
Tiến sĩ Hà Thanh Vân.
Phùng Khắc Khoan (1528-1613), thường được biết đến với danh xưng Trạng Bùng, là một nhân vật lớn của lịch sử văn hóa Việt Nam trong thế kỷ XVI-XVII. Ông không chỉ là một danh thần từng tham dự chính sự, một nhà ngoại giao có vai trò quan trọng trong bang giao khu vực, mà còn là một thi nhân có ý thức sâu sắc về văn chương và trách nhiệm hành đạo. Nằm trong chuỗi hoạt động học thuật văn chương để hướng đến kỷ niệm 500 năm ngày sinh Phùng Khắc Khoan, đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội đã tuyển chọn và dịch lại những bài thơ tiêu biểu của vị danh nhân văn hóa lịch sử này.

Phùng Văn Khai ý thức rằng đã có nhiều bậc học giả, dịch giả lớn từng dịch và nghiên cứu thơ Phùng Khắc Khoan như Trần Văn Giáp, Sơn Nam, Trần Lê Văn, Bùi Duy Tân, Trần Quốc Vượng, Trần Lê Sáng, Đinh Công Vỹ, Đặng Văn Sinh, Hồng Diệu, Vũ Bình Lục… Chính vì đứng sau một truyền thống dịch thuật hàn lâm đáng kính như vậy, lựa chọn của Phùng Văn Khai càng có một ý nghĩa riêng là chuyển dịch thơ Phùng Khắc Khoan sang thể lục bát. Đây là một lựa chọn vừa táo bạo vừa thân thuộc. Táo bạo bởi vì thơ chữ Hán thời kỳ trung đại vốn hàm súc, nhiều điển cố, dày tầng nghĩa, có cấu trúc nghiêm cẩn và mang dấu ấn tư tưởng Nho học sâu sắc. Thân thuộc bởi vì lục bát là thể thơ truyền thống của dân tộc, là dòng chảy ngôn ngữ mềm mại có khả năng chuyển tải cả triết lý, tình cảm, đạo nghĩa, phong cảnh và tâm sự đời người. Và Phùng Văn Khai cũng không phải là người đầu tiên chuyển dịch thơ chữ Hán thành thơ lục bát. Việc dịch này đã có những tiền lệ mở đường. Trước đây nhà thơ Tản Đà đã rất thành công khi dịch nhiều bài thơ Đường luật ra thể lục bát.
Bản dịch của Phùng Văn Khai có thể được nhìn nhận như một nỗ lực quốc âm hóa di sản Hán văn của dân tộc. Quốc âm hóa ở đây không phải là làm mất đi tính bác học của nguyên tác, mà là tìm cho nguyên tác một chân dung mới trong tiếng Việt, gần gũi hơn, giản dị hơn. Thể thơ lục bát giúp những ý niệm như “trung dung”, “kinh luân”, “thanh vân”, “hiển dương”, “đắc thời hành đạo”, “tế thế an dân”… trở nên gần hơn với người đọc hôm nay. Có lúc bản dịch nghiêng về phóng khoáng, có lúc thêm độ vang dân gian, có lúc làm đậm sắc thái cảm xúc so với nguyên tác. Chính điều ấy tạo nên phong cách riêng của bản dịch, không chỉ là dịch nghĩa thành thơ, mà còn là một cuộc đối thoại thơ với thơ.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.
Trong bối cảnh kỷ niệm 500 năm ngày sinh Phùng Khắc Khoan đang đến gần, những bản dịch thơ của Phùng Văn Khai có ý nghĩa như một nhịp cầu. Cầu nối giữa chữ Hán và tiếng Việt. Cầu nối giữa thơ luật và lục bát. Cầu nối giữa bác học và đại chúng. Cầu nối giữa thế kỷ XVI-XVII với thế kỷ XXI. Và sâu xa hơn, là cầu nối giữa một bậc tiền nhân từng “lấy nước làm nhà” với những người đọc hôm nay vẫn còn đi tìm trong văn chương những giá trị tinh thần đẹp đẽ. Những bản dịch đã góp phần đưa thơ Phùng Khắc Khoan đến gần hơn với những độc giả đại chúng bằng một hình thức thơ dân tộc quen thuộc, đồng thời khơi lại một di sản văn chương lớn, giúp người đọc hôm nay nhận ra Phùng Khắc Khoan không chỉ là một nhân vật lịch sử đóng khung trong sách giáo khoa, mà còn là một thi nhân có đời sống nội tâm phong phú và cách hành xử đáng nêu gương sáng.
H.T.V
Tiến sĩ Hà Thanh Vân.
THƠ DỊCH TUYỂN CHỌN
LÊN NÚI PHẬT TÍCH
Ngàn trùng chân đặt nhẹ
Thân vi vút mây trời
Ngoảnh lại đều bé nhỏ
Chỉ tầng tầng nước trôi
Bỗng đâu đứng trước núi này
Xem gió thổi ngắm mây bay an nhàn
Bóng tùng chim đón ríu ran
Hoa tiên phơi sắc nắng vàng hân hoan
Chừng như không phải trần gian?
Sao trời tự hái tấc gang mỗi người
Bệ đá phủ rêu ngồi chơi
Thơ đề ngọn bút chuyển dời núi sông.

GỬI BẠN PHƯƠNG XA
Ta xa bạn đã bao ngày
Tìm đâu bóng nhạn chân mây mịt mùng
Bẻ cành mai gửi nhớ nhung
Đêm tàn mộng dứt tình chung thẫn thờ
Giang san vạn dặm sao mờ
Tấc lòng nguyên vẹn nắng mưa can trường
Xưa nay tài lớn tất dùng
Trượng phu hội ngộ anh hùng thiên thu.

NỖI LÒNG ĐÊM THU
BÀI MỘT
Đêm thu đếm giọt đồng hồ
Ngổn ngang ngọn sóng cơ đồ mênh mang
Trăng vàng hiên chếch trôi ngang
Gió như tên sắc thổi màn lạnh không
Nỗi đời ôm chứa mênh mông
Câu thần ngâm mãi thinh không trăng tà
Nam nhi lấy nước làm nhà
Há đâu chịu cảnh quần thoa trói mình.

SÁNG SỚM ĐI Ở CHÂN RỪNG
Mặt trời nhô sóng biển xanh
Trĩ đồng vui hót ta nhanh bước nào
Hoa cười môi nụ xôn xao
Lau tăm tắp núi trời cao dần dần
Cỏ cây quấn quýt reo mừng
Mây trời sà xuống theo cùng ca ngâm
Đường trường “dương hiển danh thân”
Vượt trên ngàn núi gian truân sá gì.
QUA RỪNG LIM
Rừng lim trăm cột chống trời
Tấm lòng sắt đá sương phơi lạnh lùng
Vua cần rường cột cương trung
Há nào ở mãi mịt mùng rừng sâu.

NGUYÊN ĐÁN
Mùa đông lạnh giá vừa qua
Bình tâm xem kỹ đạo gia thuần hành
Cỏ cây thơm thảo tươi xanh
Non sông gấm vóc thanh bình xiết bao
Hoa quỳ theo ánh dương cao
Ta mừng nâng chén rượu đào với xuân
Xuân sang trời đất xoay vần
Vận thời tất đến phúc phần Phùng gia.

QUA MIỀN LAM SƠN
Cỏ cây gai góc mịt mùng
Dường như xuân sắp hé mừng qua đây
Phượng chầu, lân múa mắt cay
Rồng cuộn, hổ phục càng say tâm tình
Càng trông như bóng in hình
Lòng dân nghĩa nước đinh ninh vẹn toàn
Vua hiền sáng nghiệp yên an
Lòng dân quy thuận đá vàng thiên thu.
THƯƠNG ĐỜI LOẠN
BÀI MỘT
Gươm đao khói lửa triền miên
Quần hùng ai kẻ chong đèn nghĩ suy
Gió mưa tăm tối vần vi
Non sông tan nát, người đi phương trời
Xuất xử ở tại ta thôi
Hơn thua cứ mặc bọn người võ phu
Gạt mây đen phủi trắng mờ
Ung dung yên định cõi bờ bốn phương.
BÀI HAI
Đạo không lìa bỏ như người
Diệt sinh, sinh diệt theo thời nghĩ chi
Chợ quê hay chốn triều nghi
Đổi thay thay đổi khen chê lẽ thường
Gian hùng không miếng đất chôn
Bia người trung hiếu hương thôn phụng thờ
Đông qua xuân biếc non tơ
Thánh nhân hiền tướng lời thơ an bình.

KHUYÊN NGƯỜI ĐI HỌC
Trời đâu tiếc kẻ siêng năng
Cổ nhân sách quý tháng năm truyền thừa
Loạn thời tài học cũng thưa
Thánh hiền răn dạy từ xưa đến giờ
Khơi thông suối chảy xanh bờ
Tâm yên đạo ắt từng giờ hanh thông
Lòng yên tất hiện thong dong
Cầu chi bổng lộc thêm lòng rối ren.
BÀI TỪ THƯỞNG XUÂN
Trời cao kéo khí dương về
Hơi xuân phấp phới bốn bề nắng xuân
Lại phen đổi mới xa gần
Mở mang thái vận tưng bừng yến anh
Hoa kia thắm thiết lá xanh
Liễu thanh, đào đỏ đầu cành non tơ
Oanh vàng ríu rít câu thơ
Bướm bay chấp chới xa mờ ven sông
Con đò phơi bến nước trong
Mây trời lướt nhẹ tầng không cao vời
Tiết xuân bày cuộc vui chơi
Này hoa này liễu một đôi áo hồng
Rượu nồng câu vịnh ca ngâm
Xiêm y tha thướt xem chừng càng say
Cận thần dâng yến trên tay
Sân rồng tiến sĩ cầu mây đôi đường
Tiệc vui truyền khắp muôn phương
Thánh quân hiếm gặp cột rường phúc ân.

TÁM CẢNH Ở NHÀ HỌC
BÀI MỘT
LÀM NHÀ HỌC NƠI CẢNH ĐẸP
Cõi riêng bụi bặm để ngoài
Nhà thanh, đất đẹp trần ai khó tìm
Non soi bóng nước nổi chìm
Mây tan trăng sớm cánh chim khuất ngàn
Tâm an, chí vững, thân nhàn
Minh, thành, động, biến như làn gió xuân
Mai kia thiên hạ định phần
Làm thân chính trực, chuyên cần hôm mai.
BÀI BỐN
TRĂNG SÁNG CHIẾU XUỐNG SÂN
Dịu êm cửa hé gió lùa
Tầng không trăng xuống cũng vừa đầy sân
Mai in bóng nhỏ phân vân
Trúc treo chênh chếch trăng ngân xạc xào
Trời càng cao đạo càng cao
Thoắt từ mặt đất vút vào tầng không
Ai hay cốt đạo vô cùng
Nhà thanh thanh ánh trăng mừng thanh thanh.
TỰ THUẬT VIỆC TRONG NĂM
Ngọc mài năm tháng mà nên
Xuân sang tráng kiện tuổi tên với đời
Hổ mình đạo hãy còn vơi
Dương danh cầu học như người hiền xưa
Ở nhà ngày tháng thoi đưa
Non sông gấm vóc gió lùa trăng ngân
Ngày sang thời vận đầy sân
Vua hiền, tôi sáng chúng dân thanh bình.
ĐÊM BA MƯƠI TẾT Ở DOANH TRẠI
Cổ nhân “trừ tịch” gọi tên
Quân doanh làm lễ trong đêm sáng lòa
Viên môn nghiêm trận sao sa
Sáng trưng “đình liệu” gần xa bập bùng
Ân uy nghiêm ngắn luật quân
Đồng cam sĩ tốt trăm phần vui thay
Vận trời luân chuyển nước mây
Quốc gia hưng thịnh đón ngày xuân sang.
TỰ MỪNG SINH CON TRAI
Sáu mươi tóc bạc râu dài
Bỗng sinh quý tử phúc đài trời ban
Châu từ Hợp Phố hân hoan
Nam Điền cốt ngọc vẻ sang vẹn mười
Ân cao riêng tạ ông trời
Hậu sinh hiếu thuận theo lời tổ tông
Anh em dòng tộc hanh thông
Liên tài giúp nước mới không thẹn nhà.
CÂY CHUỐI
Vun trồng khoảnh đất tốt tươi
Yêu sao khóm chuối như người biếc xanh
Châu rơi lộp độp bên mành
Cửa nhà hé ngọn gió thanh đón chào
Giữ niềm nghĩa tín phong tao
Công danh tứ hải đạo cao muôn trùng
Kính trời đất hiếu tổ tông
Cháu con khang thịnh nối dòng danh gia.
SÂU DÂU
Vật thời cao thấp ngắn dài
Sâu dâu nhỏ bé mấy ai nhắc cùng
Thân em một ngấn trắng trong
Sinh nơi bùn đất mà không lấm bùn
Duỗi co theo lẽ càn khôn
Mỹ nhân tự cổ tấc lòng thiên thu
Nào đâu sinh vật vô tri
Thi nhân thiên cổ bàn chi đến mình?
P.V.K