
GẶP MẶT ĐẦU NĂM 2
Tháng 8/1982, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng ra quyết định giải thể trường Nội trú Tam Kỳ.
Bắt đầu từ năm học 1982-1983 chấm dứt việc giảng dạy và học tập tại trường Nội trú.
Trường lúc này còn gần 150 em học sinh từ lớp 6 đến lớp 12. Các anh chị cấp ba không lo, dù sao thì cũng đã lớn, tự lo cho bản thân mình được trong cuộc sống và học tiếp hay dừng lại đi trung cấp các ngành, chỉ tội các em cấp một, hai.
Tháng 6/1982 có cuộc họp quan trọng quyết định sự tồn tại của trường Nội trú Tam Kỳ gồm các Ty: Thương binh xã hội, Giáo dục, Công an, Tỉnh đội, Thương nghiệp, Lương thực, Tài chính và Uỷ ban nhân dân huyện Tam Kỳ dưới sự chủ trì của lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh ngay tại thị xã Tam Kỳ.
Cuộc họp nảy ra tranh luận gay gắt giữa Ty TBXH và Ty Giáo dục về sự tồn tại của trường.
Ty TBXH tỉnh chỉ lo việc ăn mặc ở và các nhu cầu khác còn Ty Giáo dục lo việc giảng dạy của giáo viên và học tập của các em học sinh.
Phần lớn các cô chú lãnh đạo Ty TBXH từ trên núi xuống còn Ty Giáo dục từ miền Bắc về có kinh nghiệm trong việc quản lý các em học sinh ở các trường Học sinh miền Nam trên miền Bắc.
Ty TBXH cố thuyết phục lãnh đạo tỉnh nên giữ lại trường Nội trú Tam Kỳ vì số học sinh còn lại đông và các địa phương trong tỉnh còn rất nhiều em mồ côi cha mẹ đang độ tuổi đi học, tỉnh cần quan tâm chăm lo đến tương lai của các cháu, con của các đồng chí mình đã hy sinh.
Ty Giáo dục thì bảo trường Nội trú chỉ phù hợp khi đất nước còn chiến tranh, bây giờ môi trường này đã lỗi thời, cần đưa các cháu về các địa phương sống và học tập với cộng đồng không tách biệt các cháu ở môi trường độc lập.
Cuối cùng tỉnh ra quyết định giải thể.
Hồi đó có bác lãnh đạo Ty Giáo dục nói “Thời gian sẽ trả lời cho quyết định giải thể trường Nội trú Tam Kỳ hôm nay đúng hay sai”!
Hơn bốn mươi năm trôi qua Ngành Giáo dục tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng chưa thấy ai trả lời quyết định giải thể trường Nội trú Tam Kỳ hồi đó đúng hay sai, chỉ biết rằng hàng trăm em học sinh trường Nội trú Tam Kỳ ngày ấy hụt hẫng mất niềm tin ghê gớm mà cuộc họp mặt hôm nay có em tâm sự “ngày ấy buồn vui lẫn lộn…”
Các em đã mất mẹ cha, cuộc sống trăm bề khó khăn thiếu thốn được đưa về trường Nội trú để học tập và sinh sống là một vinh dự và cơ hội để phát triển trong tương lai, vậy mà…
Trong quyết định giải thể có ghi: giao cho Ty TBXH tỉnh tiếp tục chu cấp các chế độ do Nhà nước quy định để các cháu học hết trung học phổ thông, Ty Giáo dục bố trí cho các cháu học tiếp theo nguyện vọng tại các trường Bổ túc văn hóa hoặc các trường phổ thông ở quê nhà.
Vậy là các em tan đàn xẻ nghé mỗi em về một môi trường mới.
Nếu học bổ túc các em phải học chung với các chú cô cán bộ từ trên xuống, nếu về quê các em học với các bạn nhỏ hơn mình.
Hồi đó cấp hai trong tỉnh có trường bổ túc văn hóa Hòa Vang và trường Bổ túc văn hóa công nông Tam Kỳ.
Cũng cần nói thêm hai trường bổ túc văn hóa cấp II thì ở Tam Kỳ cô Võ Thị Ngân hiệu trưởng (người Bắc) và thầy Lê Anh Dũng là học sinh miền Nam Đông Triều. Trường bổ túc văn hóa Hòa Vang thầy Võ Hiển hiệu trưởng, thầy Dương Minh Cả là học sinh miền Nam làm hiệu phó. Các cô thầy đã rất hiểu và thương các em, quan tâm đến các em rất nhiều trong vấn đề ăn mặc ở, sinh hoạt học tập. Uốn nắn từng ly từng tí một trong cuộc sống, tạo môi trường thuận lợi để các em không cảm thấy lạc lõng cô đơn khi thiếu thốn trăm bề, nhất là tình yêu thương đùm bọc của cha mẹ anh chị em. Có gì bất thường các thầy cô báo về Ty TBXH tỉnh chứ không phải Ty Giáo dục vì nơi đó lo cho các em từ tấm áo mảnh chăn quyển sách cây bút… Những em đau ốm có khi được Ty TBXH tỉnh trợ cấp khó khăn, thậm chí đưa xe của ty vào đưa các em đi viện. Sợi dây gắn bó đó đối với các em cho đến hết cấp ba.
Cấp ba có trường Bổ túc văn hóa Hội An và trường Bổ túc công nông Đà Nẵng.
Các trường này chủ yếu đào tạo bổ túc văn hóa cho cán bộ vì chiến tranh tham gia cách mạng chưa học hết cấp ba.
Đưa các em vào học chung với các chú cô sẽ bỏ qua giai đoạn sinh hoạt đoàn, đội thiếu niên vì (phần lớn các cô chú là đảng viên), mất đi thời thơ ấu hồn nhiên ngây thơ trong trắng, không hợp với lứa tuổi các em song còn cách nào khác đâu nếu không muốn nghỉ học về quê, vả lại có quê đâu mà về.
Sau khi đất nước thống nhất ai cũng chăm lo cho cuộc sống của gia đình mình, các em con mồ côi cha mẹ là đối tượng bị tổn thương nhiều nhất, sự thiếu thốn về vật chất cơm áo sách vở… tác động hằng ngày đến các em, đêm về thổn thức nhớ cha mẹ mặc cảm với cuộc đời, vì vậy có rất nhiều em bỏ học trở thành bướng bỉnh khó phục tùng kể cả với các cấp chính quyền xã, huyện.
Lãnh đạo tỉnh có nhiều chủ trương về chính sách Hậu phương quân đội, đền ơn đáp nghĩa như: Chăm sóc đỡ đầu con mồ côi cha mẹ do Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh cùng Ty TBXH phối hợp thực hiện có nhiều kết quả. Nhiều em được đỡ đầu an tâm học tập từ cấp II, III cho đến Đại học.
Đà Nẵng ngày 24/3/2024.
GẶP MẶT ĐẦU NĂM 3
Tháng 11/1982 tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm Đà Nẵng tôi được phân công đi dạy thời gian ngắn tại một trường ở huyện Tam Kỳ, tháng 1/1983 Ty TBXH nhận về công tác tại phòng Liệt sĩ có công cách mạng, chuyên theo dõi con liệt sĩ của tỉnh, trong đó có cả các em học sinh trường Nội trú Tam Kỳ.
Từ 8/1982 các em đã đăng ký về học năm học mới bắt đầu tháng 9/1983 tại các trường Bổ túc văn hóa cấp hai, ba: Tam Kỳ, Hòa Vang, Hội An, Đà Nẵng. Giữa năm 1983 trường chỉ còn lại một số cô chú được phân công ở lại giữ cơ sở vật chất của trường chờ nghỉ chế độ còn phần lớn các thầy cô giáo và cán bộ viên chức được phân công về các trường trong địa bàn tỉnh theo nguyện vọng.
Học sinh chỉ còn lại bốn em mà điều kiện sức khỏe và hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn đang chờ Ty TBXH tỉnh vào giải quyết, xong bàn giao cơ sở vật chất lại cho huyện Tam Kỳ. Nhìn ngôi trường đã một thời gắn bó với các em mà thấy lòng tê tái, cảm giác buồn miên man trên con đường Nguyễn Du vắng vẻ khi chiều xuống bóng người đi thưa thớt. Một số em học ở trường bổ túc văn hóa Tam Kỳ gần Ngã ba Nam Ngãi đi bộ về trường đứng trước cổng mà khóc ròng, biết làm sao được, chia sẻ với các em mà lòng mình không cầm được nước mắt cứ chảy tự nhiên, đành dắt các em đi dạo quanh trường để vơi phần nào nỗi niềm thổn thức.
Bốn em còn ở lại được cấp gạo và học bổng trong sáu tháng là chấm dứt đưa về quê nhà, ngặt nỗi ở quê các em có còn ai đâu mà về! Quế Sơn có hai em: Hoàng Phó và Trần Văn Nam, Tiên Phước một em: Nguyễn Thị Việt, còn một em nhỏ quá mới vào trường chưa được hai năm học cấp một nên không có trường bổ túc văn hóa cấp một, vả lại em không biết quê mình ở đâu nên càng khó.
Các em ở Quế Sơn và Tiên Phước được Ty TBXH tỉnh cho xe đưa về gửi lại địa phương với lời nhắn nhủ là quan tâm đến các em vì có hoàn cảnh đặc biệt, lãnh đạo xã hứa hẹn sẽ chú ý đến các em.
Do ảnh hưởng chất độc da cam nên các em này có tâm thần thể chất không ổn định, học tập khó tiếp thu, thường xuyên ở lại lớp do sức khỏe yếu.
Riêng em nhỏ nhất phải gửi cho một cán bộ của trường nhận về nuôi cho đi học và coi như đứa con của mình.
Trường Nội trú chính thức được bàn giao cho huyện Tam Kỳ từ tháng 10/1983, từ đây tên trường NỘI TRÚ TAM KỲ chỉ còn lại trong ký ức của các bạn đã một thời bên thầy bên bạn thân thương dù có ở phương trời xa lắc. Mỗi lần gặp mặt nhau trong thực tế hay qua điện thoại các bạn đều hỏi “Lâu nay anh có hay ghé về thăm lại trường Nội trú không?”.
Thời gian tồn tại của trường không dài song ở thời kỳ cả nước trải qua nhiều khó khăn thiếu thốn, dằn vặt với bao nỗi niềm tranh đấu giữa được và mất, giữa khổ đau và niềm hân hoan sung sướng. Các em con mồ côi cha mẹ là lớp tận cùng của sự mất mát đau thương thiếu thốn trăm bề, chính vì vậy mà các em đã bộc phát nhiều sự việc làm cho lãnh đạo tỉnh, huyện Tam Kỳ gặp không ít khó khăn trong lãnh đạo, chỉ đạo giữa bề bộn công việc thường ngày.
Bây giờ các anh chị em đã từng là học sinh trường Nội trú Tam Kỳ một thời ai cũng già rồi, trong suốt hành trình của cuộc sống có biết bao kỷ niệm song thời gian ở trường Nội trú Tam Kỳ đã in đậm trong tâm khảm của mỗi người, khó có thể nào quên được.
Viết lại những dòng này tôi không có tham vọng khơi lại điều gì về quá khứ mà chỉ nhân “Gặp mặt đầu năm” với các em lớp nhỏ khi trường giải thể, ghi nhận những gì các em phải chịu đựng phải trải qua, khổ đau buồn tủi lo lắng thất vọng… Tất cả đã được dòng thác thời gian cuốn phăng về quá khứ để bây giờ các em tóc trên đầu bạc trắng, da nhăn hơn, bàn tay chai sạm hơn… chỉ duy có tấm lòng là không thay đổi, vẫn yêu thương thủy chung gắn bó với bạn với trường xưa với thầy cô và các chú cán bộ công nhân viên của trường. Bằng chứng là khi gặp nhau các em nói nhiều về quá khứ về trường về bạn về thầy… rất tiếc là hồi ấy không có sự chuẩn bị cho ngày hôm nay, vả lại ai cũng ngây thơ trong trắng hồn nhiên của tuổi học trò, dẫu trăm nỗi lo giằng xé tâm hồn thơ dại chồng chất bao mất mát của cuộc đời đè nặng lên các em.
Cơ hội đời người chỉ có một, bao ước mơ như tuột khỏi tầm tay với khi bước ra khỏi ngôi trường về lại với quê nhà mà không có chỗ nương tựa, như cây măng giữa dông bão số phận tự mình vươn lên để sống và tồn tại đến bây giờ.
Âu cũng là số phận mà cuộc đời đã đóng dấu cho mỗi người: buồn vui sướng khổ rồi cũng qua đi trong lãng quên, nhiều bạn nay đã về với thiên cổ, nhiều bạn còn sống đâu đó trong dòng đời đầy biến động.
Anh chị em trường Nội trú một thời cố gắng kết nối song khó lắm, nhiều bạn ở vùng sâu vùng xa, nhất là các bạn học ở trường Đinh Núp sau cũng nhập về Nội trú, bây giờ không biết các bạn ở đâu, cuộc sống ra sao…
Những bài viết này như một lời kết nối các anh chị em đã từng học tại trường Nội trú Tam Kỳ một thời nay dù có ở phương trời nào xa lắc hãy nhớ lại một thời ta sống bên nhau trong ngôi trường nhỏ bé thân thương với bao nhiêu kỷ niệm.
Năm 2025 kỷ niệm 50 năm ngày thống nhất Tổ quốc, 50 năm ngày thành lập trường Nội trú Tam Kỳ và nhiều ngày lễ lớn khác, hãy dành đôi phút nhớ về thầy xưa bạn cũ, nhớ về một thời ta sống bên nhau buồn vui lẫn lộn, như một kỷ niệm khó phai mờ.
Thành phố Tam Kỳ, ngày 29/3/2024
ÂN NHÂN MỘT THỜI CỦA TRƯỜNG NỘI TRÚ TAM KỲ ĐÃ RA ĐI
Chiều hôm qua vừa ngồi vào bàn tiệc, có anh lãnh đạo lớn tuổi nói: “Em đã biết ông Lê Tư Đặng, nguyên Chủ tịch huyện Núi Thành mất chưa?”.
Trời ơi, em đâu có biết, em đã nói với các con liệt sĩ của huyện Núi Thành, Tam Kỳ, nhất là các em từng học trường Nội trú Tam Kỳ giai đoạn 1975-1982 hiện đang sinh sống tại huyện Núi Thành là: Khi nào bác Lê Tư Đặng mất các em phải cùng anh đến viếng và thắp cho bác cây hương, bác luôn quan tâm đến chúng ta, bởi vì bác là người còn sống lại sau cuộc chiến tranh mà bao nhiêu đồng chí đồng đội của bác đã hi sinh gửi gắm lại cho bác người thân trước khi nhắm mắt.
Vậy mà không ai nói gì hết! Tôi áy náy quá, liền điện thoại ngay cho một em con liệt sĩ đến đón anh đi Tam Kỳ để sáng mai anh vào thị trấn Núi Thành viếng bác Đặng.
Đành xin lỗi người báo tin và các thành viên trong bàn là em phải về trước, sau 60 phút nữa xe sẽ đến đón em đi Tam Kỳ.
Còn nhớ sau ngày đất nước thống nhất với bề bộn công việc của người lãnh đạo ở một huyện lớn tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng nhưng các bác các chú các cô vẫn quan tâm đến con em gia đình chính sách ở có trường Nội trú Tam Kỳ.
Trong điều kiện đất nước khó khăn trăm bề các bác các chú cô lãnh đạo của tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng và huyện Tam Kỳ luôn dành cho các em sự ưu ái nhất có thể, nhất là các ngày lễ tết bao giờ cũng được ăn tươi, được có quà của các cấp lãnh đạo để các em không cảm thấy tủi thân trước sự thiếu vắng cha mẹ anh chị trong cảnh mồ côi.
Những lúc ấy bác Chấp, bác Hải, bác Đặng là lãnh đạo huyện Tam Kỳ luôn có mặt động viên khuyên nhủ dặn dò các em với cả tấm lòng yêu thương tha thiết của người cha người mẹ còn lại sau cuộc chiến.
Sau này ra trường đi làm, tôi và một số em vẫn thường đến thăm bác tại thị trấn Núi Thành, bác luôn quan tâm hỏi thăm các cháu là con liệt sĩ, thấy bác khỏe tôi mừng lắm,vậy mà…
Thời gian trôi đi các bác do bệnh tật tuổi cao đã về với Thế giới Người hiền, chỉ còn lại duy nhất bác LÊ TƯ ĐẶNG và rồi bác cũng ra đi ở chín mươi mốt mùa xuân.
Cách nay gần hai năm nhân có chuyến vào Núi Thành ghé thăm bác thấy bác khỏe mạnh minh mẫn vui tươi, tôi và mấy em con liệt sĩ thầm nghĩ ước gì mình sau này được như bác.
Khi tách huyện Núi Thành, bác về làm Chủ tịch huyện vẫn luôn quan tâm đến các gia đình chính sách, nhất là các con liệt sĩ.
Tôi còn nhớ năm 1985 có em Lê Văn Tâm con Liệt sĩ Lê Văn Thành, cùng lúc nhận được hai giấy báo: đi học trung cấp ở tỉnh Phú Yên và đi nghĩa vụ quân sự. Gia đình rất dao động vì em là con duy nhất của liệt sĩ Thành, có người mách là em hãy cầu cứu Ty Thương binh Xã hội tỉnh, vậy là em cùng tôi vào Núi Thành xin gặp Chủ tịch huyện. Sau khi nghe tôi trình bày bác không nói gì mà ghi vào giấy gọi nhập ngũ: “Tôi Lê Tư Đặng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân – Chủ tịch Hội đồng nghĩa vụ quân sự huyện, tôi miễn giảm đi nhập ngũ đợt này cho cháu Lê Văn Tâm để đi học trung cấp theo giấy gọi”.
Khỏi phải nói em Tâm và gia đình mừng như thế nào và tôi xin cảm ơn bác. Khi nhắc lại việc này, bác bảo: “Mình là đồng chí đồng đội còn lại sau chiến tranh không quan tâm đến thân nhân của họ sao được”, chính điều đó đã làm cho tôi và các bạn đến thăm càng trân trọng và quý mến bác.
Sáng nay trời mưa tầm tã, tôi vẫn quyết vào viếng bác, vì nghĩ trong chiến tranh các bác đã hi sinh hết mình cho đất nước bây giờ sao vì trời mưa mà không vào viếng khi biết tin bác mất.
Một thế hệ vàng, kim cương sau chiến tranh bây giờ không còn ai hết, thời gian là dòng thác cuốn đi tất cả, kể cả những người thân yêu nhất của một thời hoa lửa.
Thắp cho bác nén hương mà thấy lòng trống vắng, vậy là từ nay cháu Kỳ mỗi lần nhớ đến một thời khó khăn chỉ biết ngưỡng vọng về các bác, một lớp người đã sống và cống hiến hết mình và không nghĩ đến mình.
Thị trấn Núi Thành Ngày 10/10/2023.
THẦY HIỆU TRƯỞNG
Năm 1980 tốt nghiệp phổ thông trung học thi đại học không đạt kết quả, nhiều bạn cùng lớp chuyển đi học trung cấp các ngành Công an, tôi cứ lần lữa mãi chưa chọn hướng nào, vì ở quê còn có bà ngoại già gần trăm tuổi và đứa em gái nhỏ mồ côi cha mẹ, quê hương sau ngày đất nước thống nhất với trăm ngàn khó khăn thiếu thốn mà mình không giúp được gì. Những năm theo học cấp hai, ba ở trường Nội trú Tam Kỳ tranh thủ ngày chủ nhật lúc đi bộ lúc xin đi nhờ xe khách về quê giúp em vỡ ruộng hoang, vỡ rẫy để trồng khoai sắn cải thiện thêm cho cuộc sống, nhìn thấy em và bà con ở quê nhà quá cực khổ muốn về công tác ở địa phương vừa giúp em vừa tham gia giúp cho quê hương. Lúc này người yêu đã chuyển vào học Cao đẳng sư phạm Đà Nẵng ngành Hoá – Sinh được mấy tháng. Một lần đến Ty Thương binh Xã hội tỉnh xin trợ cấp khó khăn có chú lãnh đạo bảo: “Cháu qua gặp cô Nguyễn Thị Lãnh, Phó Chủ tịch tỉnh xem có hướng gì không”.
Vậy là tôi qua Uỷ ban nhân dân tỉnh gần đó với cái thư giới thiệu của chú xin gặp cô. Sau khi nghe tôi trình bày hoàn cảnh và nguyện vọng, cô nói: “Bây giờ em vào học sư phạm hơi trễ vì trường đã vào xếp lớp được hai tháng rồi nhưng nếu em muốn học cô sẽ viết thư và cử chú Quá thư ký của cô đưa em lên gặp thầy hiệu trưởng, cô nghĩ thầy không từ chối nhận em vào học đâu. Vả lại sau này tốt nghiệp em có thể về công tác tại trường Nội trú Tam Kỳ giúp cho các em con mồ côi cha mẹ vì em cùng hoàn cảnh nên dễ thông cảm và thương các em”.
Quả thật vậy, sau khi xem thư của cô Lãnh, thầy bảo “Tôi cũng là người Quế Sơn đây, em vào học trễ mấy tháng nhưng là cán bộ Đoàn, cán bộ lớp những năm học cấp hai, ba lại là Học sinh miền Nam thầy tin em sẽ theo kịp các bạn, ở trường đã có rất nhiều anh chị là HSMN lớp trước vào học và được giữ lại làm cán bộ các phòng, khoa”.
Vậy là tôi được xếp vào học khoa Văn, trường Cao đẳng sư phạm Đà Nẵng từ tháng 12 năm 1980. Lúc này mọi tổ chức đã được ổn định, chỉ chưa Đại hội Đoàn các cấp của trường thôi.
Sau Đại hội tôi được bầu vào Ban Chấp hành Đoàn trường, Ban Chấp hành Liên chi Văn và được cử làm bí thư chi đoàn lớp Văn 5B đồng thời trực tiếp phụ trách theo dõi Đội Cờ đỏ của trường. Vậy là một thời kỳ khó khăn nữa bám vào tôi, những công việc đó đã chiếm rất nhiều thời gian không thể đi làm thuê kiếm tiền trang trải cuộc sống, chỉ còn ít thời gian trống tập trung vào học cho kịp các bạn để không khỏi “đội sổ”. Rất may thầy chủ nhiệm lớp, thầy chủ nhiệm khoa, thầy Hiệu trưởng luôn tạo điều kiện về thời gian, về vật chất để tôi vừa học tốt vừa tham gia công tác Đoàn, đội Cờ đỏ của trường.
Những đêm trực Cờ đỏ gặp thầy hiệu trưởng ở lại làm việc đêm, thầy trò có dịp nói chuyện về quê hương gia đình, thầy luôn thông cảm và dành cho đứa học trò một tình cảm đặc biệt, vì cùng quê, cùng họ lại là con mồ côi cha mẹ và là học sinh miền Nam nên thầy có phần ưu ái.
Lúc này tôi mới biết thầy xuất thân trong một gia đình danh giá ở quê tôi, thầy đã tham gia Cách mạng từ khi còn trẻ, đã trải qua nhiều cương vị công tác khác nhau trong ngành giáo dục, đã từng được cử đi đào tạo tại Liên bang Xô viết với học hàm Phó Giáo sư, học vị Phó Tiến sĩ khoa học và thầy còn là một nhà thơ nên thầy trò dễ gần gũi nhau. Tôi vô cùng ngưỡng mộ thầy và ghi nhận từng lời thầy dạy bảo.
Chưa hết một năm học đầu thầy được Bộ Giáo dục điều ra Hà Nội làm Thứ trưởng. Hôm chia tay tại trường để nhận nhiệm vụ mới, thầy gửi gắm tôi cho thầy hiệu trưởng về thay và cả các thầy cô khoa Văn là nên quan tâm đến tôi cả ăn ở học tập vì tôi là một trường hợp đặc biệt.
Qua mấy năm học và công tác Đoàn, đội Cờ đỏ, tôi luôn cố gắng hoàn thành các công việc được giao để không phụ lòng tin của thầy và các cô chú, của nhà trường để tốt nghiệp ra trường đi làm cho đến khi nghỉ hưu.
Hôm nay nhân đám cưới con của người cháu gọi thầy bằng cậu ruột dù tuổi đã chín mươi ba song thầy vẫn còn minh mẫn nhanh nhẹn, nhìn thấy thầy đi vào mà lòng trào dâng niềm xúc động.
Em muốn lại chào thầy và nói lời cảm ơn song e không tiện vì giữa hôn trường;ồn ào dễ gì thầy còn nhận ra trò qua mấy chục năm vả lại tuổi thầy đã quá cao để nhắc lại kỷ niệm xưa của đứa học trò mà chắc với thầy có cả trăm, ngàn trường hợp như vậy.
Tôi viết những dòng này như một lời tri ân với các bậc tiền bối đã cưu mang giúp đỡ mình trong lúc khó khăn. Điều quan trọng là em đã làm tròn trách nhiệm của một đứa con của quê hương, xứng đáng là học trò của thầy như lời thầy căn dặn năm xưa.
Bây giờ em nghỉ hưu đã được mấy năm, có thời gian nghĩ về quá khứ nghĩ về thời gian về những người đã quan tâm đến mình tạo điều kiện cho mình phấn đấu vươn lên trong cuộc sống vốn nhiều chông gai cạm bẫy…
Đà Nẵng ngày 15/01/2024.
![Trường Nội trú Tam Kỳ: Một thời thương nhớ [Kỳ 4] - Tác giả: Nhà thơ Trần Sỹ Kỳ Trường Nội trú Tam Kỳ: Một thời thương nhớ [Kỳ 4] - Tác giả: Nhà thơ Trần Sỹ Kỳ](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2025/07/Truong-Noi-tru-Tam-Ky-Mot-thoi-thuong-nho-Ky-4-Tac-gia-Nha-tho-Tran-Sy-Ky-1068x1083.jpg)




















Kính gởi: Vansuddia.net
Tôi Võ Duy Dương cùng học với Anh Trần Sỹ Kỳ có các bài viết về Trường Nội Trú Tam Kỳ có đăng trên tạp chí nhân kỷ niệm 50 Năm Trường Nội Tam Kỳ. Lần đầu tiên vào trang Tôi thấy các bài viết rất bổ ích và phong phú về nội dung và thể loại giúp bạn đọc tìm hiểu khám phá….
Trân trọng cảm ơn!