Nguyễn Công Trứ – Một quan niệm mỹ học mới mẻ đặc sắc!

Nguyễn Công Trứ - Một quan niệm mỹ học mới mẻ đặc sắc!

Mỗi tác giả văn chương lớn đều là một nhà mỹ học, với Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) thì quan niệm mỹ học “khác thường” của ông thể hiện rõ trong bài “Yêu hoa”: “Ngồi thừ gẫm trăm hoa ai nhuốm/ Một hoa là riêng một sắc hương”. Tác phẩm nghệ thuật như “trăm hoa ai nhuốm” dù đa dạng hình thức nhưng phải “riêng một sắc hương” tư tưởng. Còn là một mỹ học tiếp nhận đậm tính cá thể: “Hoa với khách như đã có hẹn/ Ưa màu nào màu ấy là xinh”.

Quan niệm này tương đồng với quan niệm cái đẹp mang tính cá biệt chủ quan (cái đẹp không ở màu áo cô thiếu nữ mà ở con mắt kẻ si tình) của Cantơ (1724-1804) – nhà triết học cổ điển Đức. Nhưng không hề có sự ảnh hưởng, điều ấy cho thấy tính hiện đại của nhà thơ “ngông” xứ Việt ta. Nét đặc sắc của Nguyễn Công Trứ là quan niệm này nhất quán trong cuộc đời và trước tác: “Ưa màu nào màu ấy là xinh” cá tính, bản lĩnh, chỉ tin vào mình, đi theo mình trên suốt con đường hành đạo và hành lạc.

Gia đình Nguyễn Công Trứ điển hình cho truyền thống Nho gia “thi thư thế phiệt”. Thân sinh là Nguyễn Công Tấn học vấn uyên thâm, có tài văn chương, từng làm quan cho nhà Lê, sau đó về quê sống trong an bần lạc đạo. Là người có tư chất thông minh, Nguyễn Công Trứ sớm là học trò các bậc danh nho. Hơn nửa cuộc đời, kể từ lúc sinh ra cho đến lúc thi đỗ (42 tuổi) rồi làm quan, ông sống trong cảnh túng thiếu. Sinh ở Thái Bình êm đềm nhưng tuổi học trò lại trôi qua trên mảnh đất xứ Nghệ dữ dội, nghèo nhưng giàu chí. Lớn lên gặp buổi loạn lạc triền miên, thời thế không ổn định, là môn đệ cửa Khổng sân Trình nhưng lúc nào cũng sống, hành động theo lối riêng. Được đào tạo khuôn phép để làm con người khuôn phép mà suốt đời như muốn phá bỏ mọi ràng buộc để thành con người nổi loạn.

Ông từng khẳng định: “Một trang nam tử thông minh/ Phải là khác thường trong thiên hạ” (“Chí nam nhi”) đã khái quát con người cá tính Nguyễn Công Trứ như một tuyên ngôn hiện đại – điều mà hôm nay thế giới vẫn nói “mĩ học của cái khác” để nói về đặc trưng của cái tôi khác thường, độc đáo.

Khẳng định trước hết bằng cách hằn cái nhân xưng của mình vào tác phẩm. Trong số những bài thơ để lại cho hôm nay, có 41 lượt nhà thơ dùng đại từ ngôi thứ nhất chỉ cá nhân mình với: ngô, ngã, mình, tao, ta, ông. Có lần nói thẳng “ông Hy Văn”, có khi lại dùng đại từ chỉ định “đây”: “Rằng đây há phải khách tầm thường” (“Tự thuật”), khi lại dùng đại từ phiếm chỉ “ai”, “ai” đây cũng là mình: “Trong trần ai ai kém ai đâu” (“Đường công danh”)…

Hai chữ “cá tính” đúng nhất với Nguyễn Công Trứ, cả ngoài đời, cả trong trước tác nên chung quanh ông có nhiều giai thoại. Là người có ý chí, hoài bão lớn lao, thể hiện cả trong đời trong thơ. Với chí kinh bang tế thế, chí tung hoành ngang dọc: “Chí làm trai Nam Bắc Đông Tây/ Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể” (“Chí khí anh hùng”). Ông quan niệm làm trai phải có công danh: “Không công danh thà nát với cỏ cây”. Khát vọng công danh và trả nợ công danh cứ trở đi trở lại trong thơ: “Phải có danh gì với núi sông” (“Đi thi tự vịnh”) chứng tỏ công danh với ông thật lớn, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để hành đạo, hành đạo thành công thì hành lạc, thậm chí có lúc song hành.

Ông hay nói tới “tang bồng hồ thỉ”, “kinh luân”, “trời đất”: “Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc/ Nợ tang bồng vay trả trả vay” (“Chí khí anh hùng”). Là người hiếm hoi có sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, trên thực tế ông là người xuất chúng từng lập nên một sự nghiệp lẫy lừng với nhiều tài năng: tài trị nước, tài cầm quân, cả tài lẻ cầm, kì, thi, họa… Cái tài nào cũng để lại dấu ấn, hầu như cái tài nào cũng là thiên bẩm, tự nhiên vậy. Rất có ý thức về cái tài nên ông luôn khoe với giọng điệu đầy kiêu hãnh: “Trời đất cho ta một cái tài/ Giắt lưng dành để tháng ngày chơi” (“Cầm kì thi tửu”). Ông “thị tài”, cậy tài và phô tài cũng rất “ngông”, coi mình có tài là do trời đất sinh ra nên mình là người của trời đất: “Trời che ta, đất chở ta/ Vốn trời đất sinh ta là có ý” (“Trần ai ai dễ biết”). Không ngẫu nhiên ông hay nói tới hai chữ “vũ trụ”: “Vũ trụ chức phận nội/ Đấng trượng phu một túi kinh luân” (“Gánh trung hiếu”). Đành rằng được tiếp thu từ Lục Cửu Uyên đời Tống: “Vũ trụ nội sự nãi kỉ phận nội sự dã” (Việc trong vũ trụ là việc của ta, việc của ta là việc trong vũ trụ vậy”, nhưng qua lời nói và việc làm cho thấy Nguyễn Công Trứ có ý thức cao về nghĩa vụ cá nhân phải làm sáng danh vũ trụ.

Ngat nguong Hy Van min - Nguyễn Công Trứ - Một quan niệm mỹ học mới mẻ đặc sắc!Ngất ngưởng Hy Văn!

Không chỉ tài năng, Công Trứ còn rất tài hoa, tài cầm, kì, thi, tửu: “Cầm kì thi tửu với giang sơn/ Dễ mấy kẻ xuất trần xuất thế” (“Chữ nhàn”). Tài hoa này luôn gắn liền với những chuyến ngao du: “Đàn một cung, cờ một cuộc, thơ một túi, rượu một bầu/ Khi đắc chí, ngao du, ờ cũng phải” (“Thích chí ngao du”). Đặc biệt là đi cùng với thú “yến yến hường hường” (đào nương, ca kỹ): “Thú tiêu sầu rượu rót thơ đề/ Có yến yến hường hường mới thú” (“Tài tình”). Thực tế cũng khẳng định ông rất mực đào hoa, lúc nào cũng có bóng hồng đi theo, hơn bảy mươi tuổi còn cưới thiếp. Suốt một cuộc đời sống tận hiến, hết mình ông coi chữ “nhàn” không chỉ là nhàn nhã rong chơi mà là việc hành lạc. Đúng là một triết lý sống độc đáo, không giống ai.

Với ông hành lạc để hưởng thụ, từ thú thanh cao ngao du sơn thủy, cầm kì thi tửu đến thú vui trần tục bài bạc, rượu chè: “Đời người mà không ăn chơi/ Sống ngàn năm cũng như chết yểu” (“Đánh thức người đời”). Đã có ý kiến cho rằng thế là “hiện sinh”. Không phải. Bởi ông đã có một sự nghiệp hành đạo lẫy lừng để có quyền hành lạc và nâng nó lên thành một chuẩn mực giá trị. Thế nên có “nợ nam nhi”, “nợ trần hoàn”, “nợ tang bồng”, “nợ công danh”…, thì phải có “chí công danh”, “chí tang bồng”, “chí nam nhi”, “chí trượng phu” và “chí hành lạc”… Nợ thì phải trả, chí phải thực hiện. Chí hành lạc đi cùng với chí công danh nhưng thường là sau khi thỏa chí kinh luân thì mới: “Tiêu dao nơi cùng cốc thâm sơn/ Nào thơ, nào rượu, nào địch, nào đờn/ Đồ thích chí vẫy vùng trong một túi/ Mặc ai hỏi, mặc ai không hỏi/ Gẫm việc đời mà ngắm cảnh tục thanh…” (“Luận kẻ sĩ”).

Hành lạc với ông không chỉ là một cái thú, cao hơn là một nghề – nghề chơi, mà “nghề chơi cũng lắm công phu” nên phải có “tài nghệ”. Do vậy ăn chơi cũng là cái nợ, “nợ phong lưu”: “Cõi trần thế nhân sinh là khách cả/ Nợ phong lưu kẻ giả người vay” (“Nợ phong lưu”). Quan niệm cuộc đời này chỉ là sự chơi, trò chơi, con người phải làm chủ cuộc chơi, ý thơ ở câu “Cuộc hành lạc vẫy vùng cho thỏa chí” vang lên rất nhiều lần, như giục giã bản thân như mời gọi mọi người hưởng thụ. Vì: “Cuộc hành lạc được bao nhiêu là lãi đấy/ Nếu không chơi thiệt ấy ai bù” (“Chơi xuân kẻo hết xuân đi”). Ông quyết tâm thực hiện chí “tang bồng hồ thỉ” thế nào thì cũng hăng say, nhiệt thành với chí hành lạc như vậy: “Chơi thì chơi chẳng chơi thì chớ/ Đã chơi cho lệch đất nghiêng trời” (“Cầm kì thi tửu”). Được như vậy, ở đời, dễ có mấy ai!

Hậu thế đánh giá rất cao con người nghệ sĩ Nguyễn Công Trứ với vai trò sáng tạo ra một nghệ thuật ca trù (hát nói): “Cuộc tỉnh say bầu rượu chén trà/ Cơn đắc ý thùng thùng ba tiếng trống/ Nay tiếng đàn tính tỉnh tình tang/ Thú vui ném ngang vành tráng sĩ” (“Cầm kì thi tửu”). “Ngón” chơi này, thú chơi này tất yếu nảy ra một thú khác – thú ả đào “hường hường yến yến”. Ông coi “tình lụy” là chuyện tất yếu, phải có. Cũng là một thú ăn chơi!

Con chim đại bàng Nguyễn Công Trứ cất hai cánh “hành đạo” và “hành lạc” khỏe khoắn bay vào bầu trời văn hóa tài tử với những đường bay thật khác biệt để bao nhà Nho thời đó trầm trồ, thán phục, còn bạn đọc ngày nay ngạc nhiên, ngưỡng mộ!

Con người như thế tất yếu ưa tự do, không ưa khuôn khổ, thích cuộc sống “Nhân sinh thích chí” thỏa ý thích cá nhân, vượt ra ngoài những trói buộc khắt khe để “ngông nghênh”, “ngất ngưởng”, như trêu ghẹo, thách thức cuộc đời. Cũng là lẽ tự nhiên, con người ấy sẽ bỏ ngoài tai những lời đàm tiếu thế gian để đi theo tiếng gọi cá nhân bên trong: “Tiếng thị phi gác để ngoài tai” (“Cầm kì thi tửu”); “Khen chê phơi phới ngọn đông phong” (“Bài ca ngất ngưởng”) mà ngạo nghễ khẳng định cái tôi: “Người có biết ta chăng thì chớ/ Chẳng biết ta, ta vẫn là ta”…

Cuộc đời và trước tác Nguyễn Công Trứ để lại một bài học: trước hết phải có một quan niệm mỹ học mới mẻ, “khác thường”, lấy đó làm điểm tựa vững vàng nhà nghệ sĩ mới có thể kiến tạo nên một thế giới nghệ thuật của riêng mình!

Nguyễn Thanh Tú

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây