Trong làng văn chương Việt, giới mày râu cầm bút có nhiều người làm thơ về vợ rất hay, được nhiều người nhớ. Điển hình là các nhà thơ: Trần Tú Xương với bài “Thương vợ”, Tú Sót với bài “Hôm nay mùng tám tháng ba”,Vương Trọng với bài “Hoa Hậu của nhà”. Riêng nhà thơ Nguyễn Duy có hẳn một tập thơ về vợ nhan đề Vợ ơi!
“Khi trong túi có mấy đồng ngọ nguậy/ ta chạy rông như gì nhỉ – quên đời/ lúc xơ xác bờm xơm từng sợi tóc/ đói lả mò về/ cơm đâu/vợ ơi” (Vợ ơi)
Nhà thơ Nguyễn Thị Mai phát biểu tại buổi ra mắt tập thơ “Thơ viết cho mình” của Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.
Và còn rất nhiều mày râu thi nhân nữa viết về vợ. Các bài thơ của họ, theo phụ nữ chúng tôi cảm nhận một cách tỉnh táo, sáng suốt thì thấy thơ ca ngợi thì ít mà đa phần là nịnh. Nhưng nịnh vợ là tốt chứ sao? Nịnh vợ là khôn ngoan, là thông thái. Mất gì đâu mà được rất nhiều. Những người đàn ông khác có thể tặng quà bằng vật chất để nịnh vợ, nhưng các nhà thơ chỉ cần dùng chữ nghĩa thôi mà những người vợ đều rưng rưng xúc động, có khi biết tỏng là nịnh nhưng vẫn chảy nước mắt vì thích thú vô cùng.
Nhà thơ Phùng Văn Khai cũng là một trong số nam tử có thơ về vợ và cũng có những câu thơ tếu táo với vợ rất hài hước, cốt cho cửa nhà vui vẻ. Ví dụ:
Đi công tác cùng ông/ Về vợ hỏi: Anh ơi có mệt?/ tôi tai lãng đãng nghe nhầm/ Khiếp sợ khoác ba lô đi tiếp/ Vợ chạy theo khóa cổng hai tầng…(Kính thưa ông Nguyễn Đình Tú).
Hoặc: Vợ các trò cũng chẳng khấm khá hơn/ Khắp nơi nơi mong chồng về thuế khóa…(Xin trân trọng cảm ơn).
Nhà thơ Nguyễn Thị Mai (bìa phải) tặng hoa chúc mừng buổi ra mắt tập thơ “Thơ viết cho mình” của Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.
Đáng chú ý là bài “Thơ tặng vợ” (trong tập Thơ danh nhân, chân dung văn nghệ sĩ), Phùng Văn Khai viết rất tếu táo mà ngẫm ra nịnh có nghề, khôn ngoan bậc nhất:
Nói thật là trong bài thơ trên, nhiều câu hơi quá đáng. Nhưng cái kết tự nhận là “vụng dại mấy lời” thì quả là thông minh, khôn khéo. Ngoài ra tính ẩn dụ sâu sắc, ngôn từ hóm hỉnh một cách duyên dáng thì… quá đáng thế cũng được. Người vơ nào cũng chấp nhận rất vui vẻ và có khi còn thấy sướng âm ỉ vì cái sự tếu táo đó.
Nhưng hôm nay, khi tập “Thơ viết cho mình” ra đời trong đó có bài “Thơ về người vợ” thì tính tếu táo, hài hước đã nhường chỗ cho sự nghiêm túc, quan trọng, không thể đùa cợt trong cuộc đời làm chồng.
Nhà thơ Nguyễn Thị Mai (giữa) và vợ chồng Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.
Ấy là trước khi cất lời thơ, tác giả có mấy câu phi lộ. Những câu đó nặng triết lý chung về cánh đàn ông, để rồi dẫn dắt ta vào bài thơ, để ta đọc lên mà vỡ òa cảm xúc: Thì ra đây như 1 Bản kiểm điểm cuộc đời làm chồng và còn thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của tác giả với vợ.
Bài thơ gồm 15 khổ thơ, mỗi khổ 4 câu, vị chi là 60 câu thơ. Nếu tính chữ có lẽ dài ngang với bản kiểm điểm bằng văn xuôi. Và đây có lẽ cũng là bài thơ về vợ dài nhất, chiếm kỷ lục trong làng thơ Việt.
Quả đúng như vậy. Bài thơ dài bởi ý tứ cứ kéo nhau tuôn ra, chữ nghĩa cứ tràn ra và tâm tưởng cứ ngộ dần ngộ dần những điều tưởng như mình vừa khám phá nhưng thiên hạ biết hết từ lâu rồi.
Đấy là tác giả ngộ ra những điều tốt đẹp, ấm áp xung quanh, thân thiết gần gũi mình từ lâu trong đó có hạnh phúc gia đình và người vợ thương yêu mình một đời. Và tác giả vội vàng viết ngay, viết cho hết ý, viết như sợ ngày mai qua đi, mình không kịp nói nên lời…
Bài thơ dần hiện lên chân dung người vợ với những phẩm chất rất truyền thống của phụ nữ Việt Nam mà người chồng giờ mới phát hiện ra: Trước hết phát hiện người vợ ấy rất an lòng vì biết số phận mình và duyên số tự cao xanh sắp đăt. Với mình, người vợ ấy chấp nhận tất cả mọi cực nhọc. Nhưng với chồng, nhiều khi chị còn thấy tự hào:
Nhưng để có được niềm tự hào về người chồng cứng cựa, tài hoa ấy người vợ phải chịu đựng nhiều thói tật của chồng: Văn chương bia rượu ngút mây trời/ Tài hoa dâng hết cho thiên hạ/ Tàn canh sực nhớ đến niêu nồi”. Âm thầm chịu đựng, nhẫn nại chịu đựng, kiên trì chịu đựng… nhưng người chồng không hề biết, vẫn chứng nào tật ấy. Vẫn ngút trời bia rượu, vẫn ra khỏi cửa là miên man vui thú, không cần biết đến vợ con ở nhà ra sao, chỉ “Đến khi giông bão ắt trở về” trong cơn say lướt khướt nhưng “Biển yên rồi lại bước chân đi”. Tất cả những người phụ nữ làm vợ (đang ngồi đây) nếu có người chồng như thế chắc cũng phát điên nhiều lần vì không thể chịu nổi. Nhưng hiền thê của Nhà thơ Phùng Văn Khai thì không vậy. Chị tha thứ và không cố chấp. Đó chính là phẩm chất nhân hậu vị tha của người phụ nữ Việt truyền thống.
Người đàn ông ham chơi, thích đủ thứ ngoài đời chỉ quên mỗi gia đình mà vẫn được vợ chăm lo cơm cháo hàng ngày, quả thật số may mắn. Nhưng may mắn hơn, người đàn ông ấy đã nhận ra được giá trị của người vợ sau bao ngày “hăm hở với chân trời rộng”, mải mốt với cái viển vông để rồi cuối cùng tự thú: Sao ta mãi kiếp con tàu ấy/ Mê mải chân trời mặc sân ga.
Những câu thơ viết về vợ ở đây không hề tếu táo, cũng không mang tính đùa vui như những bài thơ trước đây. Ta càng hiểu vì sao Phùng Văn Khai nói ở lời phi lộ: “người sát sạt nhất, cũng chịu nhiều cay đắng thiệt thòi nhất là người vợ, lại luôn tha thứ và bao dung, thậm chí đã quen với những thói tật của chồng”.
Vợ chồng Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai chụp ảnh lưu niệm cùng Nhà thơ Nguyễn Thị Mai tại buổi ra mắt sách.
Tôi cho rằng người phụ nữ nào được chồng hiểu cho như vậy thì mát lòng mát dạ lắm. Nhưng trong bài thơ này, hơn thế. Người chồng Phùng Văn Khai còn tự thú về mình như những lời kiểm điểm nghiêm túc trước vợ:
Anh nhận ra, nhìn thấy điều gì?
Đó là bản thân nhiều thói tật “Văn chương bia rượu ngút mây trời”. Văn chương và rượu- hai thứ đặt ngang bằng với nhau vì văn chương mà đam mê quá đà cũng nguy hại đến gia đình như rượu bia vậy. Anh cũng nhận ra mình:
Và anh đã ngộ ra mình như loài mây trắng tự do, huyễn hoặc mình.
Thôi thế cũng là phúc đức. Bởi nếu không nhận ra mình là ai trước vợ, nếu cứ mãi cái điều viển vông tưởng là đại sự mà quên gánh nặng cơm áo gia đình đặt trên vai người vợ thì quả là “một số không” không cứu vãn nổi.
Bài thơ không có lời người vợ, chỉ riêng tác giả độc thoại với mình nhưng người đọc hình dung ra tất cả. Vừa có tình trạng chung của nhiều gia đình, vừa có hoàn cảnh riêng của tác giả. Bố cục và lý lẽ như bản kiểm điểm rất nghiêm túc. Chỉ khác là lời thơ chân thành như lời xưng tội khiến Chúa cũng phải rủ lòng thương cảm. Và tha thiết đến độ người vợ nào đọc cũng động lòng trắc ẩn, tha thứ tất cả chứ không riêng gì hiền thê của nam tử Phùng Văn Khai.
Phải chăng cuộc đời mỗi con người, chỉ khi nào thua cay, thất bại, ốm đau, vấp ngã hoặc gặp điều nguy nan thì mới chịu ngộ ra chân lý.
Thay mặt những người vợ trên thế gian này, xin chúc mừng và cảm ơn Phùng Văn Khai đã nói hộ nhiều điều rất sâu sắc cho mỗi gia đình chúng tôi.
Hà Nội, tháng 5-2026





















