CHÙM THƠ PHÙNG KHẮC KHOAN DO PHÙNG VĂN KHAI
DỊCH SANG THỂ LỤC BÁT
(Kỳ thứ mười ba)
Lời người dịch: Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan có nhiều năm đảm đương cương vị mệnh quan triều đình các vùng đất miền Trung như Thanh Hóa, Nghệ An. Tương truyền, Phùng Khắc Khoan và tiên sinh Nguyễn Dữ – tác giả của Truyền kỳ mạn lục nổi tiếng đã có nhiều cuộc đàm đạo văn chương rất tâm đầu ý hợp. Hai cụ dẫu văn chương khác biệt nhưng đều là tình ý liên thông. Trong các bài thơ quan Trạng làm nơi đất miền Trung có loạt bài về các danh thắng nơi đây càng cho thấy những thông điệp từ văn chương của Trạng Bùng luôn vô cùng mạnh mẽ và rộng lớn.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai
羅 山 十 詠
其 一
富 貴 從 來 未 許 求
幾 人 乘 馬 上 陽 州
與 其 十 事 九 如 意
不 若 三 平 兩 滿 休
能 自 得 時 還 自 得
知 無 憂 處 便 無 憂
于 今 勘 破 循 環 理
笑 倚 欄 杆 暗 點 頭
Phiên âm:
LA SƠN THẬP VỊNH
KỲ NHẤT
Phú quý tòng lai vị hứa cầu,
Kỷ nhân thừa mã thướng Dương Châu.
Dữ kỳ thập sự cửu như ý,
Bất nhược tam bình lưỡng mãn hưu.
Năng tự đắc thời hoàn tự đắc,
Tri vô ưu xứ tiện vô ưu.
Vu kim khám phá tuần hoàn lý,
Tiếu ỷ lan can ám điểm đầu.
Dịch nghĩa:
MƯỜI BÀI THƠ VỊNH LA SƠN(1 )
BÀI MỘT
Xưa nay phú quý mấy ai cầu mà được,
Mấy người được cưỡi ngựa đi làm quan Thứ sử Dương Châu(2 ).
So với chuyện làm mười việc chín việc được như ý,
Thì bằng tạm vừa lòng với chuyện làm năm việc thì ba việc vừa phải, hai việc thỏa mãn.
Lúc nào có thể thỏa thích được thì cứ việc thỏa thích,
Chỗ nào không cần phải lo nghĩ thì không lo nghĩ.
Nay đã tìm hiểu rõ được lẽ tuần hoàn,
Tựa lan can, mỉm cười ngầm gật đầu mãi.
Dịch thơ:
MƯỜI BÀI THƠ VỊNH LA SƠN
BÀI MỘT
Xưa nay phú quý cơ cầu
Kìa xem Thứ sử Dương Châu mộng vàng
Mười nên chín việc vẻ vang
Tạm thành ba việc khang trang hãy cười
Việc mình thoả thích mình thôi
Lo gì thiên hạ mà ngồi nghĩ lo
Tám tuần bát tiết từ xưa
Cười lên một tiếng nắng vừa đầy sân.
Phùng Văn Khai dịch
—————–
([1]) La Sơn: tên núi ở tỉnh Hà Tĩnh ngày nay.
([2]) Ý nói đó chỉ là mơ ước hão huyền. Xưa có người mộng thấy mình được giàu sang, lưng có mười vạn quan tiều, làm quan Thứ sứ ở Dương Châu, rồi cưỡi hạc lên trời thành tiên. Tỉnh dậy chẳng thấy gì hết.
其 六
塵 世 紛 紛 一 筆 勾
林 泉 深 處 任 優 游
蓋 間 茅 屋 牵 蘿 補
權 箇 琴 門 對 水 流
打 那 閒 眠 真 可 樂
喫 些 淡 飯 自 忘 憂
眼 前 多 少 英 雄 輩
管 甚 由 來 不 點 頭
Phiên âm:
KỲ LỤC
Trần thế phân phân nhất bút câu,
Lâm tuyền thâm xử nhậm ưu du.
Cái gian mao ốc khiên la bổ,
Quyền cá cầm môn đối thủy lưu.
Đả ná nhàn miên chân khả lạc,
Khiết ta đạm phạn tự vong ưu.
Nhãn tiền đa thiểu anh hùng bối,
Quản thậm do lai bất điểm đầu.
Dịch nghĩa:
BÀI SÁU
Việc trần thế bời bời, một nét bút xóa bỏ đi hết,
Ta ở sâu trong rừng suối, tùy ý tiêu dao.
Kéo cỏ la vá víu, lợp gian nhà tranh,
Vỗ đàn cầm, nhìn dòng suối chảy.
Đánh giấc ngủ ngon lành, thật là thích thú,
Ăn bữa cơm đạm bạc, tự khắc quên lo.
Bao kẻ anh hùng trước mắt ta,
Làm việc gì, xưa nay đều không bằng lòng, vừa ý.
Dịch thơ:
BÀI SÁU
Việc đời nét bút xoá đi
Sâu trong suối thẳm ta thì tiêu dao
Cỏ la mái lợp hanh hao
Đàn cầm suối vỗ đâu nào kém tiên
Rêu phong thiếp giấc ngủ yên
Rau dưa đạm bạc ưu phiền lánh xa
Anh hùng, khanh tướng quanh ta
Việc đời trăm vẻ, vào ra khôn lường.
Phùng Văn Khai dịch
行 年
三 十 行 庚 今 有 七
欣 逢 甲 子 元 之 一
福 隨 陽 長 喜 康 強
道 與 時 行 那 意 必
清 以 當 官 利 克 污
勤 於 作 德 心 常 逸
所 期 斯 世 治 平 開
幸 再 覩 堯 天 舜 日
Phiên âm:
HÀNH NIÊN
Tam thập hành canh kim hựu thất,
Hân phùng Giáp Tý nguyên chi nhất.
Phúc tùy dương trưởng hỷ khang cường,
Đạo dữ thời hành na ý tất.
Thanh dĩ đương quan lợi khắc ô,
Cần ư tác đức tâm thường dật.
Sở kỳ tư thế trị bình khai,
Hạnh tái đổ Nghiêu thiên Thuấn nhật.
Dịch nghĩa:
NĂM TRẢI QUA
Năm nay ta ba mươi bảy tuổi,
Mừng gặp năm Giáp Tý, năm đầu một giáp.
Phúc theo khí dương lớn lên, mừng được an khang mạnh khỏe,
Đạo theo thời thực hành, không có ý riêng khẳng định lấy được(3 ).
Làm quan giữ thanh liêm, vụ lợi thì ô uế,
Tích đức làm chăm chỉ nên tâm được an vui.
Kỳ vọng đời này mở ra cuộc trị bình,
Để may lại được thấy ngày Nghiêu tháng Thuấn thái bình thịnh trị.
Dịch thơ:
NĂM TRẢI QUA
Ba mươi bảy tuổi an khang
Mừng năm Giáp Tý thênh thang gọi là
Khúc dương khí vận sơn hà
Thuần hành chánh đạo đâu là ý riêng
Làm quan thân giữ thanh liêm
Đức nên chăm chỉ vững bền xưa sau
Trị bình mấy cuộc cơ cầu
Ngày Nghiêu tháng Thuấn bền lâu mới là.
Phùng Văn Khai dịch
——————
([3]) Không theo ý riêng khẳng đinh lấy được: dịch chữ “ý tất”, chữ trong sách Luận ngữ, thiên Tử Hãn.

端 午 藥
端 午 人 求 藥 味 良
惟 余 自 治 有 神 方
謹 身 自 是 消 風 劑
持 志 斯 為 順 氣 湯
但 把 箇 心 存 燮 理
定 知 四 體 保 康 強
若 言 醫 國 醫 民 手
仁 義 為 丹 上 聖 皇
Phiên âm:
ĐOAN NGỌ DƯỢC
Đoan ngọ nhân cầu dược vị lương,
Duy dư tự trị hữu thuần phương.
Cẩn thân tự thị tiêu phong tễ,
Trì chí tư vi thuận khí thang.
Đãn bả cá tâm tồn tiếp lý,
Định tri tứ thể bảo khang cường.
Nhược ngôn y quốc y dân thủ,
Nhân nghĩa vi đan thướng thánh hoàng.
Dịch nghĩa:
THUỐC HÁI NGÀY ĐOAN NGỌ(4 )
Ngày mồng năm tháng năm, người ta đi tìm vị thuốc tốt,
Chỉ ta có phương thuốc thần hiệu tự chữa cho mình.
Giữ thân cẩn thận, đó là tễ thuốc trừ phong(5 ),
Giữ chí cho vững vàng, ấy là thang thuốc thuận khí(6 ).
Chỉ cần đem cái tâm giữ cho điều hòa,
Thì nhất định tứ chi sẽ được khỏe mạnh.
Còn nói tới phương thuốc chữa bệnh cho nước khỏi loạn, cho dân khỏi khổ,
Xin dâng cho nhà vua thứ linh đan nhân nghĩa.
Dịch thơ:
THUỐC HÁI NGÀY ĐOAN NGỌ
Tết nay thuốc tốt ta tìm
Riêng đâu tự chữa cho mình hanh thông
Thân cẩn thận giữ gia phong
Chí bền vững mới càng mong giúp đời
Thân tâm nhất thể đất trời
Càng thêm khoẻ mạnh cùng người lo toan
Dâng vua thần được linh đan
Chúng dân khang kiện, cơ hàn lùi xa.
Phùng Văn Khai dịch
—————–
([4]) Theo tục xưa, cứ đến ngày 5 tháng 5, tức tết Đoan Ngọ, người ta đua nhau đi hái các thứ lá thuốc, dùng để uống hay xông, hy vọng chữa được bệnh tật.
([5]) Thuốc trừ phong: Thuốc uống giải trừ gió độc.
([6]) Thuốc thuận khí: thang thuốc uống làm cho khí xuôi thuận, không bốc ngược lên.
行 年
時 蓋 丁 卯 之 四 十 歲 也
營 在 扶 黎 家 在 河 梁
自 讀 書 來 四 十 霜
書 中 奧 義 月 期 將
理 求 不 惑 師 吾 聖
世 寂 無 聞 戒 彼 狂
養 勇 益 堅 心 肯 動
得 時 自 喜 仕 當 強
日 新 勉 進 方 來 善
以 是 祈 天 集 百 祥
Phiên âm:
HÀNH NIÊN
(Thời cái Đinh mão chi tứ thập tuế dã.
Doanh tại Phù Lê, gia tại Hà Lương)
Tự độc thư lai tứ thập sương,
Thư trung áo nghĩa nguyệt kỳ tương.
Lý cầu bất hoặc sư ngô thánh,
Thế tịch vô văn giới bỉ cuồng.
Dưỡng dũng ích kiên tâm khẳng động,
Đắc thời tự hỷ sĩ đương cường.
Nhật tân miễn tiến phương lai thiện,
Dĩ thị kỳ thiên tập bách tường.
Dịch nghĩa:
NĂM TRẢI QUA
(Bấy giờ là năm Đinh mão [1567], tôi 40 tuổi.
Dinh ở Phù Lê, nhà ở Hà Lương)(*)
Từ khi đi học đến nay, ta đã bốn mươi tuổi,
Nghĩa lý sâu xa trong sách, ngày tháng mong hiểu biết sâu rộng(7 ).
Ta tìm chân lý, bốn mươi tuổi thì bất hoặc, học theo Khổng phu tử ta(8 ).
Bốn mươi tuổi mà lặng yên không có tiếng tăm gì ở đời, đó là lời răn đối với kẻ cuồng kia(9 ).
Ta cố dưỡng khí như Mạnh Tử không chịu động tâm(10 ),
Ta mừng đắc thời, ra làm quan đương lúc cường tráng(11 ).
Ta không ngừng đổi mới, cố gắng tiến lên, điều thiện sắp đến với ta(12 ),
Dùng những việc ấy cầu trời giáng cho trăm phúc lành.
Dịch thơ:
NĂM TRẢI QUA
Ta nay tròn bốn mươi niên
Học người xưa đạo thánh hiền rộng sâu
“Nhi bất hoặc” ý Khổng Khâu
Lời răn còn đó khấu đầu tri âm
Vững như tường nước lặng câm
May vua dùng đến lúc thân tráng cường
Dốc lòng hành đạo quan phương
Mối riềng giữ trọn, cương thường bền lâu.
Phùng Văn Khai dịch
—————–
(*) Phù Lê – Hà Lương: tên đất thuộc Thanh Hoa.
Sau bài này có bài Canh ngọ niên tự thuật, tác giả trước tác lúc 43 tuổi, khi ấy tác giả theo việc quân tại hành điện Lại Hà. Từ năm này trở đi cho đến năm 52 tuổi, tác giả đều có thơ Hành niên.
([7]) Kinh Thi có câu: “Nhật tựu nguyệt tương”, chỉ ngày qua tháng lại, thành tựu ngày càng tiến tới. Ở đây dùng để chỉ hiểu biết ngày càng nhiều và sâu sắc.
([8]) Luận ngữ có câu: “Tứ thập nhi bất hoặc”, tức 40 tuổi thì không còn nghi hoặc gì. Câu này là của Khổng Tử, người được coi là bậc thánh của đạo Nho.
([9]) Luận ngữ có câu: “Tứ thập ngũ thập nhi vô văn yên, tư diệc bất túc úy dã dĩ” (Đến 40, 50 tuổi mà không có danh vọng gì, thì con người ấy cũng chẳng đủ sợ vậy).
([10]) Sách Mạnh Tử có câu: “Ngã tứ thập bất động tâm” (Ta 40 tuổi, lòng không bị dao động). Ở đây nói lòng yên tĩnh.
([11]) Kinh Lễ có câu: “Tứ thập viết cường nhi sĩ” (Đàn ông 40 tuổi là tuổi trí lực cường thịnh, có thể ra làm quan).
([12]) Sách Đại học có câu: “Nhật tân, nhật tân, hựu nhật tân”. Câu này ý nói tiến bộ liên tục, không ngừng.
赤 土 駐 營 除 夕
古 往 今 來 此 夕 同
些 回 聊 寓 柳 營 中
斗 牛 光 射 千 山 雪
鼓 角 聲 傳 萬 壑 風
冬 後 生 春 天 道 妙
威 中 布 德 聖 心 公
晨 興 密 祝 求 如 願
所 願 兼 全 孝 與 忠
Phiên âm:
XÍCH THỔ TRÚ DOANH TRỪ TỊCH
Cổ vãng kim lai thử tịch đồng,
Ta hồi liêu ngụ Liễu doanh trung.
Đẩu Ngưu quang xạ thiên sơn tuyết,
Cổ giác thanh truyền vạn hác phong.
Đông hậu sinh xuân thiên đạo diệu,
Uy trung bố đức thánh tâm công.
Thần hưng mật chúc cầu như nguyện,
Sở nguyện kiêm toàn hiếu dữ trung.
Dịch nghĩa:
BA MƯƠI TẾT ĐÓNG Ở DOANH XÍCH THỔ(13 )
Xưa qua, nay lại, buổi trừ tịch này như nhau,
Lúc này hãy tạm ở trong doanh Tế Liễu(14 ).
Ánh sáng sao Đẩu sao Ngưu, tỏa tới tuyết trên ngàn núi,
Tiếng vang cái còi, cái trống, truyền theo gió ở muôn hang.
Sau mùa đông, nảy ra mùa xuân, đạo trời màu nhiệm,
Trong oai nghiêm, ban bố ân đức, lòng thánh công minh.
Sáng sớm dậy khấn thần, cầu được như nguyện,
Nguyện rằng trung hiếu trọn vẹn được cả hai.
Dịch thơ:
BA MƯƠI TẾT ĐÓNG Ở DOANH XÍCH THỔ
Xưa nay trừ tịch như nhau
Quân doanh Xích Thổ nhiệm màu biên phong
Hướng về Ngưu, Đẩu ta trông
Tiếng còi, tiếng trống thì thùng truyền đi
Xuân sang trời đất diệu kỳ
Oai nghiêm vằng vặc bốn bề thánh minh
Tinh sương cầu nguyện đinh ninh
Hiếu trung vẹn đạo nghĩa tình thiên thu.
Phùng Văn Khai dịch
—————-
([13]) Xích Thổ: tên đất xưa thuộc Thiên Quan, nay thuộc huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
([14]) Tế Liễu: một doanh trại quân thời Tây Hán ở biên giới để phòng bị ngoại xâm mà họ gọi là rợ Hồ. Đây ví với quân doanh Xích Thổ.
從 軍 遇 風 寒 偶 作
生 平 壯 志 在 君 親
衣 褐 從 戎 效 古 人
義 迪 坤 三 勞 肯 憚
信 逢 巽 二 報 何 頻
但 知 日 運 胸 中 甲
不 覺 時 生 臂 上 鱗
幸 賴 天 留 元 氣 在
律 回 復 喜 有 陽 春
Phiên âm:
TÒNG QUÂN NGỘ PHONG HÀN NGẪU TÁC
Sinh bình tráng chí tại quân thân,
Ý hạt tòng nhung hiệu cổ nhân.
Nghĩa địch Khôn Tam lao khẳng đạn,
Tín phùng Tốn Nhị báo hà tần.
Đãn tri nhật vận hung trung giáp,
Bất giác thời sinh tý thượng lân.
Hạnh lại thiên lưu nguyên khí tại,
Luật hồi phục hỷ hữu dương xuân.
Dịch nghĩa:
THEO VIỆC QUÂN, GẶP GIÓ RÉT,
BẤT CHỢT LÀM THƠ
Bình sinh chí lớn để cả vào quân vương, phụ mẫu,
Mặc áo ngắn đi tòng quân, bắt chước người xưa.
Nghĩa tiến lên Khôn Tam(15 ), khó nhọc không quản,
Tín gặp được Tốn Nhị(16 ), báo đáp được luôn.
Chỉ biết hàng ngày vận dụng mưu lược trong bụng,
Quên cả những lúc mọc đầy vẩy trên cánh tay.
May nhờ trời vẫn còn để lại cho nguyên khí,
Khí dương trở lại, lại mừng có ngày xuân.
Dịch thơ:
THEO VIỆC QUÂN, GẶP GIÓ RÉT
Bình sinh chí lớn giúp đời
Tòng quân áo ngắn theo người xưa nay
Khôn Tam khó nhọc làm khuây
Tín thành Tốn Nhị như cây trong rừng
Cơ trời vận hội nghĩa trung
Mà quên cực nhọc hàn phong xá gì
Dày thêm nguyên khí một khi
Càng thêm phấn chấn càng đi giúp đời.
Phùng Văn Khai dịch
——————
([15]) Khôn Tam: hào Tam quẻ Khôn trong Kinh Dịch, nêu biểu tượng có tài đức, giữ kiên trinh để theo việc nhà vua.
([16]) Tốn Nhị: hào Nhị quẻ Tốn, nêu biểu tượng nhún nhường khiêm tốn, lấy thành tín cảm động người.
西 都 懷 古
誰 是 干 城 與 好 仇
不 知 土 國 為 胡 謀
苔 斑 石 壁 怨 猶 築
樹 老 花 街 恨 未 休
舊 跡 厭 看 秦 麗 物
新 亭 浪 說 晉 清 流
惟 餘 民 聚 初 無 改
萬 古 山 河 萬 古 秋
Phiên âm:
TÂY ĐÔ HOÀI CỔ
Thùy thị can thành dữ hảo cừu,
Bất tri thổ quốc vị Hồ mưu.
Đài ban thạch bích oán do trúc,
Thụ lão hoa nhai hận vị hưu.
Cựu tích yếm khan Tần lệ vật,
Tân Đình lãng thuyết Tấn thanh lưu.
Duy dư dân tụ sơ vô cải,
Vạn cổ sơn hà vạn cổ thâu (thu).
Dịch nghĩa:
TÂY ĐÔ (17 ) HOÀI CỔ
Ai là người cản ngoài giữ trong, ai là bạn tốt bảo vệ cho nhau(18 )?
Không biết đất nước, lại đi mưu việc cho họ Hồ(19 ).
Vách đá rêu mọc lan, vẫn còn đắp oán hận,
Phố hoa cây già cỗi, chưa hả hết căm hờn.
Chán không xem việc nhà Tần qua dư vết cũ(20 ),
Nói chi đến những danh sĩ đời Tấn họp ở Tân Đình(21 ).
Nơi đây chỉ còn nhân dân sum họp như xưa, không gì thay đổi(22 ),
Muôn thuở vẫn non sông ấy, muôn thuở vẫn mùa thu này.
Dịch thơ:
TÂY ĐÔ HOÀI CỔ
Tìm ai đây giữ mối riềng
Trách ai đây kẻ mưu riêng họ Hồ
Rêu xanh chưa hết hận thù
Đá trơ cây cỗi mau thưa oán hờn
Tần xưa vết cũ vẫn còn
Đâu danh sĩ tấc lòng son Tân Đình
Chúng dân ngày tháng thanh bình
Vàng thu sóng sánh mây lành ươm xa.
Phùng Văn Khai dịch
————————-
([17]) Tây đô: kinh đô phía Tây, cũng có tên là thành Tây Giai, hoặc thành An Tôn, dân gian thường gọi là Thành Nhà Hồ. Tây Đô do Hồ Quý Ly xây dựng năm 1397 ở An Tôn, nay thuộc Tây Giai, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa.
([18]) Dịch nghĩa hai từ can thành và hảo cừu, đều là những từ dùng trong Kinh Thi. Can thành là cái mộc và cái thành. Mộc để đỡ giáo mác, thành để chống giặc, đều là những thứ để chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước. Hảo cừu là người bạn tốt để bảo vệ cho nhau.
([19]) Họ Hồ: trước hết là chỉ Hồ Quý Ly. Câu này có ý chê trách những kẻ đã không nhận thức rõ nguy cơ của đất nước chống giặc ngoại xâm, lại còn mưu tính phục vụ cha con họ Hồ.
([20]) Ở đây ám chỉ nhà Hồ.
([21]) Những danh sĩ đời Tấn: đây chỉ những danh sĩ thời Trần. Tân Đình: đình nước Ngô xây dựng thời Tam Quốc ở trên núi Lao Lao nên còn gọi là Lao Lao đình. Thời Đông Tấn, các danh sĩ thường du ngoạn, yến ẩm ở đây. Tân Đình ở đây dùng với nghĩa là nơi hội tụ trông nhau mà khóc vì đau lòng việc nước.
([22]) Nhân dân vẫn sum họp không gì thay đổi: dịch cụm từ “Dân tụ vô sở cải”, điển dùng trong sách Mạnh Tử.
Phùng Văn Khai dịch
—————–
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 3]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 4]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 5]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 6]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 7]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 8]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 9]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 10]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 11]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 12]
![Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 13] Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 13]](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/03/KY-THU-13-THO-696x712.jpg)

























