Miền tháp cổ – Tác giả Vũ Hùng – Kỳ 2 – Trầm tích Cu Đê

Miền tháp cổ - Tác giả Vũ Hùng - Kỳ 2 - Trầm tích Cu Đê

Miền tháp cổ - NHÀ XUẤT BẢN ĐÀ NẴNG

NHÀ XUẤT BẢN ĐÀ NẴNG

Nhà nghiên cứu Vũ Hùng

Tác giả Vũ Hùng

Trầm tích Cu Đê

Nhà nghiên cứu Vũ Hùng

Từ đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nhánh núi Hải Vân đâm ngang giáp biển Đông như bức tường thiên nhiên sừng sững hiểm trở ngăn chia nam bắc một dải đất hẹp miền Trung. Bên kia Hải Vân vài cây số về phía nam là một dòng sông lặng lẽ đổ ra cửa biển Nam Ô, để lại đôi bờ lắng đọng một lớp trầm tích phù sa lịch sử – văn hóa gắn liền với hai sự kiện ghi trong chính sử có địa danh Câu Chiêm và Cụ Đê.

Năm 1311, “mùa đông, tháng 12, vua thân chinh đi đánh Chiêm Thành, vì chúa nước ấy là Chế Chí phản trắc”(1). Năm sau, “mùa hạ, tháng 5, dụ bắt được chúa Chiêm Thành Chế Chí đem về; phong em hắn là Chế Đà A Bà Niêm làm Á hầu trấn giữ đất ấy. Trước đó, Chế Chí sai người sang cống. Người ấy là trại chủ Câu Chiêm. Vua sai Đoàn Nhữ Hài bí mật ước hẹn với hắn. Đến khi vua đích thân đi đánh, đến phủ Lâm Bình, chia quân làm ba đường: Huệ Vũ Vương Quốc Chẩn theo đường núi, Nhân Huệ Vương Khánh Dư theo đường biển, vua tự dẫn quân theo đường bộ; thủy bộ, cùng tiến. Lấy Đoàn Nhữ Hài làm Thiên tử chiêu dụ sứ đi trước. Vua đến Câu Chiêm dừng lại. Nhữ Hài sai người tới chỗ trại chủ, nói rõ ý yêu cầu quốc chủ ra hàng. Trại chủ báo cáo với Chế Chí. Chế Chí nghe theo, đem gia thuộc đi đường biển tới hàng.”(2)

Năm 1470, tháng 11, “ngày mồng 6, vua xuống chiếu thân hành đi đánh Chiêm Thành”(3). Năm 1471, “mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 2, vua cho là khi đại quân sắp vào đất giặc, quân lính càng cần phải luyện tập. Do đó, xuống chiếu cho quân Thuận Hóa   ra biển tập thủy chiến. Vua nghĩ núi sông nước Chiêm có chỗ chưa biết rõ ràng, liền sai thổ tù ở Thuận Hóa  là Nguyễn Vũ vẽ hình thế hiểm dị của nước Chiêm để dâng lên. Ngày mồng 6, viên Chỉ huy Cang Viễn bắt sống Bồng Nga Sa là viên lại giữ cửa quan Cụ Đê nước Chiêm đem nộp.”(4)

Sự kiện năm 1312 hai lần nhắc đến Câu Chiêm:  vị sứ thần đồng thời là trại chủ Câu Chiêm và địa  danh Câu Chiêm, nơi hội quân và ngự dinh của vua Trần Anh Tông. Sự kiện năm 1471: 25 vạn quân của Lê Thánh Tông ngay khi “vào đất giặc” liền bắt vị quan trấn giữ “cửa quan Cụ Đê nước Chiêm”.


(1) Đại Việt sử ký toàn thư, bản in nội các quan bản, mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), NXB. Văn học và Công ty Văn hóa Đông A, Hà Nội, tái bản năm 2017, trang 266.
(2) Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, trang 266.
(3) Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, trang 466.
(4) Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, trang 469.

Hai sự kiện trên cách nhau 160 năm có liên quan đến địa danh Câu Chiêm và Cụ Đê. Theo Phan Khoang, trong Việt sử xứ Đàng Trong, cho rằng “Cu Chiêm” trong sự kiện năm 1312 “có lẽ ở biên giới núi Hải Vân”(1), nhưng ông không chỉ rõ ở phía bắc hay nam Hải Vân.

Bờ bắc Hải Vân không có địa danh nào như thế. Vua Trần Anh Tông chia làm ba đường tiến quân là thủy, bộ và đường núi, vua đi đường bộ, nên khả năng trại Câu Chiêm là điểm hội quân sau khi vượt qua núi Hải Vân, song không xác định được đã dừng lại ở đâu trong trại này và quy mô của trại Câu Chiêm. Nhưng “viên lại giữ cửa quan Cụ Đê nước Chiêm” bị bắt vào năm 1471 chắc hẳn phải là vị quan trấn giữ ở ngay cửa ngõ phía nam núi Hải Vân, tức vùng cửa sông Cu Đê ngày nay.

Thời đó, đi đường bộ vượt qua núi Hải Vân cao ngất tầng mây có hai đường, hạ đạo ở phía đông, thượng đạo ở phía tây, nhưng cả hai đều phải tiếp tục vượt qua sự ngăn cách của sông Cu Đê, nên khu vực này chính là yết hầu trên đường vào đất Chiêm Thành.

Lợi thế “hiểm ải” tự nhiên này đã được Nguyễn Phúc Anh lập lũy trấn thủ chống người anh Nguyễn Phúc Lan năm 1635; chúa Nguyễn cũng lập vành đai phòng thủ chống quân Trịnh năm 1775(2). Về sau, triều Nguyễn cũng lấy Cu Đê làm tấn hải, nơi tuần phòng vùng biển, kiểm tra người qua lại nơi đây.


(1) Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, NXB. Văn học, Hà Nội, 2000, trang 59.
(2) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tổ phiên dịch Viện Sử học phiên dịch, tập 1, NXB. Giáo dục, 2002, trang 52, 53, 182, 183

Cửa quan Cụ Đê xưa, nay là nơi có dòng sông mang tên Cu Đê, dòng sông từng in bóng những đoàn quân trong sự kiện năm 1311 và năm 1471. Những ngư dân lớn tuổi của hai làng chài Nam Ô và Xuân Dương bên cửa sông này không gọi Cụ Đê, mà vẫn thường gọi là Câu Đê. Đại Nam nhất thống chí cũng ghi là “Câu Đê giang”(1).

Năm 1311: Câu Chiêm - Năm 1471: Cụ Đê.

Năm 1311: Câu Chiêm                     Năm 1471: Cụ Đê.

Tra cứu hai địa danh Câu Chiêm ( 俱 占 ) và Cụ Đê (俱低)(2) ghi bằng chữ Nho trong chính sử tuy chữ có khác mà nghĩa trùng nhau. Chữ Câu và Cụ đều giống nhau về chữ (俱) và nghĩa (đều, cùng, tất cả, họ Câu), âm đọc có thể là Câu, Cu, Cụ. Chữ Chiêm và Đê không trùng nhau về tự dạng, nhưng khá giống nhau về nghĩa: Chiêm (占) còn gọi là Chàm; chữ Đê (低, có bộ nhân) nghĩa là thấp, cúi xuống, hạ, hèn kém; chữ Đê ( 氐 ,không có bộ nhân) nghĩa là nền, gốc, sao Đê trong nhị thập bát tú, tên một bộ lạc, rợ, ở miền tây Trung Quốc thời cổ.


(1) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tỉnh Quảng Nam, Nha Văn hóa Bộ Quốc gia-Giáo dục, 1964, trang 41.
(2) Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, trang 146 và 280, bản chữ Hán, (xem hình minh họa).

Lê Quý Đôn, khi viết về các sách (làng) người Man và người Đê nước Nam Bàn, ở phía tây Phú Yên, giải thích rằng: “Tục gọi Đê là người Chàm, Man là người Mọi”(1).

Trong địa bạ tỉnh Khánh Hòa có địa danh “Cây Sung Hạ Đê Man sách”, thuộc Hà Bạc, huyện Quảng Phước, phủ Bình Hòa(2). Hạ Đê có tự dạng , hạ (trái với thượng 上) nghĩa là dưới, cấp dưới, thấp kém, hèn mọn…, chữ Đê ( 氐 ) để chỉ người Chàm (đê đập ngăn nước là ). Như vậy, Cây Sung Hạ Đê Man sách là một làng (sách) Chàm gắn với địa danh Cây Sung.

Chữ Đê ( 氐 ) và chữ Đê ( 低 ) đều để chỉ người Chàm.

Vì vậy, Cụ Đê hay Cu Đê, Câu Đê là biến thể của Câu Chiêm và đã khoác lên một nghĩa khác có chủ ý so với nghĩa ban đầu của Câu Chiêm.

Việc đổi Câu Chiêm thành Cụ Đê sớm nhất có thể là vào cuối năm 1470, dưới triều vua Lê Thánh Tông.


(1) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, (Viện Sử học dịch), 1977, trang 122..
(2) Xem “Những Man sách trong thế kỷ 19”, trang 88 của sách này.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, sau khi ban chiếu khởi binh đánh Chiêm Thành, “Vua xem địa đồ nước Chiêm, đổi lại tên sông tên núi”(1).

Thời nhà Nguyễn, địa danh Thanh Chiêm ở Điện Bàn cũng đổi thành Thanh Triêm. Chiêm ( 占 ) thêm bộ thủy ( 氵 ) thành triêm ( 沾 ), nghĩa là nhuần thắm, nhờ sự tốt đẹp. Thanh Triêm được sử dụng chính thức trong các văn bản của chính quyền thời đó, nhưng trong dân gian vẫn gọi theo tên cũ là Thanh Chiêm cho đến tận ngày nay. Vì thế, sự thay đổi này là từ giới tinh hoa chữ nghĩa Khổng Nho trong chính quyền phong kiến.

Như vậy, địa danh Câu Chiêm lần đầu tiên ghi trong chính sử là cổ nhất. Từ Hải Vân đến sông Thu Bồn có nhiều địa danh có âm câu. Trong tộc phả họ Phan Đà Sơn – Đà Ly, một dòng tộc lâu đời ở gần sông Cu Đê, có ghi các địa danh Đà Câu, Lầu Câu, Lạc Câu, Câu Nhí. Ở Điện Bàn, có các địa danh Tứ Câu, Câu Hà, Ngân Câu, Câu Lâu, Câu Nhí(2), tháp Chàm Bàng An còn có tên cũ là Câu An. Theo giáo sư Trần Quốc Vượng, “Câu Nhí vốn là một từ gốc Chàm”(3).

Trong cuốn Xứ Đàng Trong năm 1621, Cristoforo Borri ghi rằng xứ này có 5 tỉnh, trong đó Quảng Nam, nơi hoàng tử làm trấn thủ, là Cacciam(4). Một số tài liệu khác của người phương Tây cũng phiên âm là Cacham, Kaciam(5). Phải chăng Cacciam, Cacham, Kaciam là biến âm của Câu Chiêm?

Có thể âm câu trong các địa danh Chàm đã được sử quan thời phong kiến phiên âm bằng chữ Nho. Do nghĩa của âm câu gốc Chàm vẫn còn là ẩn số, nên rất khiên cưỡng nếu căn cứ vào tự dạng chữ Nho trong câu của Câu Chiêm để truy nghĩa của địa danh này(6). Câu trong Câu Chiêm có thể là trường hợp mượn âm, nhại âm, đồng âm mà khác nghĩa. Tại Quảng Nam, địa danh Cần Húc ( 勤 旭 ) cũng tương tự. Nhiều giả thuyết cho rằng đó là địa danh gốc Chàm Kan Hu, Kan Uk hoặc Kan U(7).

Hơn bảy thế kỷ đã qua, biết bao vật đổi sao dời, nhưng hai bên bờ sông Cu Đê, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, văn hóa của cư dân trại Câu Chiêm xưa vẫn bàng bạc ẩn hiện, góp phần tạo nên hương sắc riêng một vùng cửa ải cửa sông non xanh nước biếc thiêng liêng.

Đó là hương vị biển mặn mà thơm nức mắm Nam Ô – một “balaciam” hảo hạng(8); những giếng vuông của người Chàm vẫn còn cho nước từ mạch ngầm trong vắt; các địa danh Động Trà Ngâm, Động Trà Na, Trà Nô, Trà Nệp, Trà Nưng, Câu Đê; là phế tích tháp Trà Bì còn gọi tháp Trà Vương bên cửa sông giáp biển mà đầu thế kỷ 20 dù đã đổ nát vẫn còn bóng dáng đôi tháp khá lớn; những di duệ của người Câu Chiêm đã hòa huyết qua nhiều thế hệ đang sinh cư và gắn bó thủy chung với quê cha đất tổ, với quê hương đất nước./.

Nhà nghiên cứu Vũ Hùng


(1) Đại Việt sử ký toàn thư , sđd, trang 469..
(2) Ngay nơi hình thành “Thủy Thiên Tự” của dòng họ Bùi vào khoảng nửa đầu thế kỷ 15, nay là huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, cũng có tên Câu Lãm, còn gọi là Câu Nhi. Quảng Ngãi có sông Trà Câu.
(3) Trần Quốc Vượng, “Đà Nẵng qua cái nhìn địa lý, văn hóa, lịch sử”, tạp chí Xưa và Nay số 54B, tháng 8 năm 1998.
(4) Cristophoro Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, NXB. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2016, trang 15.
(5) Nguyễn Sinh Duy, Quảng Nam và những vấn đề sử học, NXB. Văn hóa – Thông tin, 2005, trang 52.
(6) Câu (俱): đều, cùng, tất cả, họ Câu.
(7) Nguyễn Dị Cổ, “Trở lại danh xưng Cần Húc”, báo Quảng Nam,
19.12.2015.
(8) Cristophoro Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, sđd, trang 29.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây