài không còn nên các gia đình tổ chức ăn uống tại nhà riêng. Khi đã ăn uống no say, mọi người hát xà ru, a giới, chơi chiêng, trống, sáo tà lía, amáp, chơi các loại đàn vrook, cà trớt, múa cà đáo… thâu đêm, suốt sáng.

Sáng sớm ngày Tết thứ hai, các nóc nhà tiếp tục tổ chức cúng ông bà, thần sông, thần suối, thần núi, thần trầu, thần quế, thần trâu bò… và cả thần hàng (là vị thần đã phù hộ cho gia đình mua được chiêng, ché, các vật dụng trong nhà…). Sau khi cúng tế xong, mọi người lại bắt đầu ăn uống và tiếp tục múa hát, đánh chiêng… Có nơi còn tổ chức thi tài bắn nỏ, bắn cung, phóng lao, kéo co, đấu chiêng…

Sang ngày thứ ba mọi người thăm viếng lẫn nhau, chúc mừng những điều tốt đẹp, và tiếp tục ăn uống, múa hát. Buổi chiều, mỗi gia đình phân công người lên rẫy để phát rẫy phép, và ăn cơm phép trong ống lồ ô (cơm lam) trên rẫy. Đến chiều, tất cả về nhà và lại ăn uống, chúc tụng, hát múa, túc chinh… cho đến suốt đêm.

Trong ngày Tết, ngoài bà con họ hàng trong làng nóc thăm viếng và chúc tụng lẫn nhau, đại diện các nóc khác cũng đến chúc mừng và chung vui Tết với nóc đang ăn Tết.

2.2 LỄ HỘI ĂN TRÂU CỦA NGƯỜI COR

Lễ hội ăn trâu của người Cor có tên gọi là xá kapiêu (xá = ăn; kapiêu = trâu), thường diễn ra vào tháng 3 – 4 Âm lịch. Cũng như người Hrê, thời gian chính thức diễn ra lễ ăn trâu, ngoài sự chuẩn bị của gia đình còn tùy thuộc vào quẻ bói của thầy cúng.

Khảo sát lễ hội ăn trâu của người Cor có thể thấy, về mục đích, ý nghĩa, các loại lễ vật, cách chọn lựa con trâu hiến tế…, thì lễ hội ăn trâu của người Cor tương tự như lễ hội ăn trâu của người Hrê. Riêng trong trình tự lễ hội, thì lễ hội ăn trâu của người Cor có nhiều khác biệt so với lễ hội ăn trâu của người Hrê. Nếu như ngườiHrê chỉ cần thời gian khoảng một hai ngày là có thể làm và dựng xong cây nêu thì người Cor phải mất hàng tháng trời để làm cây nêu và các gu vla, gu tum với hơn vài trăm công làm. Cây nêu dùng trong lễ ăn trâu của người Cor không phải bằng tre mà bằng gỗ, cao đến 14 – 15m, có nhiều hoa văn họa tiết tinh tế (10).

Thời gian chính hội của lễ hội ăn trâu của người Cor thường là 3 ngày (người Hrê thường chỉ có một ngày chính). Vào buổi chiều ngày thứ nhất, người ta làm lễ cúng thần Ma Huýt – thần cai quản nương rẫy và giữ hạt giống bằng một con heo lớn và một ché rượu to, bên hố cây nêu mới đào. Trong lúc thầy cúng khấn mời thần linh thì một người ăn mặc rách rưới đóng giả tà ma chạy quanh làng xóm. Toàn bộ những người tham gia dự lễ chạy đuổi theo với những tiếng hò la vang dậy. Khi “tà ma” đã bị “bắt” và “tà ma” đã hứa không quấy nhiễu dân làng, không phá hoại mùa màng và súc vật nữa, thì buổi lễ đuổi tà ma kết thúc. Buổi tối, mọi người trong làng quây quần bên đống củi cháy, đánh chiêng, múa cà đáo, hát xà ru, a giới… và uống rượu.

Bước vào ngày thứ hai, ngay từ sáng sớm mọi người bắt đầu làm lễ dựng nêu. Tham gia lễ dựng nêu có thầy cúng, những già làng, cùng đông đảo phụ nữ, thanh niên, đội chiêng và đội múa cà đáo. Sau khi thầy cúng làm lễ xin dựng nêu xong, mọi người bắt đầu dựng cây nêu. Lúc cây nêu được dựng xong thì thầy cúng và những thành viên trong gia đình lại tiếp tục thực hiện nghi lễ cúng thần cây nêu và nghi lễ vào trâu. Trong lúc thực hiện nghi lễ vào trâu, từng hồi chiêng mừng trâu và cũng là để báo cho dân làng biết trâu đã buộc vào gốc nêu để họ đến tham dự hội. Các thiếu nữ Cor ăn mặc lễ phục truyền thống, áo trắng, váy xanh, chít khăn đỏ, đầu cài tua đỏ, cổ, tay, chân đeo vòng cườm, thắt lưng đeo lục lạc, múa dịu dàng quanh con trâu và cây nêu. Các chàng trai mang khố lễ, khoác khăn choàng hòa tấu chiêng, trống. Các cô gái vừa múa, vừa lấy ống tre đựng nước thiêng ở suối hắt lên mình trâu và cây cột lễ làm phép. Sau khi nghi thức làm phép này thực hiện xong, các thành viên trong gia đình và đội múa cà đáo bắt đầu mời rượu thầy cúng, các già làng và toàn bộ những người tham dự hội. Mọi người bắt đầu múa chiêng, múa cà đáo, hát… vòng quanh con trâu và cây nêu. Cứ thế họ vừa hát xà ru, a giới, ca lu…, vừa múa, vừa uống rượu cùng con trâu và cây cột lễ đến tận nửa đêm. Từ sau nửa đêm, con trai con gái trong làng tản đi khắp nơi trò chuyện, tìm hiểu nhau, nhiều mối tình nảy nở sau đêm dự hội này.

Vào ngày thứ ba, lúc trời còn mờ sáng, thầy cúng và các thành viên trong gia đình mặc các bộ y phục truyền thống của người Cor tiến hành nghi lễ cúng trong nhà để mời gọi các thần linh và tổ tiên về chứng kiến lễ ăn trâu của gia đình. Đoàn người đi từ trong nhà ra sân rồi vòng quanh con trâu và cây nêu, xong lại vòng vào trong nhà, nơi có treo gu vla, gu tum. Cứ thế đến 9 lần. Cùng đi vòng với tốp người là đội chiêng trống. Khi đã xong lần thứ 9, họ bắt đầu làm lễ bên con trâu. Người chủ gia đình cho trâu ăn những ngọn cỏ đoak cuối cùng, nói với trâu những lời từ biệt và những điều ước vọng của mình về sức khỏe, hạnh phúc, để khi về với thế giới bên kia, linh hồn con trâu có thể “truyền đạt” lại với các đấng thần linh. Vì thế, trong lễ hiến sinh, con trâu vừa là vật hiến sinh, vừa là “sứ giả” của con người. Nó là chiếc cầu nối giữa con người với thánh thần. Khi thầy cúng lắc những vòng lục lạc mời gọi thần linh chứng kiến thì người đàn ông chủ gia đình bắt đầu đâm phép con trâu. Nhát đâm phép vừa xong lập tức các mũi giáo, mác của các chàng trai đâm mạnh vào bụng trâu, vai trâu, cổ trâu… cho đến khi trâu ngã xuống. Nếu trâu ngã xuống mà đầu quay về phía ngôi nhà thì đấy là điềm tốt lành cho gia đình.

Sau khi đâm trâu xong, cũng như người Hrê, mọi người bắt đầu cắt lấy những bộ phận của trâu, mỗi thứ một ít, để vào rổ cúng và thầy cúng cùng các thành viên trong gia đình bắt đầu tiếp tục thực hiện các nghi lễ cúng máng nước, cúng trong nhà, cúng ngã ba đường… bằng các con vật hiến sinh khác là heo, gà.

Trong lúc thầy cúng và các thành viên trong gia đình thực hiện các nghi lễ cúng thần, những người khác bắt đầu xẻ thịt trâu. Đầu trâu cũng được để dành trên đàn cúng. Các phần còn lại được đem nấu nướng. Cách tổ chức nấu nướng, các món ăn được chế biến từ thịt heo, thịt trâu, cách chiêu đãi họ hàng, làng xóm, cách ăn uống… của người Cor cũng giống như của người Hrê. Món ăn được nấu từ bộ lòng con trâu như gan, tim, thận… và cả huyết luôn là món cúng thần, và chỉ có người trong gia đình mới được ăn các món ăn này.

Hàng vài chục mâm thịt trâu, thịt heo cùng cơm lúa rẫy, rượu cần, rượu đế, bánh sẽ được dùng chiêu đãi họ hàng, khách khứa. Khi đã ăn uống no say, mọi người lại bắt đầu chơi chiêng, trống, các loại nhạc cụ truyền thống, múa hát, kể chuyện… Buổi ăn trâu thường bắt đầu khoảng giữa trưa, và kết thúc vào tận nửa đêm, và cùng với nó là những sinh hoạt văn nghệ dân gian.

Sang ngày thứ tư là lễ ăn đầu trâu. Mọi nghi lễ và sinh hoạt văn nghệ tương tự như ngày lễ ăn đầu trâu của người Hrê, nhưng số người tham gia ít hơn những ngày chính lễ, vì chỉ có bà con trong dòng họ và các thành viên trong gia đình tham dự.

Ngày hôm sau, gia đình và đại diện các gia đình tham gia ăn trâu đi phát rẫy phép. Và người Cor cũng kiêng cữ trong suốt 3 ngày sau khi lễ ăn trâu kết thúc.

VĂN HỌC DÂN GIAN CỦA NGƯỜI COR

Kể chuyện là một sinh hoạt phổ biến trong các làng nóc người Cor. Truyện kể dân gian của người Cor cũng gồm các thể loại, như cổ tích, thần thoại, truyền thuyết, ngụ ngôn…; với các đề tài về các hiện tượng tự nhiên, về những nhân vật anh hùng huyền thoại, những số phận côi cút, nghèo khổ, về phong tục tập quán, tín ngưỡng, về những loài vật…

Trong cộng đồng người Cor còn lưu giữ nhiều truyện kể gắn liền với những giải thích về các ngọn núi, con sông trên địa bàn cư trú của mình, như sự tích núi Răng Cưa, sự tích Eo Chim, sự tích Hòn Vua… Truyện kể về những con người côi cút, nghèo khổ nhưng biết chiến thắng số phận và trở thành những con người được cộng đồng tôn vinh, như các truyện kể về chàng câu cá (Ta poóc), chàng Khô Nội, hai anh em mồ côi, chàng Rít, chuyện giết con quỷ 7 miệng…. Về sự hình thành cộng đồng cư dân và những mối quan hệ láng giềng, có các truyện kể về người đàn bà và con chó, truyền thuyết về đảo Lý Sơn, sự tích người Cor và người Kinh, chuyện về điện Trường Bà… Truyện kể dân gian Cor còn có khá nhiều những câu chuyện về loài vật mà trong đó hàm chứa những chủ đề khác nhau: có chuyện giải thích nguồn gốc xuất hiện của các loài vật, như các chuyện giải thích vì sao mắt lươn thì híp và mắt cá gáy thì đỏ, sự tích chim chèo bẻo; có chuyện mượn loài vật để nói những quan hệ nhiều chiều trong đời sống xã hội, như các chuyện kể về ốc và cọp, cối và cọp, chuyện kể về diều hâu, chim chích, con thỏ, con rùa… Để giải thích các phong tục tập quán, các loại hình văn hóa tín ngưỡng có các truyện kể, như sự tích ăn trâu, sự tích cây nêu, sự tích nhà sàn, truyện kể về thần Lúa, truyện kể về hai vị thần Oplik và Oplok dạy cho con người biết ca hát… Cũng như người Hrê, trong truyện kể dân gian của người Cor, hình ảnh người anh hùng của bộ lạc, của làng, của vùng, của cả tộc người hiện rõ trong nhiều câu truyện, như các truyện kể về Eo Chim, về Taman Xơri, về Hòn Vua, về nàng Y Dật….

4.1.2 NHỮNG LỜI HÁT

Người Cor ở Quảng Ngãi hiện vẫn sử dụng các làn điệu dân ca truyền thống của họ, đó là các điệu xà ru – xà lía (tự sự, ứng khẩu), a giới (đối đáp), a lat (hát mừng), ca lu, ca rua (hát cúng)… Xét dưới góc độ diễn xướng dân gian thì đó là những làn điệu có giá trị về nghệ thuật âm nhạc. Mặt khác, cũng như các làn điệu dân ca của người Hrê, người Ca Dong, xét dưới góc độ phần lời của bài hát thì đó là những tác phẩm văn học có giá trị. Nội dung chính của các làn điệu dân caCor chủ yếu cũng để phô diễn tâm tình, trước thiên nhiên, thần linh, con người và những lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Tùy theo mỗi thể loại mà nội dung các bài dân ca khác nhau.

Dưới đây là vài đoạn trích phần lời một vài bài xà ru:

Anh từ đâu ra?

Tôi từ buồng cau ra

Em từ đâu ra?

Em từ cây chuối non, từ hoa huệ

Em như bông hoa rừng

Anh như là cây lau

Ta lấy nhau đẹp đôi vợ chồng (7).

4.2 NGHỆ THUẬT DIỄN XƯỚNG DÂN GIAN CỦA NGƯỜI COR

Các loại hình dân ca

Dân tộc Cor ở Quảng Ngãi còn bảo lưu nhiều loại hình dân ca, khá đa dạng và phong phú, có những sắc thái riêng. Phổ biến có các làn điệu sau:

* Xà ru

Là điệu hát có giai điệu trong sáng, mượt mà, theo lối tự sự, có kể, có tâm tình, có nói bóng gió, lời hát thường từ sự ứng khẩu của mỗi người. Trai gái hay dùng xà ru để hát tỏ tình, trong rừng quế hay ngoài sông, ngoài suối. Trong lễ hội, xà ru là công cụ năng động nhất để đối thoại giữa các thành viên trong cộng đồng với nhau. Xà ru còn được dùng để giao tiếp với thần linh.

* A giới

A giới là điệu hát đối đáp, có giai điệu ngọt ngào, trong sáng, theo giai điệu có sẵn. Người hát có thể ứng khẩu phần lời cho phù hợp với môi trường, hoàn cảnh. Đề tài của a giới thường là về những nỗi riêng tây, những khó khăn vất vả, những nỗi bất hạnh.

* A lát

A lát có giai điệu tươi vui, thường miêu tả tình cảm giữa con người và loài vật. A lát cũng được dùng trong đám cưới, mừng được mùa, đặc biệt trong lễ ăn trâu. Có khi người Cor còn dùng trống, chiêng để đệm cho các bài a lát.

* Cà lu

Cà lu thường dùng trong lễ tế ông bà, các vị thần linh. Những người già hay thầy cúng thường dùng giai điệu này trong khi tế lễ. Khi hát cà lu người hát phải ngửa mặt lên trời để tỏ lòng cầu khẩn. Nhịp điệu cà lu tương đối tự do nên người Cor không dùng trống, chiêng đệm theo.

* Cà rùa

Cà rùa là giai điệu thường dùng trong đám ma nên âm điệu buồn bã, trầm lắng, là một điệu hát kể, hát khóc, nội dung thường là kể về công ơn cha mẹ, vợ chồng.

Ngoài ra, người Cor còn có điệu hát a rợp, là điệu hát thường dùng trong lễ ăn trâu, hoặc khi làng có tin vui, nhưng điệu hát đang có nguy cơ thất truyền.

Nói chung, dân ca của người Cor ở Quảng Ngãi khá phong phú, đa dạng, trừ điệu a lát có giai điệu tươi vui, còn lại thường là trầm lắng, tâm tình. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, và cả trong thời bình, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã dùng các giai điệu xà ru, a giới, a lát.. để đặt thêm lời mới nhằm vận động bà con người Cor đứng lên chống Pháp, chống Mỹ, kêu gọi đoàn kết Kinh – Thượng, vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa…

Các loại nhạc cụ

Người Cor có nhiều loại nhạc cụ tương tự nhạc cụ của người Hrê, nhưng tên gọi có khác nhau chút ít.

* Đàn brook

Về cấu tạo và cách diễn tấu cũng giống cây đàn brook của người Hrê, có nơi còn gọi là bro, nhưng giai điệu có khác hơn các giai điệu của người Hrê. Người Cor cũng dùng cây đàn brook để hòa tấu cùng với các loại nhạc cụ khác, như brook t’ru, a máp, tà lía, ra ngoái… Brook là loại nhạc cụ dành cho nam giới.

* Đàn brook t’ru

Tương tự như cây đàn krâu của người Hrê, dùng để chơi các giai điệu vui tươi. Khác với người Hrê và người Ca Dong, người Cor ít khi dùng brook t’ru để mô phỏng tiếng chiêng, vì bộ chiêng của người Cor chỉ có hai chiếc. Đàn brook t’ru cũng chỉ dành cho nam giới, dùng trong sinh hoạt hàng ngày và lễ, tết.

* Đàn cà trớt

Có nơi còn gọi là đàn k’doh, là loại đàn giống như cây đàn nhị của người Việt. Cần đàn là một ống nứa dài khoảng 50 – 60 cm, có mắc 1 sợi dây bằng gân thú, hoặc dây tơ (nay thường là dây kim loại, như dây đàn ghita, hoặc dây thắng xe đạp), nối xuống phía dưới hộp cộng hưởng. Hộp cộng hưởng là một ống tre già có đường kính khoảng 10cm, dài khoảng 20cm. Người chơi dùng dây cung, là một đoạn cật tre vót mỏng, dài khoảng 40cm, kéo trực tiếp vào dây đàn. Người Cor dùng đàn cà trớt để chơi trong các dịp lễ hội theo các bài bản nhất định, hoặc đánh thức con cái dậy sớm ra nương, ra rẫy.

* Đàn ra ngoái

Cũng được làm bằng thanh tre hoặc gỗ nhỏ và một miếng thép như đàn ra ngoái của người Hrê, là loại đàn dành cho cả nam lẫn nữ. Hai người có thể dùng ra ngoái để tỏ tình với nhau.

* A máp

Là loại sáo nhỏ, bằng triêng rừng, có lưỡi gà, tương tự a mó của người Hrê, nhưng dài hơn. Trong cộng đồng người Cor hiện có rất nhiều người biết chơi a máp, đặc biệt là các nghệ nhân ở Trà Phong (huyện Tây Trà), như bà Hồ Thị Vui, Hồ Thị Bảy… Hai nghệ nhân này có thể song tấu nhiều bài a máp khác nhau, như ru con, đánh thức con dậy, khuyên con đi làm rẫy, đi bẫy thú… Khi song tấu thì một người thổi vào một đầu ống, một người khác dùng miệng và hai bàn tay “nói” ở đầu còn lại. Chính vì “nói” được qua tiếng a máp mà trong thời kháng chiến chống Mỹ, nhiều nghệ nhân Cor đã dùng a máp để báo tin cho các chiến sĩ cách mạng khi có giặc càn.

* Tà lía

Là loại sáo dọc, có 6 lỗ, tương tự sáo tà lía của người Hrê, dùng để thổi lúc đêm khuya hoặc ra rừng, ra rẫy, có khi còn để hòa tấu với các nhạc cụ khác.

Ngoài ra, người Cor cũng sử dụng các loại nhạc cụ khác, như chinh kla, ra đoang…, nhưng không phổ biến. Đặc biệt, phổ biến hơn người Hrê và Ca Dong, người Cor còn dùng các loại đàn nước, đàn gió.

* Đàn nước

Được làm bằng nhiều ống nứa, đặt ở nguồn nước. Nhờ nguồn nước đẩy vào trái bầu đựng nước mà các ống nứa quệt vào nhau nghe rất trong trẻo, thánh thót, vui tai.

* Đàn gió

Là loại đàn được làm bằng một ống nứa, trên ống nứa có gắn một cái chong chóng cũng bằng nứa. Lúc có gió mạnh đàn gió sẽ phát ra âm thanh như tiếng người hú. Đàn gió vừa để giúp vui, vừa để đuổi chim, đuổi thú.

* Chiêng (chếk)

Bộ chiêng của người Cor có 2 chiếc, là loại chiêng bằng, không có núm, kèm theo một chiếc trống. Mỗi chiếc có chu vi khoảng 120cm, thành chiêng khoảng 5cm, có quai để xỏ dây. Hai chiêng có cao độ bằng nhau. Để so cao độ, người Cor dùng dùi gõ vào lòng chiêng. Khi diễn tấu, người chơi chiêng lấy tay phải néo giữ vào dây buộc chiêng, rồi nâng chiêng lên cao, và dùng dùi để đánh vào lòng chiêng.

Trong hai chiếc chiêng, có một chiếc gọi là chiêng mẹ, một chiếc là chiêng con. Khi hòa tấu, chiêng mẹ tấu trước, chiêng con tấu sau, rồi đến trống phụ họa. Chiêng mẹ thường chơi bồi âm, nghịch phách, chiêng con thường điểm những tiếng nhẹ.

Người Cor có các bài chiêng khác nhau: chiêng chào khách, chiêng cưới, chiêng cúng trâu, chiêng cúng thần, chiêng tiễn khách, đặc biệt là những bài chiêng dùng để “tranh luận” nhau, khi mềm mỏng, khi to tiếng, thậm chí có lúc tựa như tiếng chửi mắng nhau. Trống có nhiệm vụ làm người cổ vũ, lại có lúc làm người giải hòa.

Ngoài những làn điệu dân ca và các loại nhạc cụ rất phong phú, người Cor còn có điệu múa cà đáu rất độc đáo.

* Múa cà đáu (cà đáo)

Múa cà đáu có nhịp điệu nhẹ nhàng uyển chuyển, do các cô con gái người Cor thể hiện trong các dịp lễ tết, đặc biệt trong lễ ăn trâu. Múa cà đáu có 2 dòng: cà đáu trook đtăk, nghĩa là cà đáu đường nước hay cà đáu vùng thấp; cà đáu trook gôk, nghĩa là cà đáu đường núi hay cà đáu vùng cao. Cà đáu đường nước chậm rãi, cà đáu vùng cao hơi dồn dập. Trong lễ ăn trâu, các đội múa cà đáu trong y phục truyền thống phải múa cà đáu 3 đợt quanh cây nêu: cà đáu cho chủ nhà, cà đáu cho làng, và cà đáu cho khách. Các điệu múa cà đáu phụ thuộc vào điệu trống, chiêng. Có 3 động tác chính trong múa cà đáu: cà đáu chếch a rết, có nghĩa là giết cua;cà đáu dâm dắc, có nghĩa là choàng cõng con; cà đáu khor ta moi, nghĩa là cà đáu rừng (4).

4.3. NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH CỦA NGƯỜI COR

Cũng như người Hrê, người Cor ở Quảng Ngãi luôn chú trọng đến vẻ đẹp trong vật dụng sinh hot hàng ngày, vật dụng trong lễ hội, tín ngưỡng, đặc biệt trong lễ hội ăn trâu.

Trong lễ hội ăn trâu, người Cor phải mất hàng vài trăm công để làm cây nêu và các gu tum, gu vla. Qua bàn tay khéo léo của các nghệ nhân, cây nêu, các gu không chỉ là công cụ của nghi lễ mà còn là một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc hết sức độc đáo, trong đó chứa đựng quan niệm về vũ trụ, về cuộc sống, về cái đẹp của người Cor từ bao đời truyền lại. Trên thân cây nêu, vốn được làm bằng gỗ chò, là loại cây gỗ thân thẳng, luôn vươn cao, tượng trưng cho khí phách người Cor, các nghệ nhân đã chạm trổ công phu hàng trăm hình vẽ khác nhau: mặt trăng, mặt trời, sao đêm; cây cỏ, hoa lá; thỏ, rùa, nai, khỉ, gà, chó, tổ ong, chim sẻ, chim đại bàng…, và đặc biệt là chim chèo bẻo (sip-plip), và chim phượng hoàng đất (sip-rak), là những loài chim tượng trưng cho lòng khát khao, quả cảm, chí hiên ngang của người Cor, vv. Nói chung, gần như trong tự nhiên có những gì gần gũi với con người đều được người Cor phô bày trong bóng dáng hiên ngang của cây nêu ngày hội. Để thể hiện các hình ảnh đó, người Cor đã dùng chính những con dao vẫn thường dùng hàng ngày để khắc vạch, tỉa tót công phu, dùng những thứ màu sắc có trong tự nhiên để tô vẽ. Các màu đỏ, đen, trắng luôn là những gam màu chủ đạo. Khi các gam màu này được hòa quyện vào nhau trên thân cây nêu bằng các loại hoa văn cách điệu, như hoa văn xương cá, hoa văn rìa vải, hoa văn cây trái, hoa văn kỷ hà, hoa văn hình học, thì thân cây nêu trở nên một tác phẩm mỹ thuật tuyệt đẹp, vừa rực rỡ, vừa đối ứng, vừa hài hòa, vừa dứt khoát, nhất là ở phần gốc nêu, nơi có “mâm thần” xòe bốn phía.

Cũng trong lễ hội ăn trâu, người Cor còn có gu vla và gu tum. Gu vla là chiếc gu treo ở xà nhà, nơi các đấng thần linh trú ngụ. Gu vla có 2 bộ phận, gu trống (gu pô) và gu mái (gu pi). Trên gu pô, các hoa văn họa tiết được bố trí nối tiếp theo chiều dọc thẳng đứng của thân gu (trụ vuông), với 7 phần không lặp lại, gồm các vạch kẻ ngang, dọc, ô hộc, hình tam giác, hình vuông, hình răng cưa, hình rìa vải; biểu thị mặt trời, mặt trăng, ngôi sao, bông hoa, cái khay, cây trái, hạt lúa… Gu picó 4 tai gỗ, 8 mảng hoa văn, tương tự như gu pô, nhưng có cách điệu khác hơn trong các đường diềm hình tròn, tựa như 4 cánh hoa rực rỡ những gam màu đen, đỏ, trắng. Gu tum là gu treo ở gian bếp, là gu dành riêng cho thần Lửa, với quan niệm, trong ngày hội thần Lửa bận rộn không được tham dự nên phải làm gu cho thần “thưởng thức” riêng. Các hoa văn họa tiết gu tum tương tự như gu vla, nhưng giản đơn hơn, và gu tum cũng nhỏ hơn gu vla.

Nhìn chung, mỗi mảng chạm khắc, trang trí của người Cor trên các thành phần cây nêu, trên các gu, và cả những vật dụng đồ đan (gùi xui pót, gùi lép, rá đựng cơm, lá phướn…), các đồ dùng sinh hoạt như trang phục (cổ truyền), con dao, ống đựng thuốc…, đều thể hiện bàn tay tài hoa, óc thẩm mỹ cao, luôn trung thành với những mô típ hoa văn truyền thống của dân tộc mình, bởi đó chính là thế giới nghệ thuật riêng của người Cor mà các dân tộc khác không có được.

4.4. KIẾN TRÚC NHÀ Ở CỦA NGƯỜI COR

Nhà ở dân gian truyền thống của người Cor là nhà xlúp, là kiểu nhà dài của một làng cùng cư trú. Hiện nay kiểu nhà này không còn nữa, họ đã tách ở riêng theo kiểu nhà trệt. Nhà sàn xưa kia của người Cor giống một toa tàu hỏa. Dân làng góp sức làm chung ngôi nhà, sau đó từng hộ được chia diện tích để phù hợp với nhu cầu sử dụng. Bao giờ vị trí máng nước đổ về cũng ở phía đầu nhà. Ngôi nhà có thể được nối dài thêm khi có những gia đình đến nhập cư sau. Dưới gầm sàn dùng xếp củi, nhốt lợn, gà; trên sàn thì người ở. Ngoài ra nhà còn có 2 – 3 sàn phụ để phơi lúa, cất đồ đạc, sấy thuốc lá…

Hiện nay, những ngôi nhà trệt có từ 3 – 5 hộ hay 6 – 7 hộ cùng cư trú còn khá phổ biến. Đó là kiểu nhà xlúp truyền thống nay được biến dạng qua kiểu nhà trệt vách đất hoặc vách bằng tre nứa nhưng vẫn giữ nguyên không gian cư trú như xưa của các hộ gia đình. Mỗi hộ cư trú bên trong ngôi nhà dài đó được tách riêng bằng các bức ngăn làm từ gỗ rừng hay bằng tre nứa đập giập. Ngôi nhà này tuy có cửa ra vào trổ ở mặt bên, nhưng lối đi lại dọc từ đầu đến cuối nhà vẫn giữ nguyên. Lối kết cấu vì cột còn thông dụng, tương tự ở các dân tộc miền núi khác trong khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên. Đặc biệt trong nhà có bộ phận sạp ngủ, là sự lặp lại cách làm sàn.

Mặt bằng sinh hoạt chính trong ngôi nhà truyền thống của người Cor chia làm ba phần theo chiều dọc nhà đó là: truôk, tum và gươl. Truôk là đường hành lang chạy suốt từ đầu đến cuối nhà, hai phía đều thông ra ngoài qua cửa. Tum là phần không gian sinh hoạt cho từng hộ, ở đó có đặt bếp lửa, chỗ ngủ của các cặp vợ chồng, con cái và các vật dụng đồ đạc. Từ các buồng đó đều mở cửa trông ra truôk. Đối diện với tum qua truôk là gươl – phần diện tích để thoáng, không ngăn thành các buồng. Nơi đây chủ yếu dùng làm chỗ sinh hoạt cho đàn ông: tiếp khách, uống rượu, cúng, ngủ, gõ chiêng….

Hình thức nhà xlúp của người Cor là kiểu kiến trúc khá đặc biệt ở vùng Trường Sơn – Tây Nguyên, có thể tìm thấy bóng dáng ngôi nhà này ở một số tộc người trên các quốc đảo vùng Thái Bình Dương. Nhà xlúp là hình thức quần cư của cả cộng đồng làng trong không gian nóc nhà dài, ở đây khái niệm làng – nóc dung hợp làm một. Hình thái cư trú nhà dài truyền thống của người Cor xưa kia là một cách bảo tồn cộng đồng trước sự tác động bất lợi từ bên ngoài.

Ngày nay, hầu hết đồng bào Cor đã và đang chuyển sang làm nhà trệt vách ván hoặc vách nứa, mái lợp tranh hay lá gồi, một số gia đình giàu có còn thuê thợ đồng bằng làm theo kiểu nhà xuyên trính như ở đồng bằng miền Trung.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây