Khúc sông Hồng
Mặt sông Hồng rạng như hoa
Mỉm cười trăm tuổi mẹ ta về trời
Mẹ về trời câu hát vẫn ru ta
Thì thầm cúi hỏi sông thao thiết
Âm âm lời đá núi mây bay
U u sừng trâu cọ ngày vỡ đất
Cá tôm rì rầm lau sậy hồng hoang
Tre trúc mang mang bia đá bảng đồng
Ứa máu tổ tiên mạch sông thắm thiết
Sông ơi điều ta chưa biết
Dài rộng như sông như biển vô cùng
Phơ phất lau khuya in bóng trăng suông
Em hẹn lời sông chín năm thắt ruột
Những đèo mây cọp gầm võ vàng giấc mơ hoa lạnh buốt
Ta như suối theo sông về em vụng trộm âm thầm
Sông òa vỡ năm cửa ô người về như thác
Bờ vai em nghiêng sóng sánh nước sông lên
Vết đạn bắn cổng thành xưa đôi chim cặp rác
Mái vòm khuya sao chi chít đêm đêm
Không phải bốn nghìn năm mà vạn năm,còn sau nữa
Máu tổ tiên ta, máu ta nuôi sông đỏ
Hồng hạc bay định phận giữa trời
Nguồn lệ tiếng cười xanh rêu đền miếu
Ta phơ đầu bạc trầm mặc sông trôi
Nhúm nhau ta hòa sắc phù sa đỏ
Vạt lau chiều lững thững sông đi
Những ngôi nhà đang cao những cây cầu đang lớn
Vẫn thì thầm in sắc sông khuya.
Lau sông Hồng
Tôi sợ mình không đến được trăm năm
Kính cẩn vái lau sông Hồng nghìn tuổi
Trẻ như cây Hà Nội
Như hoa văn trên bia đá bảng đồng
Kính cẩn dọn mình chiêm bái lau sông
Ngày chim Lạc vút bay từ cỏ hoa thơm thảo
Ngày Bà Trưng vung gươm giông bão
Những thái thú Bắc triều run rẩy dưới chân voi
Vẫn là lau sông Hồng đấy thôi
Phần phật bay mừng Vạn Xuân – Trấn Quốc
Đinh – Lý – Trần – Lê… nối nền Độc lập
Lau sông Hồng xanh mát suốt nghìn năm
Thân gục trong đêm buổi mất Cổ Loa thành
Vạn mũi tên lao vang tiếng hô sát Thát
Sạm chiến bào Tây Sơn đốt cháy quân cướp nước
Trắng khăn tang Hoàng Diệu tử chiến thành
Lửa cháy năm cửa ô rừng rực đêm đông
Những chàng trai vượt sông lau im nhỏ máu
Những mắt lá giương soi nòng súng trận
Chuông thất thanh lỗ chỗ tiếng bom rền
Trăng sáng đêm đêm
Lau lặng lẽ chờ người chín năm bạc tóc
Đã òa nước dâng sao vàng bay phần phật
Bóng cha già in bóng lau sông
Mặt người hồng như mặt sen hồng
Nam – Bắc liền cành
Lau từng bông thơm tơ tóc
Những mẹ già móm mém bến sông
Tôi sợ mình không đến được trăm năm
Cha mẹ buổi trời xanh mây trôi bời trắng
Một sông Hồng một tôi lau sông thơm thắm
Tiếng gà khuya ràng rạng ánh ngày.
Sông Lăng
Chắt ra tự đất tự trời
sông Lăng đổ vào sông Mẹ
gạt bao dâu bể
ngô khoai mướt mát đôi bờ
Đồng đất ướt rạ rơm khô
bát cơm tấm đỏ ngày giáp hạt
sông quặn mình chở che khuất khúc
sông thức
đã bao mùa qua đi
bao mùa sẽ tới
đời sông giản dị vô cùng
như tổ tiên ta mấy nghìn đời trước
như ông bà cha mẹ của ta
giấy rách còn giữ lấy lề
bao giờ ngã xuống thì về với sông
Có tự bao giờ sông Lăng?
trẻ con hỏi người già im lặng
người già hỏi người già hơn im lặng
nhẩm tính tuổi mình dè dặt tuổi sông
Có mây đã có sông
có trời đã có sông
sông bồi lên đất
đất nghìn năm trai trẻ
ai nỡ bảo sông già
xào xạc bờ tre
ừ nhỉ
có tre đã có sông rồi
tre nối đời đánh giặc
sông nhằm ra biển
sông Lăng theo cùng sông Mẹ
từ xưa dò đến ngọn nguồn
Chẳng bao giờ sông tính thiệt hơn
nhận vào lòng mình biết bao rơm rác
đã ác một giờ cũng ác
hiền hòa chảy một đời sông
Chảy về phương Đông
nơi mặt trời mọc
nơi cây lúa mọc ra hạt gạo
củ khoai củ sắn no tròn
nong tằm vàng xuộm sông Lăng
trẻ con bơi sang bờ dâu tùm tũm
cá mương rỉa giận lưng trật lựt sựt
lô nhô vạt áo gái làng đêm trăng
chưa ngần ấy đã thản nhiên sông Lăng
Thản nhiên sông Lăng lừng lững
mùa đông gầy guộc quặn mình hôm mai
mà vâm váp tình xứ sở
ta đi mấy chục năm dài
bao đồ đạc bỗng thành im lặng
Im lặng trước sông
im lặng ngôi đền tuổi thơ vụng dại
se mình chiếc lá vàng rơi
thì thầm sông chảy bên trời
đâu đây còn nghe tùm tũm
trẻ con bơi lặn
gái làng khỏa trăng
rô, mương lựt sựt
cầm bằng sông Lăng
Đêm nay chạnh một đêm trăng
một mình ta một sông Lăng ngọn nguồn.
Bạch Đằng Giang
“Đến nay sông nước tuy chảy hoài
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi”
(Bạch Đằng Giang phú – Trương Hán Siêu)
Đất xanh cây
Biển, mây, trời xanh mãi
Muôn trùng cánh hải âu xanh
Bạch Đằng giang
Vi vút mái chèo khua nước bạc
Trăng khuya lồng lộng sắc thu xanh
“Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí
Lục Đầu vô thủy bất thu thanh”
Đằng Giang chiến cổ
Cốt khô mặn biển muôn trùng
Vai áo em xanh mười chín tuổi
Bạch Đằng Giang xanh
Cỏ mềm chân em xanh mãi mãi
Thì thầm kết đóa hoa xanh…
—————-
[1]Dịch nghĩa: Vạn Kiếp có ngọn núi nào thì đều vương hơi kiếm/ Lục Đầu không con nước nào không vương tiếng gió thu.Đây là cặp câu đối của danh nho Vũ Phạm Hàm đề ở cổng Đền Kiếp Bạc, xã Vạn Kiếp (nay là xã Hưng Đạo), huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Đền được xây dựng từ năm 1300 ngay sau khi Trần Hưng Đạo mất.






















