Nhà thờ tộc Phùng – Phong Lệ , TP Đà Nẵng.
Theo các tài liệu phổ hệ tộc Phùng và tư liệu lưu trữ còn lại của làng Phong Lệ, xã Đà Ly xưa được tổ cô Phùng Thị Cúc khai báo tại triều đình Huế vào ngày 07/06 năm Giáp Thân (Minh Mạng tam niên). Theo văn khố lưu trữ Bộ 101 xã Đà Ly, Thanh Quýt Trung Tổng, huyện Duyên Phước, phủ Điện Bàn được Tộc trưởng Phùng Nhàn (đời thứ 20) và Tộc phó Phùng Thành (đời thứ 21) trích lục tại Trung tâm bảo tồn Di tích cố đô Huế cho thấy tộc Phùng có nguồn gốc lâu đời, thuộc hệ Bách Việt, trải qua quá trình phát triển từ thời cổ đại và dần định hình qua các triều đại phong kiến. Đến khoảng thế kỷ XIV, trong tiến trình mở rộng lãnh thổ về phương Nam, một bộ phận cư dân từ các vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã di cư vào khu vực Hóa Châu (từ Quảng Bình đến Quảng Nam ngày nay), trong đó có dòng họ Phùng.
Nhà thờ tộc Phùng – Phong Lệ , TP Đà Nẵng.
Trong dòng chảy lịch sử ấy, cụ Phùng Văn Đình (đời thứ 6) được xem là một trong những người tiên phong đưa dòng họ tộc Phùng vào vùng đất Đà Ly, đặt nền móng cho quá trình khai phá, khẩn hoang và định cư lâu dài. Sự hiện diện của cụ Phùng Văn Đình không chỉ mang ý nghĩa di cư đơn thuần mà còn mở đầu cho việc xác lập một cộng đồng cư dân ổn định trên vùng đất còn nhiều hoang sơ, vắng vẻ.
Kế tục sự nghiệp của tiền nhân, cụ Phùng Văn Mươi (đời thứ 7) giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tổ chức và phát triển cộng đồng. Cụ sống vào khoảng cuối thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XV, đảm nhiệm nhiều chức vụ như Động trưởng, Cai trại và sau là Xã trưởng xã Đà Ly. Với vai trò này, cụ không chỉ quản lý hành chính mà còn trực tiếp điều hành việc khai khẩn ruộng đất, ổn định đời sống dân cư, xây dựng các thiết chế xã hội ban đầu.
Các tài liệu cũng ghi nhận mối quan hệ mật thiết giữa tộc Phùng với các tộc Phan, Ông và một số tộc khác trong giai đoạn đầu. Đây không chỉ là sự liên kết về huyết thống mà còn là sự phối hợp chặt chẽ trong quá trình khai hoang, lập ấp, tạo dựng nền tảng cho cộng đồng làng xã sau này.
Nhà thờ tộc Phùng – Phong Lệ , TP Đà Nẵng.
Vào đầu thế kỷ XV, trong bối cảnh chuyển giao từ nhà Trần sang nhà Hồ, việc tổ chức lại các đơn vị hành chính và khai thác đất đai được thúc đẩy mạnh mẽ. Tại vùng đất Đà Ly, dưới sự chỉ đạo của các lực lượng kinh lược và sự tham gia trực tiếp của các tộc họ, quá trình khai phá diễn ra quy mô và bài bản.
Các trại như Nội Đồng, Kỳ La, La Hường được hình thành, sau đó được chỉnh lý và hợp nhất thành một đơn vị hành chính hoàn chỉnh mang tên xã Đà Ly, thuộc huyện Duyên Phước, phủ Điện Bàn (khoảng năm 1402–1404). Trong tiến trình này, vai trò của các tiền hiền đặc biệt nổi bật.
Ba dòng họ Phan – Phùng – Ông được xem là những lực lượng nòng cốt có công đầu trong việc khai lập làng. Trong đó, tộc Phùng giữ vị trí quan trọng với hai nhân vật tiêu biểu:
– Cụ Phùng Văn Đình: Người khai cơ, đưa dòng họ đến lập nghiệp, đặt nền móng ban đầu cho sự hình thành và phát triển.
– Cụ Phùng Văn Mươi: Người tổ chức và điều hành đời sống văn hóa cộng đồng, trực tiếp đảm nhiệm vai trò xã trưởng, góp phần định hình cơ cấu hành chính và xã hội.
Chính nhờ công lao của các tiền hiền mà vùng đất Đà Ly từ chỗ hoang sơ đã trở thành một cộng đồng cư dân ổn định và phát triển. Về sau, nhân dân tôn thờ ba vị có công lớn được gọi là Tam vị Tiền hiền, được phụng thờ tại nhà thờ Tiền hiền của làng Phong Lệ Nam (xã Hòa Châu (cũ) Tp Đà Nẵng).
Riêng nhà thờ tộc Phùng Văn được các tiền nhân xây dựng trên vùng đất Phong Lệ Bắc (tức xã Hòa Thọ (cũ) phường Hòa Thọ Tp Đà Nẵng ngày nay) được con cháu các thế hệ kế tiếp trùng tu, bảo quản rất trang nghiêm. Hàng năm, vào ngày 05/03 âm lịch và các ngày Xuân kỳ Thu tế, lễ, tết… Con cháu các chi – phái tộc Phùng mọi nơi tề tựu về dự lễ dâng hương tưởng niệm và duy trì việc phụng thờ, hương khói tổ tiên qua bao thế hệ.
Lễ hội Mục đồng: Đoàn rước Thần nông đi qua cánh đồng của làng quê Phong Lệ, TP Đà Nẵng.
Làng Phong Lệ xưa gọi là Đà Ly, là một vùng đất rộng lớn nằm phía Nam đèo Hải Vân, có vị trí địa lý thuận lợi với đầy đủ yếu tố núi – sông – đồng bằng. Theo các văn tế cổ truyền, địa giới của làng được xác định: “Nam giáp Trà Kiệu, Bắc giáp Hải Vân, Tây giáp núi Chúa, Đông giáp Ngũ Hành Sơn”.
Địa hình làng được chia thành nhiều khu vực: Phía Bắc là vùng gò đồi (Phong Bắc), có xóm Rừng. Trung tâm là dòng sông Yên nối với sông Cẩm Lệ. Phía Nam (Phong Nam) là vùng đồng bằng màu mỡ, gồm các thôn Đông Hòa, Tây An, Bàu Cầu…
Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, làng Phong Lệ phát triển sớm và đóng vai trò như một địa bàn tiền tiêu trong tiến trình khai phá phương Nam, đồng thời là trung tâm sản xuất nông nghiệp quan trọng của khu vực.
Qua hơn 600 năm, làng không ngừng mở rộng, hình thành thêm các khu vực cư trú mới như Phong Tây (Hòa Phú ngày nay), tạo nên một không gian làng xã rộng lớn và ổn định.
Cư dân làng Phong Lệ có nguồn gốc chủ yếu từ các tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh, cùng cộng cư với dân bản địa, tạo nên một cộng đồng đa tộc họ nhưng gắn bó chặt chẽ.
Ban đầu, làng có 13 tộc họ, gồm: Tứ Lê, Ngũ Ngô và các tộc Phùng, Ông, Nguyễn, Võ…
Sau này phát triển thêm các tộc Trần, Phan, Bùi…, nâng tổng số lên 17 rồi 20 tộc.
Dù đến trước hay sau, tất cả các tộc đều: Cùng tôn thờ Tam vị Tiền hiền, cùng tham gia các hoạt động cộng đồng và bình đẳng trong việc sử dụng công điền, công thổ.
Điều này phản ánh tinh thần cố kết cộng đồng bền vững, một đặc trưng nổi bật của làng Phong Lệ.
Trong cấu trúc ấy, tộc Phùng là một trong những tộc có mặt sớm nhất, giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự xã hội và truyền thống văn hóa.
Đến nay, gần 700 năm từ ngày cụ cao tổ Phùng Văn Đình di lưu lập nghiệp trên mảnh đất Đà Ly, Tộc Phùng đã phát triển qua hơn 23 đời, nhiều chi phái lan tỏa ra nhiều vùng khác như Hòa Vang, Đại Lộc, Điện Bàn, Thăng Bình… sau đó lan rộng và phát triển dần về các tỉnh phương Nam, góp phần hình thành mạng lưới cư dân rộng lớn.
Đình làng cổ tại Phong Lệ , TP Đà Nẵng.
Kinh tế
Nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa nước, là nền tảng kinh tế chủ đạo của làng. Bên cạnh đó, cư dân còn phát triển nhiều ngành nghề phụ như: Đánh bắt thủy sản, nổi bật là nghề cào hến ở Đông Hòa. Chăn nuôi vịt đàn quy mô lớn tại ven sông Cẩm Lệ. Sản xuất thủ công: đan tre, làm bánh, chế biến nông sản…
Những hoạt động này không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt mà còn tạo nên nét đặc trưng kinh tế của làng.
Văn hóa
Đời sống văn hóa dân gian phong phú với các hình thức: Hò vè trên sông và đồng ruộng, hát bội trong các dịp lễ hội, sinh hoạt cộng đồng tại đình, miếu…
Đặc biệt, lễ hội Mục Đồng là một di sản văn hóa độc đáo, tôn vinh trẻ chăn trâu và phản ánh tín ngưỡng nông nghiệp sâu sắc.
Truyền thống hiếu học cũng được hình thành từ sớm. Từ việc học chữ Hán đến phong trào bình dân học vụ sau Cách mạng Tháng Tám, người dân luôn coi trọng tri thức và giáo dục.
Đình làng cổ tại Phong Lệ , TP Đà Nẵng.
Trong lịch sử đấu tranh dân tộc, làng Phong Lệ luôn thể hiện tinh thần yêu nước và ý chí kiên cường.
– Năm 1858–1859: nhân dân tham gia chống liên quân Pháp – Tây Ban Nha
– Năm 1885: hưởng ứng phong trào Cần Vương
– Năm 1908: tham gia phong trào chống sưu thuế
Nhiều nhân vật của làng đã có đóng góp quan trọng trong các phong trào yêu nước.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhân dân Phong Lệ, trong đó nồng cốt là tộc Phùng đã tiếp tục phát huy truyền thống đấu tranh, tham gia lực lượng cách mạng, hỗ trợ bộ đội, du kích chống Mỹ cứu nước.
Ngày 26/3/1975, làng Phong Lệ và thành phố Đà Nẵng được giải phóng, kết thúc chặng đường đấu tranh lâu dài, gian khổ.
Một số đình, nhà thờ chi tộc tại làng Phong Lệ, TP Đà Nẵng.
Nhà thờ Tiền hiền
Là trung tâm tín ngưỡng của làng, nơi thờ phụng các vị tiền hiền và hậu hiền. Nhà thờ được hình thành từ khoảng thế kỷ XVI, tái thiết nhiều lần và trở thành không gian sinh hoạt văn hóa quan trọng.
Không chỉ mang ý nghĩa tâm linh, nơi đây còn gắn với nhiều sự kiện lịch sử, đặc biệt trong Cách mạng Tháng Tám và các phong trào kháng chiến.
Đình Thần Nông
Gắn liền với tín ngưỡng nông nghiệp, thờ vị thần dạy dân trồng trọt. Đình là trung tâm của lễ hội Mục Đồng – một lễ hội mang tính nhân văn và cộng đồng sâu sắc.
Hệ thống miếu thờ
Bao gồm các miếu Thái Giám, Bà Giàng, Ngũ Hành, Âm Linh Tự… phản ánh đời sống tín ngưỡng đa dạng, kết hợp giữa thờ thần, thờ mẫu và thờ cô hồn, thể hiện tinh thần nhân văn của cư dân.
Cổng nhà thờ 3 vị Tiền hiền (hay Tiền hiền tộc) làng Phong Lệ,TP Đà Nẵng.
Từ các tư liệu lịch sử, có thể khẳng định:
– Làng Phong Lệ là một làng cổ tiêu biểu, có lịch sử hơn 600 năm.
– Quá trình hình thành gắn liền với công lao của các tộc họ, đặc biệt là Phan – Phùng – Ông.
– Tộc Phùng, với hai nhân vật tiêu biểu là Phùng Văn Đình và Phùng Văn Mươi, là những vị tiền hiền giữ vai trò quan trọng trong việc khai cơ, tổ chức và phát triển làng xã.
Sự tồn tại bền vững của các thiết chế văn hóa, cùng với truyền thống đoàn kết cộng đồng, đã tạo nên bản sắc riêng của làng Phong Lệ.
Tác giả bài viết (Nhà thơ, nhà báo Phùng Hiệu).
Tóm lại, từ một vùng đất hoang sơ trong tiến trình Nam tiến, Đà Ly – Phong Lệ đã trở thành một cộng đồng làng xã ổn định, giàu truyền thống văn hóa và lịch sử. Trong hành trình ấy, tộc Phùng đóng vai trò quan trọng ngay từ buổi đầu, góp phần định hình cấu trúc xã hội và đời sống cộng đồng.
Công lao của các bậc tiền hiền, đặc biệt là Phùng Văn Đình và Phùng Văn Mươi, không chỉ có ý nghĩa đối với tộc họ mà còn đối với toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của làng Phong Lệ.
Trải qua hơn sáu thế kỷ, những giá trị ấy vẫn được gìn giữ, trở thành nền tảng tinh thần cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Phùng Hiệu – Phùng Kiệm
————————-
Bài viết này tác giả có tham khảo qua một số tư liệu cũ




















