Phùng Văn Khai và “Thơ viết cho mình”: Khi lịch sử đi qua một tâm hồn riêng – Tác giả: Tiến sĩ Hà Thanh Vân

Phùng Văn Khai và “Thơ viết cho mình”: Khi lịch sử đi qua một tâm hồn riêng - Tác giả: Tiến sĩ Hà Thanh Vân

Tiến sĩ Hà Thanh Vân.

Sau nhiều năm bền bỉ với dòng tiểu thuyết lịch sử, tác giả Phùng Văn Khai bất ngờ trở lại trong một diện mạo văn chương khác, một thi sĩ đối diện với chính mình. “Thơ viết cho mình” không chỉ là tiếng nói riêng tư của một người cầm bút từng đi qua nhiều miền sử Việt, mà còn là cuộc trở về sâu thẳm với cội nguồn, làng quê, cha mẹ, người vợ, những phận người khuất lấp và những câu hỏi chưa nguôi về lịch sử, nhân sinh. Viết cho mình, nhưng tập thơ mở ra một không gian rộng lớn của ký ức dân tộc và lòng trắc ẩn, nỗi tâm tình của con người.

Ba tập thơ của Đại tá, nhà văn Phùng Văn KhaiBa tập thơ của Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.

Một cuộc trở về với lịch sử, cội nguồn và với chính mình

Trong đời sống văn học đương đại, Phùng Văn Khai là một gương mặt khá đặc biệt, một nhà văn quân đội viết sung sức ở nhiều thể loại, nhưng dấu ấn nổi bật nhất của anh lại nằm ở mảng tiểu thuyết lịch sử. Anh hiện là Đại tá, nhà văn, Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Những tác phẩm như “Phùng Vương”, “Ngô Vương”, “Nam Đế Vạn Xuân”, “Triệu Vương phục quốc”, “Lý Đào Lang Vương” “Lý Phật Tử định quốc”, “Trưng Nữ Vương”… cho thấy một đường văn bền bỉ hướng về lịch sử dân tộc, về những lớp trầm tích văn hóa, quốc thống, cội nguồn. Ở địa hạt ấy, Phùng Văn Khai thường xuất hiện như một người điền dã cần mẫn, một người đọc sử kiên nhẫn, một người kể chuyện muốn nối lại những sợi dây đã đứt, đã khuất giữa quá khứ và hiện tại. Trong một cuộc trò chuyện trên trang website của Hội Nhà văn Việt Nam, tác giả Phùng Văn Khai từng thổ lộ rằng mình viết tiểu thuyết lịch sử trước hết là để “tri ân tiền nhân” và cho rằng nhà văn cần có trách nhiệm đối với lịch sử dân tộc.

Tập "Thơ viết cho mình" của Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.Tập “Thơ viết cho mình” của Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.

Từ nền tảng ấy, tập thơ “Thơ viết cho mình” có thể xem là một sự tiếp nối, nhưng cũng là một bước ngoặt rẽ trong sáng tạo văn chương của Phùng Văn Khai. Nếu trong tiểu thuyết lịch sử, Phùng Văn Khai thường đi vào đại tự sự dân tộc qua các nhân vật, triều đại, biến cố, sự kiện… thì trong tập thơ này, lịch sử, văn hóa, quê hương và nhân sinh lại được đi qua một con đường gần gũi hơn và cũng cá nhân hơn. Đó là con đường của cái tôi trữ tình. Cái tôi ấy vừa là người điền dã, người đọc sử, người lính, người con, người chồng, người viết văn, người từng va đập với đời sống, vừa là một kẻ tự vấn không ngừng trước những điều còn chưa thể giải quyết xong trong tâm tưởng của mình.

Theo lời giới thiệu in ở đầu tập thơ của chính tác giả, tập thơ được viết trong một khoảng thời gian rất ngắn. Bài thơ đầu tiên viết chiều 20.11.2025 tại sân chùa Gia Thượng, bài tạm khép cũng tại sân chùa này ngày 13.1.2026. Tác giả gọi đó là “một kỷ lục, một dấu mốc hết sức thân thương” trong nghiệp văn bút của mình. Anh cũng cho biết các bài thơ được viết khá tự nhiên, viết tay trên những tờ lịch cũ, rồi gửi cho các bạn hữu thẩm định. Chính hoàn cảnh ra đời ấy khiến tập thơ mang dáng vẻ của một dòng chảy tuôn trào cảm xúc tự nhiên và mãnh liệt. Tập thơ do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành vào cuối tháng 4 năm 2026 và khi ra mắt đã gây tiếng vang trong lòng những độc giả yêu văn chương.

Tập "Thơ viết cho mình" của Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.Tập “Thơ viết cho mình” của Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.

Điều đáng chú ý là nhan đề “Thơ viết cho mình” không nên được hiểu theo nghĩa thuần túy cá nhân và khép kín. “Cho mình” ở đây là cho cái phần cá nhân sâu kín nhất của người viết. Nhưng càng đi vào cái tôi cá nhân, thơ Phùng Văn Khai càng mở ra nhiều nẻo ngả khác với những chủ đề về lịch sử, dân tộc, làng quê, cha mẹ, vợ con, người lao động, chiến tranh, nỗi niềm văn chương, những số phận bé nhỏ bên lề… Tác giả cũng tự xác định tập thơ trước hết là sự “giải phóng và thỏa mãn chính mình”, đồng thời mỗi bài thơ phải được kể ra như một câu chuyện hay thậm chí hội tụ nhiều câu chuyện, đan cài vào nhau để làm giàu thêm cho trí tuệ và tâm hồn con người.

Về cấu trúc, tập thơ chia thành hai phần lớn gồm “Thơ từ ký ức” và “Thơ viết cho mình”. Phần thứ nhất là một hành trình qua các địa danh, di tích, danh nhân, không gian văn hóa như Sông Hồng, Cổ Loa, Chùa Cổ Pháp, Văn Miếu, Đường Lâm, Phố Hiến, Phủ Trịnh, Cầu Long Biên, Cột cờ Hà Nội, Chùa Nôm, Chùa Gia Thượng, Đền Đôi Cô, Triều Khúc, đền thờ các danh tướng, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Minh Chuyên, tranh Đông Hồ, hoa đại Nhà số 4 Lý Nam Đế… Phần thứ hai đi sâu hơn vào những đối thoại nội tâm với người cha, với đường làng, với tiếng đàn, với ông hề, với chị đánh giày, với người vợ, với sông Hồng, với Trương Chi, Trọng Thủy, người mẹ đơn thân, người trong song sắt, cánh đồng làng, với hoa đào, lô cốt bên sông, ngã ba sông, Cửa Bắc, với hoa sen… Tập thơ cho thấy biên độ đề tài rất rộng, từ sử thi dân tộc đến đời sống thường nhật, từ tượng đài lịch sử đến một người đánh giày bên cửa ô, từ nhân vật lịch sử Phan Bội Châu và bác sĩ Asaba Sakitaro đến người cha lặng im qua đời trong đêm Noel lạnh buốt. Trước mỗi bài thơ có những dòng viết thổ lộ tâm tình vì sao lại có cảm xúc, cảm hứng để từ đó có sáng tác này. Những diễn giải ấy góp phần soi sáng thêm những trường nghĩa của tập thơ.

Đại tá,nhà văn Phùng Văn Khai và nhà thơ Đặng Nguyệt AnhĐại tá,nhà văn Phùng Văn Khai và nhà thơ Đặng Nguyệt Anh.

Lịch sử như một dòng sông chưa ngừng chảy

Đặc điểm nổi bật trước tiên của “Thơ viết cho mình” là cảm thức lịch sử. Nhưng lịch sử trong thơ Phùng Văn Khai không phải thứ lịch sử khô cứng trong niên biểu hay sách giáo khoa. Nó là lịch sử đã thấm vào đất, vào nước, vào cây, vào đình, đền, chùa, miếu, vào tiếng chuông và khói hương trầm.

Ở bài thơ “Sông Hồng”, dòng sông vừa là địa lý, vừa là quốc thổ, vừa là người mẹ, vừa là chứng nhân của dân tộc.

“Lặng thầm đã mấy nghìn năm
Mà sông vẫn trẻ như trăng lạ kỳ
Như người, sông mải thiên di
Mà thành quốc thổ xanh rì nghìn năm.”

Đại tá,nhà văn Phùng Văn Khai (áo trắng) cùng các chiến sĩ.Đại tá,nhà văn Phùng Văn Khai (áo trắng) cùng các chiến sĩ.

Cách gọi sông như “người” cho thấy Phùng Văn Khai không nhìn thiên nhiên như cảnh vật bên ngoài, mà như một sinh thể văn hóa sống động. Sông Hồng đi qua thơ anh không chỉ bằng màu nước nặng phù sa, mà bằng ký ức nghìn năm của quốc gia. Đến khổ thơ sau, dòng sông lại hóa thành bóng người mẹ:

“Mẹ ta – một loài chim trên sóng
Bão gió triền miên suốt phận người
Mẹ cũng như sông về vô tận
Để con nguyên vẹn những ban mai.”

Hình ảnh người mẹ và dòng sông nhập vào, hòa quyện làm một, tạo nên một trục biểu tượng rất quan trọng trong tập thơ, đó là trục cội nguồn. Với Phùng Văn Khai, cội nguồn không phải một khái niệm trừu tượng, mà trái lại rất thân quen. Nó có dáng mẹ, có bãi bờ, có hương bưởi, có sân đình, có tiếng chuông, có vệt bùn trên chân người nông dân.

Khi viết về Cổ Loa, nhà thơ không chỉ nhắc đến một kinh đô cổ mà còn chạm vào bi kịch lịch sử của tình yêu, quyền lực, mất nước và nỗi oan khiên.

“Lẫy nỏ oan khiên phận thiếp – chàng
Ngai vàng gãy đổ nước tan hoang
Gươm báu đứt lìa tình phụ tử
Thân trai ngậm ngọc lệ đôi hàng.”

Chỉ là bốn câu thơ, nhưng trong đó có cả một huyền sử đau đớn với những hình tượng in sâu trong lòng dân tộc mấy ngàn năm. Đó là Mỵ Châu, Trọng Thủy, An Dương Vương, nỏ thần, gươm báu, trai ngậm ngọc. Điều đáng chú ý là Phùng Văn Khai không viết lịch sử bằng giọng phán xét đơn giản. Anh thường đặt lại câu hỏi trước những điều tưởng chừng như đã an bài. Lịch sử trong thơ anh có nhiều oan khiên, nhiều vùng mờ, nhiều phận người bị nghiền nát giữa bánh xe quyền lực.

nhà văn Phùng Văn Khai 2

Bài thơ “Văn Miếu” cũng rất tiêu biểu cho lối nhìn ấy. Trước bia đá, bảng vàng, nhà thơ không chỉ ngợi ca hiền tài mà còn hỏi về người thợ đá, hỏi về lòng trung chính, hỏi về giá trị thật sự của công danh.

“Bảng vàng, bia đá thiên thu
Mấy trăm năm vẫn trầm tư như người
Những ai tên tuổi rạng ngời
Đâu người thợ đá xương phơi dặm ngàn”

Đây là cái nhìn nhân văn phía sau những vinh quang. Phùng Văn Khai không chỉ nhìn thấy người được ghi tên trên bia, mà còn nhìn thấy người làm ra tấm bia ấy. Anh không chỉ nhìn thấy ánh sáng của bảng vàng, mà còn thấy bóng dáng lẩn khuất của những phận người vô danh. Vì vậy, nhân vật lịch sử trong thơ anh không phải chỉ là vua chúa, tướng lĩnh, danh nhân…, mà còn có dân thường, người thợ đá, bà mẹ già, người lính…

Chính ở đây, có thể thấy thơ Phùng Văn Khai gần với văn xuôi lịch sử của anh ở một điểm là luôn muốn kéo quá khứ về đối thoại với hiện tại. Nhưng thơ khác văn xuôi ở chỗ nó không cần dựng lại những bức tranh toàn cảnh. Nó chỉ cần một tiếng chuông chùa, một bóng cây, một vệt rêu xanh, một câu hỏi. Lịch sử vì thế không còn là bức tường thành uy nghi, mà trở thành tiếng vọng trong lòng người. Tập thơ có nhiều bài viết trước các di tích lịch sử, song có lẽ điều khiến cho người đọc nhớ nhất không chỉ là di tích, mà còn là dáng đứng của cái tôi trữ tình trước di tích. Một cái tôi trữ tình kính cẩn, day dứt, đôi khi nghi ngờ, đôi khi đau đớn, đôi khi muốn xới lại một lớp đất cũ để tìm trong đó một mạch nước nhân tình thế thái.

nhà văn Phùng Văn Khai 3

Cội nguồn làng quê và nỗi đau mất dấu 

Một mạch thơ quan trọng khác của “Thơ viết cho mình” là cảm thức về nguồn cội quê hương. Đó là quê hương vùng đồng bằng Bắc Bộ với đình làng, phiên chợ, dòng sông, cánh đồng, cây đa, cây gạo, hương bưởi, hoa ngâu, chó đá, rùa đá… Nhưng quê hương trong “Thơ viết cho mình” không chỉ là miền hoài niệm êm đềm. Nó còn là một vùng đau im lặng, bởi nhiều thứ đã và đang mất đi.

Bài thơ “Chợ Ghênh” là một hồi ức xúc động về tuổi thơ:

“Ngày con năm tuổi mong bà
Chợ Ghênh về sớm chia quà giữa sân
Bỏng ngô, kẹo lạc, kẹo vừng
Nậm rượu quê để phần ông khề khà.”

Nhưng hồi ức ấy lại nhanh chóng va đập vào hiện tại:

“Năm mươi ba tuổi khóc cười
Chợ Ghênh thăm lại… đâu rồi chợ xưa
Tiếng Anh du khách xì xồ
Bên đường chỉ thấy ô tô gắt còi.”

Sự thay đổi của chợ quê không được nhìn bằng thái độ cực đoan chống lại hiện tại, mà bằng một nỗi buồn của người nhận ra ký ức đã bị di dời đi. Chợ vẫn còn đó, nhưng “chợ xưa” thì đã biến mất. Không gian vật chất thay đổi kéo theo sự biến đổi của tâm thức, sự xót xa của tâm cảm.

Ở bài thơ “Từ cánh đồng làng”, nỗi mất mát ấy như sâu sắc hơn, trĩu nặng tâm tư hơn. Có lẽ “Từ cánh đồng làng” là một trong những bài thơ giàu tính xã hội nhất của tập thơ. Cánh đồng tuổi thơ, nơi có lưng trâu, hạt gạo, củ khoai, cơm cúng bà của người cha, thì nay bị thay bằng nhà máy, bê tông, ô tô, ống khói. Nỗi đau ở đây không chỉ là nỗi buồn nuối tiếc cảnh cũ, mà  còn là nỗi lo mất gốc. Khi cánh đồng mất, tuổi thơ cũng mất, khi cây mất, ký ức cũng bị bật rễ, khi làng bị bê tông hóa, con người bỗng đứng chênh vênh trong chính nơi từng sinh ra mình.

“Tìm đâu cánh đồng ngày xưa nữa
Cái tuổi lên mười trên lưng trâu
Trâu giờ cũng đã xa thăm thẳm
Chú Cuội chừng như cũng bạc đầu”

Cánh đồng làng trong thơ Phùng Văn Khai không đơn thuần chỉ là nơi sản xuất, gặt hái qua những mùa vụ. Nó còn là nơi nuôi sống bao thế hệ, nơi giữ gìn đạo lý gia đình, nơi có hạt gạo, củ khoai, cơm cúng ông bà:

“Cánh đồng nuôi sống bao thế hệ
Hạt gạo đồng làng nghĩa thảo thơm
Củ khoai đỡ đói ngày giáp hạt
Cơm cúng bà, cha xới đầy hơn.”

Nhưng rồi cánh đồng ấy bị thay thế bởi “tầng tầng cao, ống khói bê tông”, bởi ô tô, nhà máy, tập đoàn công nghiệp. Câu hỏi ở cuối bài không chỉ là tiếng thở dài buốt lòng của cá nhân mà còn khiến người đọc phải suy ngẫm.

“Cánh đồng làng xưa không còn nữa
Tuổi thơ lấm láp có còn không
Ngẩng hỏi trời chỉ mây bay trắng
Đất dưới chân gió thổi rát lòng…”

Phùng Văn Khai không biến quê hương thành một hoài niệm bất biến để đóng khung thờ phụng. Anh biết đời sống phải chuyển động và chấp nhận sự thay đổi như một lẽ thường hằng. Nhưng tâm tư anh đau xót vì con người có thể đi quá nhanh, quá xa và vội vàng đến mức đánh mất cội rễ. Tập thơ vì thế không chỉ có hoài niệm, mà còn gợi ra một ý thức văn hóa, một chất vấn nguồn cội rằng khi làng quê mất dấu, con người sẽ đứng ở đâu trong bản sắc, định vị cá nhân của bản thân mình?

nhà văn Phùng Văn Khai 5

Bài thơ “Chợt mùi hương bưởi” lại mở ra một không gian quê khác, lặng hơn, thấm sâu hơn, như chính là hương bưởi:

“Vẫn mùi hương bưởi đấy thôi
Mấy mươi năm vẫn riêng mùi hương xưa
Tường rêu, sách cũ, rèm thưa
Chờ ta lác đác sao thưa cuối trời.”

Hương bưởi là mùi hương của ngôi nhà, của người mẹ, của tuổi thơ, của phần ký ức mà người đi xa nhiều khi lãng quên:

“Vẫn mùi hương bưởi đấy thôi
Mẹ già tóc bạc đêm ngồi đếm sao
Ta tìm chức trọng quyền cao
Biết chăng hương bưởi thanh cao đợi người.”

Ở những câu thơ này, Phùng Văn Khai chạm vào một bi kịch quen thuộc của con người hiện đại khi càng đi tìm công danh, càng dễ xa rời những gì gần gũi nhất, mà cụ thể ở đây là mùi hương bưởi trước sân nhà. Mùi hương ấy không trách móc, chỉ “thanh cao đợi người”. Chính sự lặng im thanh nhã cao khiết của hương bưởi mới khiến người đọc nhói lòng.

Trong bài thơ “Cuối năm trò chuyện với cây”, cảm thức ấy càng hiện rõ. Cây đa, cây gạo, hàng nhãn, hàng phi lao, cây đại sân nghè, cội mít sân đình, bụi dứa vườn chùa… lần lượt hiện lên như những chứng nhân lặng thầm của làng quê. Nhưng rất nhiều cây đã mất dần. Cùng với sự biến mất của cây là sự biến mất của những tập tục, những vết tích cộng đồng, những nghi thức quê nhà. Bài thơ không chỉ nói chuyện cây, mà còn nói chuyện tâm thế của con người trong quá trình cuộc sống hiện đại hóa dần, làm cho những gì xưa cũ mất đi. Khi tác giả viết “Sao cội rễ làng không giữ được”, câu hỏi ấy không còn là câu hỏi riêng của một người con xa quê, mà là câu hỏi văn hóa cho cả một thời đại đang đi quá nhanh, nhanh đến mức bụi ô tô phủ lên cả ký ức.

Từ lịch sử dân tộc đến thân phận cá nhân

Nếu phần “Thơ từ ký ức” nghiêng về địa danh, di tích, danh nhân, lịch sử thì phần “Thơ viết cho mình” đưa người đọc vào vùng sâu hơn, riêng tư hơn của cái tôi cá nhân. Ở đó, Phùng Văn Khai không chỉ đối thoại với lịch sử dân tộc, mà còn đối thoại với lịch sử của chính đời mình, đời người.

Bài thơ trùng tên tập thơ, “Thơ viết cho mình”, viết về người cha đã mất. Cái chết của người cha trong đêm Noel rét buốt đã khiến tác giả có những chấn động và suy tưởng nội tâm. Người cha không nói, chỉ lặng im và chính sự lặng im ấy lại trở thành bài học lớn nhất cho người con. Từ sự ra đi của người cha, cái tôi trữ tình nhìn lại chính mình với những lúc hung hăng, to tiếng, mải mê công danh, những lần phát biểu, tranh khôn, “tiền hô hậu ủng”, trong khi cha vẫn sống ở một ngôi  làng nhỏ, vẫn lặng thầm. Đây là một trong những bài thơ xúc động nhất của tập thơ, bởi nó không né tránh sự tự phê phán. Người viết không tự dựng cho mình một chân dung đẹp đẽ, mà chấp nhận soi vào phần vụng dại, phần tự phụ, phần kiêu căng, phần đã từng xa cách với chính gốc rễ máu thịt của mình.

nhà văn Phùng Văn Khai 6

Sự qua đời của người cha trong đêm Noel rét buốt trở thành một sự kiện xáo trộn nội tâm lớn.

“Đêm ấy Noel đêm rét buốt
Một ánh mặt trời tắt trong đêm
Ta lặng lẽ cất tờ lịch nhỏ
Trong tiếng Nam mô dưới ngọn đèn.”

Người cha hiện lên không bằng những lời giáo huấn lớn lao, bằng những dạy dỗ hàng ngày, mà bằng sự im lặng. Mười tám ngày nằm yên không nói, rồi ra đi. Sự im lặng ấy trở thành bài học cuối cùng:

“Bài học lặng im cha truyền lại
Từ ngọn nguồn bãi bể nương dâu
Oan khiên dễ gì đâu tháo cởi
Căn dặn gì đây với muôn sau”

Điều đáng quý là bài thơ không chỉ là tâm tình của người con khóc cha. Nó còn là một cuộc tự phán xét bản thân. Trước sự lặng im của người cha, người con nhìn lại chính mình.

“Ta sao có lúc hung hăng quá
Vung tay, to tiếng những tượng đài
Tranh khôn với khắp người thiên hạ
Nào biết kiêng dè với một ai.”

Và:

“Cứ mãi thành quen thành thói sống
Ông kia, bà nọ, phải thế này
Cha thì vẫn ở trong làng nhỏ
Vẫn lặng thầm không một mảy may.”

Đây là những câu thơ có sức lay động vì nó rất thật. Người viết nhận ra phần ồn ào, hiếu thắng, công danh, tự phụ của mình trước bóng người cha lặng thinh. Bài thơ vì thế không chỉ là một khúc tưởng niệm cha, mà còn là một cuộc sám hối tự thân. Nó cho thấy thơ, trong trường hợp này, có chức năng đạo đức vì giúp con người nhìn lại chính mình.

Mạch thơ về gia đình còn có những bài như “Thơ về người vợ”, “Thư về em”, “Nói với đường làng”… Trong “Thơ về người vợ”, Phùng Văn Khai viết về người phụ nữ âm thầm đi bên cạnh một người chồng văn chương, bia rượu, công danh, thói tật. Điều đáng quý là bài thơ không làm đẹp hóa cho người chồng, cũng không biến người vợ thành một biểu tượng trừu tượng. Người vợ hiện lên gần gũi, thân quen như bếp lửa, như nước giếng, như người giữ lại trật tự đời sống, như người đã đi qua bao lam làm, chịu đựng, bao dung, giữ ấm căn nhà trong khi người chồng mải mê nơi chân trời với văn chương, bia rượu, công danh. Câu thơ “Ta có vợ ta, điều rất thật” nghe giản dị nhưng đằng sau đó là cả một sự tự nhận thức muộn màng. Nó là khoảnh khắc người đàn ông từng đi xa bỗng nhận ra người gần mình nhất.

nhà văn Phùng Văn Khai 7

“Tài hoa dâng hết cho thiên hạ
Tàn canh sực nhớ đến niêu nồi.”

Đó là một câu thơ vừa tự trào, vừa chua chát. Nó nói đúng một thói tật của nhiều người đàn ông văn chương, có thể hào phóng, tài hoa với thiên hạ, nhưng lại vụng về, dại dột với người gần gũi nhất. Nhưng cũng vì thế mà hình ảnh người vợ hiện lên trong những câu thơ càng như một bếp lửa lặng lẽ và ấm áp.

“Mà vẫn vẹn nguyên tròn nội ngoại
Cháo hành cơm bữa nấu cho ta
Mà vẫn trong ngoài vai thơm thảo
Ấm bếp lửa gần chắn bão xa.”

Đến cuối bài, cái tôi trữ tình của tác giả chợt nhận ra một sự thật giản dị mà sâu sắc:

“Ta có vợ ta – điều rất thật
Bằng xương bằng thịt ở trong nhà
Sao ta mãi kiếp con tàu ấy
Mê mải chân trời mặc sân ga.”

Hình ảnh “con tàu” và “sân ga” là một hình ảnh quen thuộc và giàu mỹ cảm. Người chồng là con tàu mải mê nơi chân trời, còn người vợ là sân ga chịu đựng, chờ đợi, tiễn đưa và đón về. Bài thơ không ủy mị, nhưng đậm chất hối lỗi và yêu thương. Ngôn từ thơ đẹp ở chỗ người viết đã dám nói ra sự ân hận, nhưng cũng là những yêu thương không cùng của mình dành cho người vợ.

Một trong những điều làm cho “Thơ viết cho mình” vượt ra khỏi phạm vi tự sự cá nhân là sự hiện diện của những thân phận nhỏ bé, khuất lấp. Phùng Văn Khai viết nhiều về vua chúa, tướng lĩnh, danh nhân, nhưng anh cũng cúi xuống xúc động trước người đánh giày, người lao động đêm, người mẹ đơn thân, người tù, em bé da đen sau chiến tranh… Đây là phần làm cho tập thơ không bị đóng khung trong không gian cổ tích lịch sử, hoài niệm quê nhà hay nỗi niềm cá nhân. Bài thơ “Nói với chị đánh giày” viết về một người phụ nữ đánh giày ở cửa ô Quan Chưởng, nuôi con bệnh, bản thân mang trọng bệnh, rồi bỗng vắng bóng. “Trước chợ đêm Long Biên” viết về những người lao động kéo xe, bốc hàng, kiếm từng miếng ăn trong đêm lạnh. Những bài thơ như “Lời người mẹ đơn thân”, “Lời người trong song sắt”, “Em bé da đen” đều hướng về các thân phận dễ bị định kiến, bỏ rơi, bị nhìn thiên lệch. Ở đây, thơ Phùng Văn Khai có một ý thức nhân văn rõ rệt khi không nhìn con người bằng những nhãn dán đạo đức đơn giản, mà cố gắng đi vào những nỗi đau, hoàn cảnh, sự cô độc, những vết thương không dễ gọi tên.

Bài thơ “Nói với chị đánh giày” là một lát cắt đời sống rất ám ảnh. Hình ảnh chị đánh giày ở cửa ô Quan Chưởng hiện ra trong gió lạnh, sương khói, quán phở đầu ô:

“Gió lạnh thổi dài thêm phố vắng
Quán phở đầu ô mới mở hàng
Người vào thưa thớt hơi sương khói
Bóng chị đánh giày chỗ đường ngang.”

Ban đầu, cái tôi trữ tình nhớ lại sự thô lỗ của mình thời trẻ:

“Ta còn trẻ nói thường văng tục:
Ê! Đánh giày! Đánh kỹ. Mau lên!”

Nhưng năm tháng trôi qua, thời gian và mái tóc trắng khiến con người bớt lời, biết nhìn kỹ hơn vào tấm lưng còng và sự im lặng của người khác:

“Ta chừng tóc đã chen sợi trắng
Tóc trắng dường như bớt lắm lời
Chị đánh giày lại càng ít nói
Cây bên đường lặng lẽ lá rơi.”

Bài thơ kết lại trong sự vắng bóng:

“Bát phở trên tay dần nguội lạnh
Đâu rồi bóng nhỏ cửa ô xưa
Người bán phở đã già, im lặng
Bên kia đường mờ mịt hơi mưa…”

Không cần nói chị đánh giày đã mất hay đi đâu. Sự “mờ mịt hơi mưa” đủ tạo nên một khoảng trống thi cảm trong lòng người đọc. Đó là kiểu nhân văn không lên gân, không thuyết lý, chỉ đặt người đọc trước một bóng người vắng mặt. Bài thơ về một phương diện nào đó, phảng phất gợi nhớ đến mỹ cảm của bài thơ “Ông đồ” của Vũ Đình Liên với “Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ”.

Bài thơ “Trước chợ đêm Long Biên” lại mở rộng cái nhìn ấy sang cộng đồng lao động nghèo của thành phố:

“Từng ánh mắt lặng thầm biết nói
Những chiếc xe tay kéo lặng thầm
Những núi hàng như sông luân chuyển
Hội tụ về đêm chợ Long Biên.”

Ở đây, chợ đêm không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa. Nó là một mạch ngầm nuôi sống thành phố. Những người kéo xe, bốc hàng, buôn bán đêm là phần chìm khuất của đô thị. Họ ít được nhìn thấy, nhưng chính họ góp phần làm nên nhịp sống thật:

“Sinh kế từ hai bàn tay trắng
Đan vào nhau gió lạnh đêm thâu
Đừng nhắc về quê hương, bản quán
Đều từ một gốc chứ từ đâu”

Phùng Văn Khai nhìn những con người ấy không bằng tình thương đơn giản, mà bằng sự tôn trọng. Ông không tô hồng họ, cũng không đạo đức hóa họ. Bài thơ có những câu rất dứt khoát, gân guốc, trần trụi như chính những phận người:

“Đừng nói với nhau lời đạo đức
Vết chém còn in giữa mặt người
Càng không nên nhắc lời đức hạnh
Những đứa con không bố chào đời.”

Đây là thái độ nhân văn bởi trước những phận đời trầy xước và cũng là lời nhắn nhủ đừng vội phán xét. Bởi đạo đức, nếu không đi qua những hiểu biết, cảm thông về hoàn cảnh, dễ trở thành một thứ roi mây vô hình làm tổn thương con người.

nhà văn Phùng Văn Khai 8

Bài thơ “Em bé da đen” lại chạm đến vết thương hậu chiến. Từ sự ám ảnh về bức tranh của họa sĩ Nguyễn Sáng, nhà thơ viết về những đứa trẻ sinh ra ngoài ý muốn của chiến tranh:

“Ta biết nói gì đây em hỡi
Khi mà em cũng đã đi rồi
Em đi đâu ta nào có biết
Sân ga chiều lạnh quá em ơi”

Câu hỏi về tội lỗi trong bài thơ không đơn giản:

“Mẹ em ư? Hận trời chôn chặt
Chao ôi giọt máu đã tượng hình
Tội lỗi ư? Ai người tội lỗi
Phận đàn bà trong cuộc chiến tranh.”

Ở đây, nhà thơ nhìn chiến tranh từ phía những hệ lụy, những mặt trái của tấm huy chương. Đó là những đứa trẻ lạc lõng, những người mẹ bị định kiến, những vết thương không nằm trong lời diễn văn chiến thắng. Chính những bài thơ như thế cho thấy Phùng Văn Khai không chỉ viết về lịch sử như niềm tự hào, mà còn viết về lịch sử như một khoản nợ nhân tính. Chính cảm quan đa diện này làm cho cảm thức lịch sử trong tập thơ có thêm chiều sâu nhân bản.

Những nỗi niềm cá nhân và sự tự vấn với văn chương

Nhà số 4 Lý Nam Đế, địa chỉ quen thuộc của nhiều thế hệ nhà văn quân đội và người yêu văn chương qua các năm tháng.

Một mạch thơ đáng chú ý khác trong “Thơ viết cho mình” là những bài viết về tạp chí Văn nghệ Quân đội hay không gian Nhà số 4 Lý Nam Đế, địa chỉ quen thuộc của nhiều thế hệ nhà văn quân đội và người yêu văn chương qua các năm tháng. Với Phùng Văn Khai, Nhà số 4 không chỉ là đơn vị công tác, mà còn là một “cõi văn chương” đặc biệt, nơi ký ức đồng đội, ký ức nghề nghiệp và ý thức về sự tiếp nối văn mạch truyền thống cùng nhau hiện diện. Trong bài thơ “Hoa đại Nhà số 4”, hai cây đại nơi cổng cơ quan trở thành chứng nhân lặng lẽ của bao thế hệ văn nghệ sĩ.

“Người đã đi rồi, cây vẫn đó
Bốn mùa hoa rụng trắng thềm sân”.

Hoa đại không chỉ là hình ảnh của thiên nhiên, mà còn là biểu tượng của sự khiêm nhường, bền bỉ, trong sạch giữa “trường văn, trận bút”. Ở bài thơ “Những bức ảnh trong phòng họp Nhà số 4”, những chân dung văn nhân trên tường như đang dõi nhìn theo người còn sống, gợi cảm giác vừa thân thuộc vừa nghiêm trang của một truyền thống văn học quân đội đã đi qua nhiều dấu mốc lịch sử. Câu thơ:

“Những bức ảnh như người thinh lặng
Hoa đại thơm hương thơm bóng trăng.”

cho thấy văn chương ở đây không chỉ là chữ nghĩa, mà còn là ký ức, nhân cách, trách nhiệm và sự lặng thầm truyền lửa giữa các thế hệ.

Từ Nhà số 4 Lý Nam Đế, Phùng Văn Khai mở rộng suy tư về văn chương và thân phận người cầm bút. Trong nhiều bài thơ, ông nhìn văn chương không phải như một thú chơi tao nhã, mà như một nghiệp bút nặng nề, một cuộc dấn thân nhiều thương tích. Bài thơ “Thư gửi Hoàng Liên Sơn” có những câu rất tiêu biểu về “nghiệp văn chương”.

“Đã trót đem thân vào bút mực
Là mang vào muôn vết thương sâu
Văn chương nào khác gì kiếm khách
Chữ nghĩa thành không buổi mất đầu”.

nhà văn Phùng Văn Khai 11

Ở đó, văn chương hiện ra như một “trường văn, trận bút”, có vinh quang nhưng cũng có thị phi, có sáng tạo nhưng cũng có cô độc, có khát vọng phụng sự nhưng cũng đầy những va đập nhân tình. Điều đáng quý là Phùng Văn Khai không thiêng liêng hóa người viết. Anh tự giễu mình, tự nhận những lúc “hung hăng, khinh suất”, “duy mình nhất”, tự đối diện với tham vọng công danh và cả những thói tật của giới văn chương. Chính sự thành thật đáng quý, sự ngạo nghễ và chua chát ấy khiến cho các bài thơ về văn chương trong tập“Thơ viết cho mình” không rơi vào ngợi ca nghề nghiệp một chiều, mà trở thành những cuộc tự vấn về đạo đức sáng tạo, trách nhiệm chữ nghĩa và cái sự trả giá tinh thần của những người đã chọn “phơi mình trên mặt giấy”.

Ở bài thơ “Ta từ nguồn cội”, thơ được đặt trong quan hệ với lịch sử, nguồn cội và nỗi buồn dân tộc:

“Tổ tiên ta từ ngày thứ nhất
Đã chia nhau xuống biển, lên rừng
Trang thơ ta viết dòng thứ nhất
Nỗi buồn thương chất chứa, mênh mông.”

Còn trong bài thơ “Trước thềm xuân”, tác giả nói trực tiếp về bản chất riêng tư của văn chương: “Văn chương, dẫu chuyển tải tâm tư khoảnh khắc con người đều là lăng kính cá nhân mà thôi. Mỗi bài thơ, một câu thơ cũng đều là tâm sự riêng mà thôi.” Đó là lời lý giải chân thành cho sự ra đời của tập “Thơ viết cho mình”.

nhà văn Phùng Văn Khai 12

Nghệ thuật thơ giàu tính tự sự, tính đối thoại và chất dân gian Bắc Bộ

Về khuynh hướng nghệ thuật, dễ thấy Phùng Văn Khai có xu hướng kể chuyện trong thơ. Phùng Văn Khai vốn là nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử, nên khi bước vào thơ, anh vẫn mang theo thói quen kể chuyện. Nhiều bài thơ có lời dẫn khá dài, giới thiệu hoàn cảnh, địa danh, nhân vật, ký ức. Điều này làm cho thơ anh không phải loại thơ cô đặc đến tối giản, mà là thơ của câu chuyện, của dòng chảy. Có bài giống một truyện ngắn bằng thơ, có bài giống một đoạn độc thoại dài trên sân khấu, có bài giống một bài văn tế hiện đại. Tác giả từng nói rõ mình chủ trương mỗi bài thơ phải được kể như một câu chuyện, đan cài nhiều câu chuyện. Vì vậy, nhiều bài thơ trong tập không ngắn, không thiên về cấu trúc kiểu thơ thuần trữ tình, mà mở rộng theo lối tự sự, đối thoại, độc thoại, có khi gần với trường đoạn. Đây vừa là ưu điểm, vừa là dấu hiệu riêng trong phong cách. Ưu điểm là thơ của Phùng Văn Khai có dung lượng đời sống lớn, nhiều nhân vật, nhiều tình huống, nhiều tầng suy tưởng. Nhưng đôi khi, chính vì ham kể, ham nói, ham chất chứa, một số bài có thể tạo cảm giác dàn trải. Tuy nhiên, sự dàn trải ấy cũng là một phần của cá tính Phùng Văn Khai, một cây bút không thích thì thầm ít lời, mà thường muốn bung hết nội lực, như người gõ trống vang dội trước sân đình cho mọi nỗi niềm cùng thức dậy và cộng hưởng.

Ngôn ngữ thơ Phùng Văn Khai mang đậm sắc thái dân gian và văn hóa Bắc Bộ. Các hình ảnh như đình, đền, chùa, miếu, sân đình, cây đa, bến sông, hoa gạo, hương bưởi, trầu cau, chó đá, rùa đá, hạc gỗ, chuông chùa… xuất hiện dày đặc. Đó không chỉ là chất liệu của thơ mà trở thành một hệ thống những biểu tượng. Chúng tạo nên một  tầng thẩm mỹ riêng, nơi lịch sử, làng quê, tự tình cá nhân hòa quyện vào nhau. Nhiều câu thơ có âm hưởng ca dao, tục ngữ, lời văn tế, lời khấn, lời kể dân gian. Chẳng hạn trong bài thơ “Cảm tác tranh Đông Hồ”, cả thế giới tranh dân gian hiện lên bằng màu sắc hồn nhiên mà đầy cảm xúc:

“Mẹ con đàn lợn âm dương
Mèo kia đợi chuột ngọn nguồn từ đâu

Ôm đôi cá chép bé cười
Cưỡi con gà trống trông trời nắng mưa
Lưng trâu ngọn sáo gió đùa
Sân đình lân múa, sân chùa thơm sen.”

Những câu thơ này cho thấy Phùng Văn Khai có một kho ký ức dân gian dày dặn. Anh không cần “làm màu” với chất liệu dân gian, bởi những hình ảnh ấy đã sống tự nhiên trong ngôn ngữ thơ của anh.

Tiến sĩ Hà Thanh Vân 2Tác giả bài viết: Tiến sĩ Hà Thanh Vân.

Một thủ pháp nổi bật trong tập “Thơ viết cho mình” là tính đối thoại. Rất nhiều bài thơ có nhan đề bắt đầu bằng “Nói với”, “Trước”, “Đối thoại”, “Trò chuyện” như “Nói với đường làng”, “Nói với tiếng đàn”, “Nói với ông hề”, “Nói với chị đánh giày”, “Trước hai ông tượng”, “Trước chợ đêm Long Biên”, “Đối thoại cùng lô cốt bên sông”, “Trò chuyện với sen”… Kiểu nhan đề ấy cho thấy thơ Phùng Văn Khai là thơ của những cuộc gặp gỡ. Anh đi gặp sông, gặp cây, gặp tượng, gặp người chết, gặp người sống, gặp nhân vật cổ tích, gặp di tích, gặp cả chính mình. Mỗi cuộc gặp là một tự vấn lương tâm nho nhỏ, nơi tác giả vừa hỏi người, vừa hỏi đời, vừa hỏi bản thân. Điều đó cho thấy Phùng Văn Khai luôn đặt cái tôi trước những đối tượng để trò chuyện.

Ở bài thơ“Trước hai ông tượng”, cuộc đối thoại với ông Thiện và ông Ác trong chùa làng mở ra một suy tư thú vị về thiện ác ở đời.

“Ta mười tuổi trèo vai ông Thiện
Những muốn thiện lương suốt cuộc đời
Hai mươi tuổi cúi đầu ông Ác
Rồi quăng mình khắp chốn cùng nơi.”

Rồi khi đã qua năm mươi tuổi, cái tôi trữ tình rơi vào nghịch lý:

“Làm thiện không xong đành một nhẽ
Làm ác xong không? Đến bao giờ.”

Câu hỏi ấy vừa là sự hài hước đen, vừa mang tính triết lý. Nó cho thấy đời sống không đơn giản như bài học đạo đức tuổi thơ. Con người muốn thiện không dễ, muốn ác cũng không xong, cuối cùng mắc kẹt trong những giới hạn của chính mình.

Giọng điệu của tập thơ khá đa thanh. Có giọng trang nghiêm khi viết về lịch sử, tiền nhân, danh tướng. Có giọng xót xa khi viết về cha, về quê hương, về những người lao động. Có giọng tự trào, ngang tàng, thậm chí bỗ bã trong “Thư gửi Hoàng Liên Sơn” hay “Ta từ phía trước”. Có giọng triết lý trong những bài viết về hoa sen, hoa đào, hai ông tượng thiện ác. Sự pha trộn này làm cho tập thơ không đơn điệu. Nó cho thấy Phùng Văn Khai không muốn chỉ làm một “thi sĩ của đền đài”, mà còn muốn kéo thơ xuống chợ, xuống bến sông, xuống quán phở đầu ô, vào phòng họp Nhà số 4, vào song sắt, vào đêm chợ Long Biên. Chính sự đa thanh này làm tập thơ có sức sống, dù đôi chỗ cảm xúc tràn ra khá rộng và thậm chí có chỗ còn lan man.

“Thơ viết cho mình” vì thế là một tập thơ mang vóc dáng riêng trong hành trình sáng tác của Phùng Văn Khai. Nó không phải tập thơ của sự trau chuốt ngôn từ, cũng không phải tập thơ chỉ để ngắm những hình ảnh đẹp. Nó giống một cuốn sổ tay tâm hồn được viết vội trong những buổi chiều thăm viếng chùa chiền, những chuyến điền dã, những đêm nhớ cha, những giây phút đứng trước dòng sông, trước cổng thành, trước cây, hoa, trước chợ đêm. Có khi câu chữ còn xô lệch, thô tháp, có khi cảm xúc tràn bờ tưởng chừng không kìm hãm nổi, nhưng chính cái tràn bờ ấy lại cho thấy một người viết đang sống hết mình với trang giấy.

“Thơ viết cho mình” nhưng không chỉ cho riêng mình

Có thể nói, “Thơ viết cho mình” là một tập thơ của sự trở về. Trở về với lịch sử, với làng quê, với cha mẹ, với người vợ, với những người lao động, với những thân phận bị bỏ quên và cuối cùng là trở về với chính mình. Ở điểm sâu nhất, đây là tập thơ của một người đã đi qua nhiều nẻo văn chương để trở về tự hỏi chính mình, mình là ai trước lịch sử, trước quê hương, trước cha mẹ, trước người vợ, trước những phận người lặng lẽ, trước cây cỏ và sông nước? Và khi câu hỏi ấy vang lên, “Thơ viết cho mình” đã không còn chỉ cho riêng mình nữa. Nó trở thành một cách chia sẻ ký ức, một cách trả nợ cội nguồn, một cách làm lành với những vết thương, và cũng là một lời nhắc nhở rằng văn chương, sau mọi hào quang chữ nghĩa, vẫn bắt đầu từ tấm lòng thành thực của con người trước cuộc đời.

Tác giả bài viết: Tiến sĩ Hà Thanh Vân.Tác giả bài viết: Tiến sĩ Hà Thanh Vân.

Do vậy, điều tạo nên cảm hứng chủ đạo của tập thơ vẫn là tinh thần tự vấn. Đằng sau các bài thơ về lịch sử là câu hỏi: ta hôm nay phải sống thế nào trước tiền nhân? Đằng sau các bài thơ về quê hương là câu hỏi: ta đã đánh mất gì khi rời làng, khi cánh đồng không còn nữa? Đằng sau các bài thơ về cha mẹ, vợ con là câu hỏi: ta đã yêu thương đủ chưa, đã hiểu người gần gũi, thân yêu với mình chưa? Đằng sau các bài thơ về người lao động và những thân phận bên lề là câu hỏi: thơ ca có thể làm gì trước nỗi đau của người khác? Những câu hỏi ấy không phải lúc nào cũng có câu trả lời. Nhưng chính sự tự vấn không yên ổn ấy làm nên sức lay động của tập thơ. Và cũng từ những câu hỏi ấy, “Thơ viết cho mình” vượt khỏi ý nghĩa của một tập thơ riêng tư. Nó là bản tự kiểm của một người viết đã đi qua nhiều vùng miền văn chương và đời sống. Nó cũng là một cách trả nợ tiền nhân, trả nợ quê nhà, trả nợ cha mẹ, trả nợ người vợ, trả nợ những phận người đã gặp trên đường.

Tập thơ không phải lúc nào cũng thật gọn. Có những bài dài, nhiều ý, nhiều tầng kể, đôi khi như muốn nói cho hết mọi điều chất chứa. Nhưng chính sự “không nén lại” ấy cũng là một phần cá tính Phùng Văn Khai. Thơ anh không phải như một bình gốm men lam tinh xảo đặt trong tủ kính, mà giống một sân đình rộn rã ngày hội, có khói hương, bùn đất, tiếng trống, lá rụng, vết chân người, câu khấn, tiếng cười, tiếng khóc. Nó sống bằng sự bộn bề ấy.

Và có lẽ khi Phùng Văn Khai viết:

“Thơ viết mỗi dòng như máu ứa
Nào biết gì đâu đến chữ nhàn”

anh đã gợi đúng tinh thần của cả tập thơ. Thơ ở đây không phải một thú chơi nhàn tản. Thơ là một cuộc va chạm với ký ức, với lịch sử, với thân phận và với chính mình. Chính vì thế, “Thơ viết cho mình” là một tập thơ đáng đọc không chỉ để hiểu thêm về cá tính văn chương Phùng Văn Khai, mà còn để nhận ra một kiểu tâm thế sáng tạo. Đó là càng đi xa vào dân tộc, càng phải đi sâu vào con người, càng viết cho mình, càng phải mở lòng ra với nhân gian muôn nẻo.

H.T.V

 

 

 

     


     

Bài trước9 cực phát triển trong tầm nhìn 100 năm của Hà Nội
Bài tiếp theo[Clip]: Tháp cổ nghìn năm bên sông Lam, nơi phát hiện bảo vật quốc gia quý hiếm

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây