Kéo dài gần 5 năm, Hội nghị Paris là cuộc đấu trí quyết liệt giữa một nền ngoại giao non trẻ với một nền ngoại giao lão luyện của siêu cường hàng đầu thế giới.
Hiệp định Paris là thắng lợi tổng hợp của cuộc đấu tranh trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, với việc vận dụng nhuần nhuyễn sách lược “vừa đánh, vừa đàm” phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ giữa đấu tranh trên chiến trường với đấu tranh trên bàn đàm phán.
Tháng 12/1972, chính quyền Nixon tổ chức chiến dịch đánh phá bằng máy bay chiến lược B52 với quy mô chưa từng có trong lịch sử chiến tranh không quân ở miền bắc Việt Nam, nhằm gây tổn thất lớn nhất có thể, ép Việt Nam Dân chủ cộng hòa chấp nhận điều kiện của Mỹ tại bàn đàm phán Paris.
Quân và dân Việt Nam kiên quyết giáng trả, đập tan cuộc tập kích bằng không quân chiến lược 12 ngày đêm của đế quốc Mỹ, làm nên chiến thắng lịch sử “Ðiện Biên Phủ trên không”. Bị thất bại nặng nề, ngày 30/12/1972, đế quốc Mỹ buộc phải đơn phương tuyên bố ngừng ném bom miền bắc Việt Nam từ bắc vĩ tuyến 20 và đề nghị nối lại đàm phán ở Paris.
Ngày 23/1/1973, Mỹ chấp nhận ký Hiệp định Paris không điều kiện; Cố vấn đặc biệt Ðoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa Lê Ðức Thọ và Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Kissinger tiến hành ký tắt Hiệp định và 4 Nghị định thư.
Với bà Nguyễn Thị Bình, ngày 27/1/1973 là “ngày không thể nào quên”. Trong cuốn sách “Mặt trận Dân tộc Giải phóng – Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris về Việt Nam”, bà Nguyễn Thị Bình chia sẻ: “Ðặt bút ký vào bản Hiệp định Paris lịch sử, tôi rất xúc động, nghĩ đến miền Nam, nghĩ đến đồng bào, đồng chí, đến gia đình, đến bạn bè trên cả hai miền Nam-Bắc… Trong đời tôi, đây là vinh dự lớn được thay mặt nhân dân và các chiến sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam đấu tranh trực diện với Mỹ tại Paris, được thấy niềm tự hào vinh quang cùng với ân tình sâu đậm mà cả thế giới dành cho cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta. Tôi vô cùng biết ơn Bác Hồ và cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Ðảng, Mặt trận và Chính phủ Cách mạng lâm thời đã tin cậy giao cho tôi một nhiệm vụ khó khăn nhưng rất vẻ vang này”.
Hiệp định Paris đã góp phần tạo nên bước ngoặt rất quan trọng trong cuộc kháng chiến của dân tộc ta, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh. Từ Hiệp định này, đế quốc Mỹ đã phải cuốn cờ rút khỏi Việt Nam, từ đó mở ra cục diện chính trị và chiến trường thuận lợi để quân và dân ta giành thêm nhiều thắng lợi hơn nữa, dẫn đến ngày toàn thắng 30/4/1975, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước.
Bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Ngoại giao, Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam, vẫy chào Việt kiều, nhân dân Pháp và các nhà báo trước khi vào Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber để ký Hiệp định Paris. Ảnh tư liệu.
Những năm tháng gian khổ nhưng đầy hào hùng trong suốt quá trình diễn ra Hội nghị Paris đã khắc họa nên hình ảnh một dân tộc Việt Nam anh dũng, kiên cường, trong đó có những nhà ngoại giao ưu tú vượt qua mọi khó khăn, vất vả nơi đất khách quê người để ngăn máu tiếp tục đổ trên quê hương.
Sự ủng hộ hết lòng của bạn bè quốc tế đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam cũng là điều mà các thế hệ lãnh đạo và nhân dân Việt Nam luôn khắc ghi trong tim. Ðiều đó được thể hiện rõ ràng khi làn sóng biểu tình phản chiến đã diễn ra với quy mô lớn tại nhiều nước, cùng với sự tham gia của hàng triệu nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới.
Vượt qua mọi khác biệt về màu da, tôn giáo, ngôn ngữ và khoảng cách địa lý, nhiều người dân tại các châu lục đã xuống đường biểu tình, ủng hộ Việt Nam, yêu cầu Mỹ chấm dứt chiến tranh.
Ðáng chú ý, phong trào phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam đã hình thành và phát triển mạnh mẽ ngay trong lòng nước Mỹ. Nhớ về những năm tháng đó, bà Nguyễn Thị Bình kể lại: “Ðặc biệt là trên khắp nước Mỹ, phong trào chống chiến tranh càng lên cao. Suốt tháng 4 và tháng 5 (năm 1971), hầu như không ngày nào không có những cuộc đấu tranh của nhân dân Mỹ chống chiến tranh bằng mọi hình thức…
Sự chống đối của các cựu chiến binh Mỹ càng nói lên cuộc chiến tranh của chính quyền Mỹ ở Việt Nam không được lòng dân Mỹ và nhân dân thế giới”. Sự ủng hộ nhiệt thành của bạn bè quốc tế đã truyền đi sức mạnh cổ vũ to lớn giúp nhân dân Việt Nam ở cả hai miền vững tâm chiến đấu và đoàn đàm phán Hiệp định Paris kiên trì giành được thắng lợi.
Nhà hoạt động cánh tả nổi tiếng người Mỹ Merle Ratner, người đã tham gia nhiều hoạt động phản đối chiến tranh và xuống đường biểu tình chống chiến tranh tại Việt Nam, từng chia sẻ: “Khi phong trào phản chiến ngày càng lan rộng, nhiều người trong chúng tôi không chỉ đơn thuần phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ mà bắt đầu tìm hiểu lý do tại sao người dân Việt Nam đấu tranh cho độc lập và tự do của họ.
Mặc dù sự ủng hộ của người dân Mỹ và quốc tế là một yếu tố giúp Việt Nam đạt những mục tiêu đó, chúng tôi hiểu rằng chính là do người dân Việt Nam đã có thể kết hợp đấu tranh vũ trang quần chúng, đấu tranh chính trị và văn hóa trong một chiến lược thống nhất để có thể tăng cường sức mạnh cho các lực lượng giải phóng của mình…”.
Hơn 50 năm đã trôi qua, nhưng những kinh nghiệm và bài học quý giá đúc rút từ quá trình đàm phán, ký kết và thực thi Hiệp định Paris vẫn mãi trường tồn và có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.



















