Mùa Xuân nói chuyện cưới hỏi – Thạc sĩ, Nhà báo Phan Thanh Đà Hải

Mùa Xuân nói chuyện cưới hỏi - Thạc sĩ, Nhà báo Phan Thanh Đà Hải

Mùa Xuân nói chuyện cưới hỏi

Thạc sĩ, Nhà báo Phan Thanh Đà Hải

Mùa Xuân là mùa của cây cối đâm chồi, nẩy lộc, mùa của vạn vật sinh sôi… Cũng trong vòng quay của tự nhiên ấy, mùa Xuân cũng là mùa của tình yêu đôi lứa, khi đã chin mùi thì tiến đến đám cưới. Dân gian coi cưới hỏi là một trong ba việc lớn của đời người (sự nghiệp, làm nhà và cưới vợ) khi nhấn mạnh trong câu ca dao: “tậu trâu, cưới vợ, làm nhà…”.

Tập tục cưới hỏi từ xa xưa ở nước ta

Phong tục hôn nhân ở nước ta có từ thời Hùng Vương, được lưu truyền lại trong hình ảnh đám cưới của Sơn Tinh và Ngọc Hoa. Ngày nay, tại một số làng xã nơi các vua Hùng xưa trong các ngày hội làng thường diễn lại những sự tích phản ánh phong tục hôn nhân thời kỳ dựng nước.

H1 min - Mùa Xuân nói chuyện cưới hỏi - Thạc sĩ, Nhà báo Phan Thanh Đà HảiHội He hay còn gọi là lễ hội Rước Chúa Gái, được gắn với truyền thuyết Hùng Vương kén rể cho công chúa Ngọc Hoa (ảnh internet)

Hội He hay còn gọi là lễ hội Rước Chúa Gái ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, được gắn với truyền thuyết Hùng Vương kén rể cho công chúa Ngọc Hoa.

Truyền thuyết kể rằng: Sau khi được gả cho Sơn Tinh, nàng Ngọc Hoa vì thương cha nhớ mẹ mà không muốn đi. Dân làng phải làm các trò diễn: Lấy tiếng hú, săn lợn chạy địch, tế sóc, trình voi ngựa, chạy tùng dí và trò bách nghệ khôi hài… để làm vui lòng công chúa. Nhờ vậy nàng đã ưng thuận lên kiệu đi tiếp về nhà chồng. Lễ hội Rước Chúa Gái được nhân dân giải thích và các nhà nghiên cứu thừa nhận tích truyện đó là sự diễn lại cảnh đưa công chúa Ngọc Hoa về nhà chồng hay còn gọi là tích “Tản Viên đón vợ”.

Trước đây, ngoài những nghi lễ cầu tế hàng năm ở các Đền trên núi Nghĩa Lĩnh và trong ngôi đình Cả, nhân dân 2 làng Vi (Vi Cương) – Trẹo (Triệu Phú) còn tổ chức lễ Rước Chúa Gái và diễn trình theo các tích xưa. Thường đến ngày 25 tháng chạp hàng năm, cả 2 thôn đều cử ông Từ lên làm lễ mở cửa Đền nhưng thôn nào có đền thôn ấy cúng. Sau khi làm lễ trên núi xong, cả 2 thôn về đình Cả bàn nhau ngày cầu cúng và bàn nhau mở hội Rước Chúa Gái.

Việc lựa chọn người đóng vai Chúa Gái khá kỹ càng, phải là người trẻ, đẹp chưa có chồng, thùy mị, nết na, gia đình phong quang (không có tang chế). Gia đình có con được chọn làm Chúa Gái có nhiệm vụ xếp dọn nhà cửa thành nơi thờ kính, may sắm quần áo đẹp, đồ nữ trang cho con.

Trước ngày rước một tuần, nhà Chúa Gái được dân làng trang trí, treo đèn, kết hoa, lập bàn thờ, chăng vải đỏ tựa nhà lầu công chúa Ngọc Hoa ở. Chúa Gái từ chiều 30-12 đến ngày 7-1 (Âm lịch) không được đi ra ngoài, mọi nhu cầu ăn uống, sinh hoạt đều do bảy nữ tỳ phục vụ – bảy nữ tỳ do gia đình Chúa Gái tuyển chọn.

Ngày rước Chúa Gái cũng chính là ngày hội làng He, tổ chức vào ngày 8-1. Đoàn rước kiệu Chúa gái gồm bảy nữ tỳ đi cùng để phục vụ công chúa, trong đó có bốn nữ tỳ rước kiệu, hai nữ tỳ cầm quạt và một nữ tỳ đi theo để phục vụ và thay nhau rước kiệu.

Khi rước Chúa Gái có cờ dong trống mở, kiệu rước Chúa Gái gồm kiệu văn rước sắc và kiệu bát cống rước cổ vật. Nghi thức rước Chúa Gái trọng thể, có đủ các loại cờ, trống, chiêng, lọng, bát biểu, voi, ngựa gỗ, kiếm gươm, giáo mác.

Trong đám rước có nhiều trò như câu cá, múa, trình nghề. Khi kiệu Chúa Gái đến gần Đình Cả, có thêm hai voi, bốn ngựa – đều làm bằng giấy phát; xương bằng tre nứa; có đủ yên cương và to như voi, ngựa thật – chờ sẵn cùng đi.

H2 min - Mùa Xuân nói chuyện cưới hỏi - Thạc sĩ, Nhà báo Phan Thanh Đà Hải
Lễ hội Chử Đồng Tử – Tiên Dung (hay còn gọi là lễ hội tình yêu), gắn với truyền thuyết tình yêu Chử Đồng Tử và Tiên Dung (ảnh internet)

Ngoài ra, còn có lễ hội Chử Đồng Tử – Tiên Dung (hay còn gọi là lễ hội tình yêu) diễn ra ở huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên diễn ra trung tuần tháng 2 âm lịch hằng năm. Đây là một trong những lễ hội lớn của cả nước, gắn với truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung, một tình yêu đầy lãng mạn giữa chàng trai nghèo họ Chử và con gái Vua Hùng thứ 18 là Hùng Duệ Vương (Lĩnh Nam chích quái ghi là đời thứ 3, được hiểu là đời vua thứ 3 trong thế hệ thứ 18).

Từ xa xưa, ông cha ta cũng có những quy định về hôn nhân gia đình. Luật Hồng Đức hay còn có tên gọi Quốc triều hình luật, là bộ luật chính thức của nhà nước Đại Việt thời Lê sơ hiện còn được lưu giữ đầy đủ. Nó có thể coi là bộ luật tổng hợp bao gồm nhiều quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau như: luật hình sự, luật dân sự, luật tố tụng, luật hôn nhân-gia đình, luật hành chính,… Trong quan hệ kết hôn, luật quy định các điều kiện để có thể kết hôn là: có sự đồng ý của cha mẹ (điều 314), không được kết hôn giữa những người trong họ hàng thân thích (điều 319), cấm kết hôn khi đang có tang cha, mẹ hay chồng (điều 317), cấm kết hôn khi ông, bà, cha hay mẹ đang bị giam cầm, tù tội (điều 318), cấm anh (em) lấy vợ góa của em (anh), trò lấy vợ góa của thầy (điều 324), với một số quy định khác trong các điều 316, 323, 334, 338, 339. Tuy nhiên, Quốc triều hình luật không quy định tuổi kết hôn, nhưng trong Thiên Nam dư hạ tập (phần lệ Hồng Đức hôn giá) có viết: “Con trai 18 tuổi, con gái 16 tuổi mới có thể thành hôn”. Luật Hồng Đức cũng quy định về hình thức và thủ tục kết hôn như đính hôn và thành hôn (các điều 314, 315, 322). Lưu ý là Quốc triều hình luật cho thấy cuộc hôn nhân có giá trị pháp lý từ sau lễ đính hôn. Ví dụ điều 315 quy định: Gả con gái đã nhận đồ sính lễ mà lại thôi không gả nữa thì phải phạt 80 trượng… Còn người con gái phải gả cho người hỏi trước. Tuy nhiên, nếu trong thời gian từ lễ đính hôn cho đến khi thành hôn mà một trong hai bên bị ác tật hay phạm tội thì bên kia có quyền từ hôn.

H3. Hình ảnh trong lễ gia tiên của đám cưới thời xưa min - Mùa Xuân nói chuyện cưới hỏi - Thạc sĩ, Nhà báo Phan Thanh Đà HảiHình ảnh trong lễ gia tiên của đám cưới thời xưa (ảnh internet)

Thời nhà Nguyễn, khi lên ngôi, vua Gia Long nhận thấy cần phải điều chỉnh một số điều luật cho phù hợp với tình hình xã hội lúc bấy giờ và giao Bắc thành Tổng trấn Nguyễn Văn Thành soạn thảo và vua Gia Long cho ban hành năm 1815 với tên gọi Hoàng Việt luật lệ hay bộ luật Gia Long. Trong những quy định hôn nhân và gia đình, giá trị đạo đức luôn được Hoàng Việt luật lệ quy định rất chặt chẽ, thể hiện tư tưởng tiến bộ không những trong vấn đề kết hôn mà còn nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình.

Phong tục cưới hỏi ở nước ta xưa và nay

Theo lệ cổ, việc hôn nhân phải có đủ sáu lễ chính từ lúc dạm hỏi đến lúc cưới:

1. Lễ nạp thái là đưa lễ để tỏ ý đã kén chọn, tục gọi là chạm mặt hay giạm vợ. Sau khi nghị hôn, nhà trai mang sang nhà gái một đôi chim nhạn để tỏ ý đã kén chọn ở nơi ấy. Theo quan điểm của người xưa, chim nhạn biểu trưng cho sự thuận theo thời tiết âm dương và hàm ý người vợ sẽ theo đạo nghĩa của người chồng.

2. Lễ vấn danh (hỏi vợ) là lễ do nhà trai sai người làm mối đến hỏi tên tuổi và ngày sinh tháng đẻ của người con gái.

3. Lễ nạp cát (bói được tốt) là lễ báo cho nhà gái biết rằng đã xem bói được quẻ tốt, chọn ngày lành tháng tốt để lấy được nhau.

4. Lễ nạp tệ hay nạp trưng (đưa lễ cưói) là lễ nạp đồ sính lễ cho nhà gái, thế là việc hôn nhân đã thành.

5. Lễ thỉnh kỳ (định ngày) là lễ xin định ngày giờ làm rước dâu tức lễ cưới.

6. Lễ thân nghinh (tức lễ rước dâu hay lễ cưới): đúng ngày giờ đã định, họ nhà trai mang lễ đến để rước dâu về.

Sáu lễ kể trên thường được tiết giảm còn ba lễ:

1. Lễ dạm ngõ (Lễ chạm ngõ/Lễ xem mặt): Lễ dạm ngõ là buổi gặp gỡ giữa hai gia đình. Nhà trai xin đến nhà gái đặt vấn đề chính thức cho đôi nam nữ được tìm hiểu nhau một cách kỹ càng hơn trước khi đi đến quyết định hôn nhân.

Ngày trước, lễ dạm ngõ chỉ cốt có cau rượu để nhà gái dâng cúng cáo gia tiên, rồi chia biếu chú bác cậu cô dì. Ngoài cau rượu, nhà trai thường biếu bánh khảo hay một vài thứ bánh ưa chuộng trong vùng, trong đám bình dân có khi đưa một chục bánh đa hay bánh lá.

Ngày nay, người ta bày vẽ đưa cả trà và rượu tây, tuy nhiều nhà không cúng rượu tây.

H4. Hình ảnh lễ dạm ngõ truyền thống trong đám cưới Việt Nam min - Mùa Xuân nói chuyện cưới hỏi - Thạc sĩ, Nhà báo Phan Thanh Đà HảiHình ảnh lễ dạm ngõ truyền thống trong đám cưới Việt Nam (ảnh internet)

2. Lễ ăn hỏi còn được gọi là lễ đính hôn, là một nghi thức trong phong tục hôn nhân truyền thống của người Việt.

Đây là sự thông báo chính thức về việc hứa gả giữa hai họ. Đây là giai đoạn quan trọng trong quan hệ hôn nhân: cô gái trở thành “vợ sắp cưới” của chàng trai, và chàng trai sau khi mang lễ vật đến nhà gái đã chính thức xin được nhận làm rể của nhà gái và tập gọi bố mẹ xưng con.

Lễ ăn hỏi phải chu biện theo lời đòi hỏi của nhà gái, cho đủ phần cau trà biếu khắp họ nội họ ngoại và bạn hữu. Nơi thôn quê, ngoài một hai chai rượu để làm lễ cáo gia tiên, chỉ phải đưa đủ số cau để biếu, mỗi phần ba quả, cùng dĩ thì một quả, không bao giờ biếu hai quả (có ý nghĩa thô tục). Ở tỉnh thành, những nhà giàu sang bày vẽ kiểu cách, mỗi phần biếu một bánh chưng một bánh giày (gọi là bánh kép), một gói nem, một hộp trà và bốn quả cau bốn lá trầu; hẹp làm đơn thì biếu một bánh chưng (bánh đơn), một gói nem, một gói trà chừng vài ba ấm, và bốn quả cau bốn lá trầu, không biếu một quả chỏn hỏn khó coi, ba quả lẻ loi không thành đôi. Ngày nay cải cách, bánh kép bánh đơn và gói nem được thay thế bằng những hộp bánh quế, bích quy, bánh mặn bánh ngọt kiểu Âu Tây, nhưng thế nào cũng phải có trầu cau và trà.

Nhiều nơi ngoài trầu cau, rượu chè, còn thêm bánh phu thê, bánh cốm, lợn sữa quay… Những gia đình xưa thường dùng bánh cặp nghĩa là gồm hai thứ bánh tượng trưng cho âm dương. Những cặp bánh thường dùng trong lễ ăn hỏi là bánh phu thê và bánh cốm – bánh phu thê tượng trưng cho Dương, bánh cốm tượng trưng cho Âm. Đó là những lễ vật theo tục lệ cổ truyền; tất nhiên, chất lượng và số lượng thêm bớt thì tùy thuộc vào năng lực kinh tế của từng gia đình. Theo phong tục Hà Nội truyền thống thường có lợn sữa quay, còn theo phong tục miền Nam có thể có một chiếc nhẫn, một dây chuyền hay bông hoa tai đính hôn. Tuy nhiên, số lượng lễ vật nhất thiết phải là số chẵn (bội số của 2, tượng trưng cho có đôi có lứa), nhưng lễ vật đó lại được xếp trong số lẻ của tráp (số lẻ tượng trưng cho sự phát triển).

Lễ vật dẫn cưới thể hiện lòng biết ơn của nhà trai đối với công ơn dưỡng dục của cha mẹ cô gái. Mặt khác, lễ vật cũng biểu thị được sự quý mến, tôn trọng của nhà trai đối với cô dâu tương lai.

  1. Lễ cưới:

Cưới phải chọn ngày tốt. Âm lịch có ghi những ngày tốt thuận lợi cho hôn lễ, nhiều nhà kỹ còn xem những vì sao ngày ấy có xung sát với tuổi đôi trẻ thì cũng tránh. Chọn được ngày rồi lại chọn giờ tốt đón dâu, gọi là giờ hoàng đạo.

H5 min - Mùa Xuân nói chuyện cưới hỏi - Thạc sĩ, Nhà báo Phan Thanh Đà HảiCảnh rước dâu trong đám cưới Việt Nam (ảnh internet)

Đi đón dâu sợ ra ngõ gặp gái thì giông và là điềm chẳng lành, phải để một người đàn ông vui vẻ dễ tính đón ngõ, đi ra gặp thì reo lên rằng may gặp trai.

Người dẫn đầu phải là một cụ già hiền lành phúc hậu, nhà không có tang, vợ chồng còn song toàn và lắm con nhiều cháu. Cụ già cầm một bó hương thắp cháy hay bưng một lư nhỏ đốt trầm, đám sang trọng cụ già thường mặc áo thụng xanh có che lọng. Liền sau cụ già là những người đội hoặc khiêng lễ cau rượu xôi gà hay xôi lợn… đi theo thứ tự như vậy gọi là dẫn lễ cưới. Ngoài anh chị em bạn bè chú rể và hai hay bốn người phù rể, phải có những ông bác, bà cô, ông cậu, bà dì, cùng đi với ông thân chú rể, đi theo sau lễ, trừ người mẹ không bao giờ đi đón con dâu. Tùy theo tục lệ, có nơi bố chồng đi đón, có nơi bố chồng không đi đón con dâu.

Người chủ hôn đứng ra nói đã chọn được ngày lành tháng tốt xin đón dâu; phải có cơi trầu xin dâu thường là một tráp xếp đầy trầu têm cánh phượng, cau non bổ tư, vỏ trổ hoa trổ chữ, người đại diện mẹ chồng (một bà đứng tuổi) bưng ra đặt trước mặt nhà gái, nói xin dâu.

H6 min - Mùa Xuân nói chuyện cưới hỏi - Thạc sĩ, Nhà báo Phan Thanh Đà HảiĐám cưới ở Hà Nội thập niên 1940 – 1950 (ảnh internet)

Mâm lễ được đặt lên bàn thờ, cụ già thắp hương vái, nhà gái vái trả lễ, rồi một vị đứng đầu họ nhà gái sẽ ra đón đoàn xin dâu vào. Sau đó, cô dâu chú rể đến lạy trước bàn thờ gia tiên, xin tổ tiên chấp nhận cho cô dâu chú rể đem hộp trầu đi mời mọi người trong họ, người bề trên và người cao tuổi mời trước. Trước khi về nhà chồng, cô gái đến lạy tạ ông bà, cha mẹ. Thông thường, lúc này cha mẹ cô gái sẽ cho cô dâu một vật gì đó làm kỷ niệm. Nhà giàu thì cho hoa tai, nhẫn cưới hoặc tiền. Nhà nghèo thì cho cái quạt, gương soi.

Chàng rể cũng làm lễ mừng bố mẹ vợ để tạ công nuôi dưỡng vợ mình, còn cô dâu làm lễ mừng là có ý nghĩa tạ ơn cha mẹ tác thành lương duyên giai ngẫu cho mình. Khi chàng rễ mừng lễ, bố mẹ vợ thường có vài lời dạy dỗ ban cho cả hai vợ chồng và ban cho chú rễ một món tiền mừng, hay một đồ vật gì quý giá. Trong khi ấy, các vị trong họ hàng nhà gái cũng có mừng tiền cho cô dâu chú rễ. Ngày xưa, khi làm lễ mừng, người ta trải chiếu, chú rễ lễ bốn lễ ba vái. Việc lễ sống ông bà, cha mẹ sau này được tục lệ các nơi bãi bỏ. Lễ mừng cha mẹ vợ xong, chú rễ được người trong họ nhà vợ dẫn đi lễ nhà thờ tổ họ nội ngoại của cô dâu, có mấy người phụ rể đi theo. Cũng có nơi, chú rễ phải đi lễ nhà thờ họ trước, rồi lúc trở về mới làm lễ mừng bố mẹ vợ.

Khi lễ gia tiên và lễ nhà thờ tổ xong, đôi trẻ mừng tuổi ông bà, cha mẹ vợ. Việc mừng tuổi xong, người chủ hôn đưa chú rễ đi chào tất cả họ hàng có mặt trong đám cưới, rồi vào tiệc ăn uống do nhà gái làm cỗ mời nhà trai.

H7. Một đám cưới xưa ở Huế min - Mùa Xuân nói chuyện cưới hỏi - Thạc sĩ, Nhà báo Phan Thanh Đà HảiMột đám cưới xưa ở Huế (ảnh internet)

Tiệc xong, họ nhà trai đứng lên chào biệt, xin phép cho được rước dâu. Họ nhà gái xếp đặt có khi mời ba bốn chục người trong họ đi đưa dâu, có phù dâu, có khi cho cả trẻ con đi, trừ cha mẹ vợ không bao giờ đưa con gái về nhà chồng. Cô dâu về nhà chồng đem theo những cái hòm đựng quần áo và vật dụng dùng riêng của cô dâu.

Lúc họ nhà trai ra về nhà gái cho bưng tráp trầu đứng trước cửa, mấy bà mời trầu đưa tận tay từng người, có nhà đưa mỗi người hai hay bốn miếng trầu bọc giấy đỏ cắt tua buộc chỉ màu rất đỗi trang trọng.

Đưa dâu về, vẫn ông già cầm hương đi dẫn đầu, đoàn người đi lần này đông đảo gấp đôi vì có thêm họ nhà gái.

Đám đi về đến ngõ, nhà trai thường đốt pháo mừng, hiện nay đã bỏ vì cấm đốt pháo. Thân phụ chú rể nhanh chân về trước rồi cùng vài ba người họ đã ra khỏi nhà hoặc ra trước cổng, đón tiếp họ nhà gái, mời vào. Lúc này thân mẫu chú rể đã xách bình vôi đi, lánh mặt một lúc rồi mới về chào mừng tiếp khách.

Cô dâu theo chú rể đến chào cha mẹ, rồi cùng đi lễ tổ ở nhà thờ họ, phù dâu phù rể đi theo, với vài người bà con hướng dẫn, nếu nhà thờ họ ở xóm trên hay xóm dưới có hơi xa cũng không được khất để đến Tết. Trở về đến nhà, cả đôi vợ chồng phải vào lễ gia tiên; trước đó ngay từ buổi sáng gia chủ đã đèn hương dâng lễ vật cúng và khấn cáo. Xong đấy, lại đến chuyện lạy mừng ông bà cha mẹ như ở bên nhà gái, nhưng hầu hết các đám đều đã chước bỏ.

H8 min - Mùa Xuân nói chuyện cưới hỏi - Thạc sĩ, Nhà báo Phan Thanh Đà HảiĐám cưới tập thể thời nay ở Đà Nẵng (ảnh Đinh Lơ)

Cô dâu lễ phép đến trước mặt từng người chào nhận họ bên nhà trai: ông bác, bà thím, ông cậu, bà cô… khắp lượt, chú rể đi sát cánh. Bà con nội ngoại ai cũng ngỏ lời khuyên mừng, nào là:

– Ăn ở thuận hòa, trên kính dưới nhường,
– Sắt cầm hòa họp, bách niên giai lão,
– Bằng rày sang năm có cháu cho bà bế,
– Đầu năm sinh con trai, cuối năm sinh con gái…

Kèm theo lời khuyên mừng có người cho tiền đôi trẻ để làm vốn. Ngày nay bỏ tục ấy rồi, bà con ân tình hay bạn thân, thay vì cho tiền, mua sắm đồ mừng đáng giá, đồ trang sức, đồ thiết dụng.

Ở thôn quê họ nhà gái thường ở lại ăn cỗ, đã thành lệ như vậy, trừ trường họp bất thường đã thỏa thuận với nhau là nhà gái sẽ ra về sau vài tuần trầu trà. Trong bữa cỗ nhà trai thết, thường có thêm mấy đứa trẻ lối xóm đã tự động đi theo đám rước dâu vào ngồi ăn.

Ngày xưa, ở thành thị nhà trai cũng thết cỗ họ nhà gái. Cỗ cưới nhà nào cũng hết sức làm thịnh hậu, thành tâm đã vậy lại còn cố gắng lấy tiếng. Nhiều nhà phú quý còn biếu thực khách cả hai họ mỗi người một gói mấy thứ bánh ngọt bánh bùi bọc trong khăn lụa hồng. Ngày nay đã bỏ hẳn lệ mời cỗ và biếu bánh như vậy. Nhà trai thường thết tiệc trà bánh mặn bánh ngọt, hoặc thết champagne.

Lúc họ nhà gái ra về vẫn có lệ mời trầu biếu trầu; nhiều nhà ngày nay gói bọc mỗi phần hai hay bốn miếng trong giấy bóng kính đỏ sẫm, trầu vàng têm cánh phượng, cau non bổ tư vỏ trổ hoa trổ chữ.

Phan Thanh Đà Hải

     


     

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây