Ngã ba sông Bạch Hạc, thuộc phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, là một trong những danh thắng của vùng đất Tổ Hùng Vương. Danh xưng Ngã ba Bạch Hạc đã được cổ nhân nhắc đến trong chính sử viết về vùng đất cố đô Văn Lang xưa, với tên gọi: huyện Bạch Hạc; Bạch Hạc Tam Giang; Bạch Hạc Phong Châu. Vùng đất này còn được người dân quen gọi là ngã ba Hạc.
1. Vài nét về danh xưng Ngã ba sông Bạch Hạc
Bản “Ngọc phả cổ truyền về 18 chi đời Thánh Vương triều Hùng” (Hùng đồ thập bát diệp Thánh vương Ngọc phả cổ truyền) do Hàn lâm viện – Trực học sỹ Nguyễn Cố soạn thời Hồng Đức Hậu Lê (1470) ghi: “…Khi tới Sơn Tây, nhà Vua thấy một vùng đất có ngàn ngọn núi quay về, vạn dòng sông tụ lại, thảy đều quay chầu Nghĩa Lĩnh. Vua nhận ra đất này là đất tốt liền chọn làm Kinh đô, cho dựng chính điện trên núi Nghĩa Lĩnh. Phía ngoại vi cho lập đô thành Phong Châu, từ Nghĩa Lĩnh tới Phù Khang và tới các xã Lâu Thượng, Lâu Hạ, Thanh Miếu, Việt Trì, Bạch Hạc… Vua đổi tên nước là Văn Lang…”.
Các nhà nghiên cứu lịch sử và địa – văn hóa đã xác nhận thời tiền sử,vùng đất “tụ thủy, tụ nhân” này nằm gọn trong khu vực tâm điểm hợp lưu giữa ba dòng sông lớn: Sông Hồng, sông Lô, sông Đà và ba ngọn núi thiêng: Nghĩa Lĩnh, Ba Vì, Tam Đảo, đã hình thành nên kinh đô của nước Văn Lang.
Sách “ Đại Nam nhất thống chí”, mục “huyện Bạch Hạc” chép: “ Nguyên là đất Phong Châu, Vua Hùng đóng đô ở đấy. Đời Lê Quang Thuận (1460 – 1469) đặt tên là Bạch Hạc”.
Sách “ Lĩnh nam chích quái” của Trần Thế Pháp viết: “ Đất Phong Châu thời thượng cổ có một cây lớn gọi là cây Chiên đàn, cao hơn ngàn trượng, cành lá xum xuê, không biết che rợp tới mấy ngàn dặm. Có chim Hạc trắng bay đến đậu, nên đất chỗ đó gọi là đất Bạch Hạc”.
Sách “ Dư địa chí” của Nguyễn Trãi viết: “ Sông Bạch Hạc, khi mà đời xưa, giao thông đường bộ chưa phát triển, thực tế đã trở thành phên dậu phía Tây của kinh thành Thăng Long, mà điểm khởi nguồn lại là điểm hợp lưu chính thức của ba dòng sông: Đà – Thao và Lô, khi ấy gọi là sông Tuyên. Ngã ba Hạc hợp lưu bởi sông Thao, sông Đà, sông Lô, tạo nên dòng trong, dòng đục, nước sông rộng mênh mông; xa xa, tả có Tam Đảo, hữu có Ba Vì, hai bên bờ là làng mạc, ruộng vườn tươi tốt, bến sông thuyền bè tấp nập vào ra…”. Cũng trong sách ấy, Nguyễn Trãi còn chép: “ Bạch Hạc thuộc đất Phong Châu ngày xưa, đất ấy có cây Chiên đàn, có chim Hạc trắng về đậu ở trên cây nên gọi là Bạch Hạc”.
Đó là sự ưu đãi của thiên nhiên, đã tạo cho ngã ba Hạc nổi danh là vùng sông nước “ Sơn thanh, thủy tú”, bồi đắp sinh khí cho vùng đất cổ Phong Châu, nơi Vua Hùng chọn làm kinh đô đầu tiên của nước Văn Lang, để dân Việt ngàn đời sau còn biết về nguồn cội. Nơi này tụ thủy cả ba dòng sông hùng vĩ nhất đất Bắc kì, nên người xưa tin rằng ngã ba sông Bạch Hạc chính là “Long huyệt” của vùng đất Tổ Hùng Vương.
Năm 1369, Cung Định Vương Phủ (khi ấy đang là quan Thái sư Tả tướng quốc, sau này là Vua Trần Nghệ Tông) đã rất ưa cảnh trí nơi này. Trong một bài thơ tiễn biệt sứ giả nhà Minh (Trung Quốc) về nước, ông viết:
Dịch nghĩa là:
Sông Thao là dòng chính của sông Hồng bắt nguồn từ Trung Quốc đổ vào Việt Nam. Chiều dài chảy qua Phú Thọ (từ xã Hậu Bổng, huyện Hạ Hòa đến Bến Gót, Việt Trì) khoảng trên 50 Km. Các nhánh của sông Thao phần lớn nằm ở phía hữu ngạn, đổ thẳng xuống từ dãy Hoàng Liên Sơn cao vút, nên các nhánh sông đó đều ngắn và rất dốc, mật độ khá dày, tải nặng phù sa đỏ.
Khi sông Thao chảy đến xã Hồng Đà (huyện Tam Nông, Phú Thọ), thì hợp lưu với sông Đà từ phía hữu ngạn đổ vào. Ngã ba sông này được gọi theo địa danh hành chính là ngã ba Hồng Đà (hay ngã ba Trung Hà). Cũng từ đây, trên một con sông, vẫn hai dòng chảy: nước sông Đà trong veo và nước sông Thao cuộn đỏ như son đổ xuôi khoảng hơn 10 Km, đến phường Bạch Hạc (thành phố Việt Trì), thì hợp lưu với nước sông Lô trong xanh từ phía tả ngạn chảy vào, tạo thành ngã ba sông Bạch Hạc.
Hiện nay, trong nhiều tài liệu, những sáng tác văn học, các bài viết và cả văn bản hành chính của tỉnh Phú Thọ thường gặp những câu: “Ngã ba Bạch Hạc là nơi hợp lưu của ba dòng sông: sông Thao, sông Đà, sông Lô thuộc địa phận phường Bạch Hạc (thành phố Việt Trì), là một trong những danh thắng của vùng đất Tổ Hùng Vương”. Mệnh đề trên vừa đúng với tự nhiên, lại đúng cả với văn tự nữa; bởi theo chữ Hán: Hợp, có nghĩa là hợp lại, gộp lại; Lưu, có nghĩa là dòng chảy. Vậy Hợp Lưu là dòng chảy hợp lại.
Lễ hội bơi trải Bạch Hạc.
Từ góc nhìn văn hóa, sự thật đã rõ ràng; vậy mà vẫn có người nghi ngại rằng, đây là sự nhầm lẫn khi gọi ngã ba Bạch Hạc là nơi hợp lưu của ba dòng sông lớn: sông Thao, Lô, Đà. Họ còn bảo sự nhầm lẫn đó xuất phát từ bài “Ngã ba Hạc phú” của cụ Thượng thư -Tiến sĩ Nguyễn Bá Lân (1701 -1785), qua những câu: “ Xinh thay! Ngã ba Hạc; Lạ thay! Ngã ba Hạc; Dưới họp một dòng, trên chia ba ngác; Ngóc ngách khôn đo rộng hẹp, dòng biếc lẫn dòng đào; Lênh lang dễ biết sâu nông, nước đen pha nước bạc”.
Ngược dòng lịch sử, khi tìm hiểu gia phả của dòng họ, được biết quan Thượng thư sinh ra tại đất Cổ Đô nổi tiếng, nằm bên bờ phải sông Hồng, đối diện với Việt Trì. Ông là dòng dõi con nhà Nho học. Những tháng năm thời thơ ấu, ông đã từng nhiều lần bước chân đi trên mặt con đê làng, ngắm nhìn bến Tam Giang trên đoạn Nhĩ Hà uốn cong như một vành tai. Vậy nên, trong “Ngã ba Hạc phú”, tác giả đã nhìn rõ “ba ngác” nghĩa là ba ngả, gồm ngả sông Lô (Lô giang) phía trước mặt, ngả sông Hồng phía xuôi bên tay phải và ngả sông Thao (Thao giang) ngược lên bên tay trái. “Dòng biếc” là chỉ nước sông Lô; “dòng đào” là chỉ nước sông Thao. Còn sông Đà (Đà giang), sau khi hợp lưu với sông Thao ở ngã ba Hồng Đà, nguồn nước trong veo của nó còn giữ nguyên dòng lớn chảy xuôi về tới Việt Trì, gặp nơi ‘Tụ thủy” mới hoàn toàn hòa trộn với nước của sông Lô và sông Thao trong vòng xoáy mênh mang giữa Ngã ba sông Bạch Hạc. Chính bởi sự hợp lưu của các nguồn nước này đã tạo cho nước sông có màu hồng bạc; vì thế nên người ta mới gọi đoạn sông chảy từ Bạch Hạc ra biển Đông là sông Hồng.
Bạch Hạc là một vùng đất rộng lớn, là huyện “Bạch Hạc Tam giang hay Bạch Hạc Phong châu” như trong sử sách còn ghi. Ngày nay, các nhà khoa học địa chất đã xác định rằng, cách đây hàng triệu năm, Việt Trì là đỉnh tam giác của biển Đông. Vùng đất này có thế “ sơn chầu, thủy tụ” dồi dào “khí thiêng sông núi”. Do thế đất thuận lợi có núi, đồi và đồng bằng nên đã được người Việt Cổ chọn làm nơi cư trú: nước ngập thì lên đồi núi kiếm ăn, mưa thuận gió hòa thì xuống đồng bằng gieo cấy. Nơi đây đã được Vua Hùng chọn làm đất Kinh đô nước Văn Lang. Bạch Hạc còn lưu giữ biết bao truyền thuyết của thời đại Hùng Vương: Tiên Ông đặt tên cho 100 người con trai của Lạc Long Quân; Vua Hùng dựng lầu kén rể; truyền thuyết về hai anh em Thổ Lệnh và Thạch Khanh; về cây Chiên đàn ngàn tuổi… Trên vùng đất này còn có nhiều di tích lịch sử văn hóa như hệ thống đền chùa Tam Giang, đình Bạch Hạc, đền Lang Đài, miếu Hà thần… và các lễ hội đặc sắc như: Lễ hội bơi chải Bạch Hạc, hội thi giã bánh giày, hội đấu vật, hội rước nước và hội hát Ví…
Ngã ba Bạch Hạc, từ lâu đã nổi tiếng bởi một vùng sông nước hữu tình, sầm uất trên bến dưới thuyền. Mỗi tên đất tên làng ở Bạch Hạc đều gắn với những truyền thuyết đầy thơ và mộng của thời đại Hùng Vương dựng nước. Với các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể độc đáo, với cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, Bạch Hạc là điểm đến hấp dẫn sẽ làm hài lòng du khách sau mỗi chuyến đi.
2. Tiến sĩ Nguyễn Bá Lân với bài “Ngã ba Hạc phú”
Ông vốn quê gốc ở xã Hoài Bão, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn, xứ Kinh Bắc. Gia phả dòng họ Nguyễn Bá Lân, do chính Nguyễn Bá Lân và con trai ông là Nguyễn Bá Uông viết, đã chép rằng: “Tổ tiên ông gặp buổi binh đao loạn lạc, đến lánh binh ở Cổ Đô, sống bằng nghề dạy học, vì mến cảnh mến người mà nhập tịch ở đây”.
Nguyễn Bá Lân, sinh giờ Tuất, ngày 27, tháng giêng, năm Canh Thìn (1700). Cha ông là Nguyễn Công Hoàn, khi ấy đã ba mươi tuổi, mới sinh ông là con đầu lòng.
Nguyễn Công Hoàn tên hiệu là Mai Hiên, tên chữ là Hạo Nhiên, là một người tài tử nổi tiếng thời bấy giờ. Ông là người văn tài xuất chúng, trong kinh ngoài trấn ải ai cũng kính phục. Người ta gọi ông là một trong “Tràng An tứ hổ” (Bốn con hổ đất Thăng Long). “Tứ hổ” đó là: Nhất Quỳnh, nhị Nham, tam Hoàn, tứ Tuấn. Nguyễn Công Hoàn, tài ba xuất chúng nhưng về con đường khoa cử thì lận đận. Ông thường cắp tráp đi dạy học ở khắp nơi. Tới khi Nguyễn Bá Lân 15 tuổi (1714), ông mới trở về nhà chuyên tâm dạy học cho con.
Nguyễn Bá Lân viết rằng cha ông chỉ dạy ông bằng “một cuốn Xuân Thu (sách trong Ngũ kinh) và hơn 20 thiên sách Lễ ký, đều không dày quá 100 trang sách, giấy Thanh Hoa”. Từ nhỏ, Nguyễn Bá Lân vốn đã ham đọc sách. Thường ngày, bên án của ông lúc nào cũng bên trái đặt bản đồ, bên phải đặt sách vở. Được cha trực tiếp dạy dỗ, sự học hành của Nguyễn Bá Lân ngày càng tiến tới, chẳng bao lâu thì vượt cả cha mình (cũng là thầy của mình).
Nguyễn Công Hoàn là người phong cách tài tử, tâm tính khoáng đạt; về văn chương chữ nghĩa thì chẳng chịu nhường ai, nên giữa hai cha con thường có chuyện thi thố. Việc thi thố văn chương giữa hai cha con bao giờ cũng bắt đầu từ phía cha ông, Bá Lân có cố tránh cũng không được.
Chuyện kể rằng: một hôm, cha con ông cùng qua đò, từ Cố Đô sang Bạch Hạc; ông Hoàn nhìn thấy đàn dê bên kia sông, liền ra bài phú với đầu đề: “Dịch đình dương xa phú” (Bài phú xe dê cung cấm). Ông Hoàn bảo con rằng: “Nếu sang bờ bên kia, cha làm xong trước mà con chưa xong thì ta ném con xuống sông; nếu con làm song trước mà ta chưa làm xong thì con hãy ném cha xuống sông”. Khi thuyền cập bến, oái oăm thay, bài phú của Nguyễn Bá Lân đã được làm xong, còn cha ông thì mới làm được một nửa. Giữ lời, ông Hoàn bắt con phải ném mình xuống sông; Bá Lân không dám nghe lời, liền bị cha đánh cho vài roi. Bài phú ấy đã được người đời tán thưởng và truyền tụng. Người ta gọi bài đó là: “Nhất độ giang thành chương phú” (Bài phú hoàn thành trên một chuyến đò ngang).
Đã có biết bao nhiêu câu chuyện như vậy về cha con Nguyễn Bá Lân được truyền tụng trong dân gian xứ Đoài. Sách Đăng khoa lục sưu giảng (của Thượng thư Trần Tiến, triều Lê Hiến Tông); sách Tang thương ngẫu lục (của Phạm Đình Hổ, triều Nguyễn) đều có ghi lại những chuyện đời như vậy.
Năm 18 tuổi, Nguyễn Bá Lân đỗ đầu kỳ thi Hương. Hai năm sau, ông đỗ kỳ thi Hội và đến khoa thi Đình năm Tân Hợi, niên hiệu Vĩnh Khánh thứ 3 (1731) ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Nguyễn Bá Lân đã từng làm Thượng thư ở 6 bộ của triều Lê, được phong tước Lễ Trạch hầu, hàm Thiếu bảo, bậc Ngũ hầu Lão Chúa. Trong “Lịch triều hiến chương loại chí” Phan Huy Chú đã hết lời ca ngợi phẩm cách trong sạch, cốt cách thanh cao và liêm khiết của ông trong cuộc đời làm quan từ năm 32 tuổi đến khi từ giã cõi đời (86 tuổi).
Người thời ấy gọi ông là một trong “An Nam tứ đại tài” (Bốn người giỏi nhất nước Nam). Đó là các ông: Nguyễn Trác Luân, Nguyễn Tông Khuê, Ngô Tuấn Cảnh và Nguyễn Bá Lân. Ông là tác giả bài “Ngã ba Hạc phú”:
Hiện nay, du lịch văn hóa đang là một trào lưu mang tính toàn cầu, nó không thể không được quan tâm vì những tác động tích cực của nó đối với cả lĩnh vực kinh tế và văn hóa. Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Như vậy, du lịch văn hóa không chỉ dựa vào văn hóa để phát triển mà còn mang sứ mệnh tôn vinh văn hóa, bảo vệ những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đồng thời làm giàu thêm văn hóa bằng những hoạt động của mình thông qua sự giao lưu văn hóa, làm cầu nối cho sự tiếp xúc, tiếp nhận những tinh hoa văn hóa các dân tộc khác trên thế giới.
Bạch Hạc chính là trung tâm đất định đô, kinh đô nước Văn Lang thời Hùng Vương dựng nước. Vùng đất địa linh, nhân kiệt, “sơn chầu thuỷ tụ” được thiên nhiên ban tặng làm tiền án của Hùng Vương Tổ Miếu – Khu di tích Đền Hùng. Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, ngã ba Bạch Hạc còn có vị thế địa trọng yếu về phòng thủ quân sự, địa điểm án ngữ về giao thông thuỷ, bộ giữa vùng đồng bằng và vùng trung du Bắc bộ, góp phần làm nên nhiều chiến công hiển hách của cha ông ta. Năm 40 – 43 theo lời hiệu triệu của Hai Bà Trưng, nữ tướng Quách A Nương – một trong số nữ tướng của Hai Bà xuất thân từ Bạch Hạc đã xây dựng đồn, trại rồi trực tiếp chỉ huy đánh tan quân Hán xâm lược trên vùng đất kinh đô Văn Lang.
Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thế kỷ thứ XIII, nhà Trần đã nhiều lần chọn ngã ba Hạc làm nơi huấn luyện quân đội. Vào ngày Thượng nguyên, năm ất Dậu (1285), Khai Quốc vương Trần Nhật Duật đã cắt tóc thề nguyện với thần linh Bạch Hạc, đem hết lòng trung để báo ơn Vua. Sau đó ông đã một mình một ngựa tiến lên phía trước, vượt qua vùng người Man Lão chỉ huy chiến đấu, cản bước tiến công và tiêu hao sinh lực địch, góp phần vào chiến thắng vang dội năm 1287 của triều Trần.
Trải qua dòng chảy của lịch sử đất Tổ Hùng Vương, vùng ngã ba sông Bạch Hạc còn lưu giữ được nhiều giá trị di sản văn hoá vật thể và phi vật thể phong phú gắn liền với vùng đất địa linh, hào khí này. Đó là quần thể công trình kiến trúc tín ngưỡng tôn giáo đậm đặc: ĐềnTam Giang; chùa Đại Bi; đình, chùa Mộ Chu Thượng; đình, chùa Mộ Chu Hạ; đền, chùa Lang Đài; đền Thượng Thọ, đền thờ Quách A Nương, chùa Hoa Long, đình Việt Trì, miếu Hà Thần… Gắn với giá trị các di tích lịch sử ấy là những giá trị văn hoá phi vật thể đặc sắc: Hội thi bơi chải; tục cướp cầu Bạch Hạc; hội thi giã bánh giầy Mộ Chu Hạ… Ngoài ra còn có các lễ hội truyền thống, các hèm, tục liên quan đến tín ngưỡng dân gian đều diễn ra trong dịp lễ hội của làng, ẩn chứa trong đó biết bao truyền thuyết, huyền thoại gắn với các địa danh về vùng đất kinh đô Văn Lang xưa.
Trên vùng đất ngã ba Bạch Hạc hiện còn có một địa điểm lịch sử quý giá về Chủ Tịch Hồ Chí Minh, đó là di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh – ghi dấu sự kiện lịch sử Bác đến thăm công trường xây dựng cầu Việt Trì vào ngày 12/2/1956 (ngày mồng một Tết, năm Bính Thân). Và nơi đây, có loài cá Anh Vũ (còn có tên khác là Gia Ngư) mà chỉ ở ngã ba sông Bạch Hạc mới có. Thời phong kiến, người bắt được cá Anh Vũ đều mang tiến Vua. Bến sông Bạch Hạc còn vang lên câu hát Ví của người dân quê cần cù chịu khó, một nắng hai sương với đủ nghề ngư, nông, canh cửi nơi bến sông, nơi ruộng đồng, cảnh điền viên nơi thôn dã.
Với nhiều tiềm năng, lợi thế, phường Bạch Hạc được UBND tỉnh Phú Thọ lựa chọn xây dựng thành điểm đến du lịch văn hóa cộng đồng, văn hóa tâm linh và trải nghiệm nông nghiệp, nông thôn, mục tiêu phát triển kinh tế theo hướng tích hợp đa giá trị và phát triển bền vững. Sở hữu cảnh sông nước hữu tình với nhiều di tích lịch sử gắn liền thời vua Hùng, khu du lịch Bạch Hạc – Bến Gót sẽ là điểm dừng chân lý tưởng để du khách hiểu hơn đất Tổ Phú Thọ. Tại đây du khách không chỉ được thưởng lãm bức tranh sông nước hữu tình, thơ mộng; bên cạnh đó sẽ được tìm hiểu rõ hơn về các di tích lịch sử, văn hóa gắn liền với sự tích thời vua Hùng dựng nước Văn Lang. Khu du lịch Bạch Hạc sẽ mang đến nhiều trải nghiệm thú vị để mỗi người con Việt Nam tìm lại một phần ký ức lịch sử hào hùng thời vua Hùng dựng nước và các thế hệ người Việt Nam cùng nhau giữ nước. Cũng ở nơi đây còn có thế mạnh phát triển nhiều loại hình du lịch như: vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, hoạt động thể thao, du thuyền trên sông nghe hát Ví cùng thưởng thức ẩm thực đặc trưng vùng kinh đô Văn Lang xưa: Cá Anh vũ tiến vua, Hồng Hạc Trì dòn tan đường cát, Bưởi Đoan Hùng ngọt lịm phù sa…
Đến với ngã ba Hạc, ta có thể tìm ra những lời giải đáp của quá khứ về văn hóa dân tộc đi từ cội nguồn; có thể xới lên nhiều tầng văn hóa chồng phủ lên nhau, trong đó có cả tầng nền móng để đi từ văn hóa Văn Lang tới văn hóa Đại Việt trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam ./.
Tháng 12 / 2024
P.B.K



















