Việt Nam đang xây dựng đề án mở rộng, thành lập mới các khu bảo tồn biển, phục hồi các hệ sinh thái biển nhằm đạt mục tiêu 6% trên tổng diện tích vùng biển Việt Nam đến năm 2030.

Ngày 24-3, tại TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, Tổng cục Thủy sản phối hợp Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế (IUCN) tại Việt Nam, Hội Nghề cá Việt Nam (VINAFIS), Tổ chức Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam (WWF – Việt Nam) và Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Xanh (GreenHub) tổ chức hội thảo “Quản lý hiệu quả các khu bảo tồn biển (KBTB) nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh và bền vững ở Việt Nam”.

Thành lập thêm 14 khu bảo tồn biển

Nhiều vấn đề về KBTB được đưa ra tại hội thảo, trong đó có dự thảo Đề án mở rộng, thành lập mới các KBTB, phục hồi các hệ sinh thái biển nhằm đạt mục tiêu 3% diện tích vùng biển Việt Nam đến năm 2025 và 6% đến năm 2030 (gọi tắt Đề án KBTB).

Theo đề án này, đến năm 2030, Việt Nam sẽ có 27 KBTB với tổng diện tích vùng biển được khoanh vùng bảo tồn khoảng 442.235 ha, chiếm khoảng 0,44% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia. Trong đó, 11 KBTB cấp quốc gia, gồm: 5 KBTB đã thành lập là Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Núi Chúa (Ninh Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu), Nam Yết và vịnh Nha Trang (Khánh Hòa); thành lập mới 6 KBTB là vịnh Hạ Long, Bái Tử Long (Quảng Ninh), Cát Bà – Long Châu (Hải Phòng), Gò Đồi Ngầm (Quảng Bình), Thuyền Chài, Song Tử (Khánh Hòa). KBTB cấp tỉnh có 16 khu, trong đó thành lập mới 8 KBTB là Cà Mau, Hòn Ngư – Đảo Mắt (Nghệ An), Hải Vân – Sơn Chà (Thừa Thiên – Huế), Sơn Trà (Đà Nẵng), Quy Nhơn (Bình Định), Vũng Rô (Phú Yên), Hải Tặc, Nam Du – Hòn Sơn (Kiên Giang).

Đề án cũng đưa ra mục tiêu quản lý hiệu quả 59 khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản và 63 khu vực cấm khai thác thủy sản có thời hạn khoảng 2,5% diện tích; thành lập và đưa vào hoạt động các khu vực áp dụng biện pháp bảo tồn hiệu quả đạt khoảng 0,5% diện tích; quản lý hiệu quả các khu bảo tồn đất ngập nước ven biển để bảo đảm tổng diện tích các khu bảo tồn đất ngập nước ven biển đạt khoảng 1,5%; mở rộng diện tích vùng biển phục hồi các hệ sinh thái biển đạt khoảng 1% diện tích các vùng biển Việt Nam. Tổng diện tích chiếm 6% diện tích biển Việt Nam.

Ông Lê Trần Nguyên Hùng, Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Bảo tồn và Phát triển nguồn lợi thủy sản Việt Nam, cho rằng các KBTB đang đối diện với tình hình biến đổi khí hậu, nhiệt độ nước biển tăng, axít hóa đại dương, lũ lụt, bão tố, gia tăng các loài địch hại… làm suy giảm hệ sinh thái, môi trường vùng biển. Bên cạnh đó, việc ô nhiễm môi trường từ khai thác hải sản, nuôi trồng thủy sản, sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp… gây áp lực lớn đối với các KBTB. Ngoài ra, các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội, nhất là hoạt động cảng biển, rác thải nhựa, phát triển du lịch nếu không được kiểm soát tốt sẽ tác động, ảnh hưởng đến môi trường, hệ sinh thái và nguồn lợi thủy sản.

Khu Bao ton bien vinh Nha Trang dan duoc phuc hoi min - Giữ các khu bảo tồn để phát triển kinh tế biểnKhu Bảo tồn biển vịnh Nha Trang dần được phục hồi sau thời gian bị suy thoái nghiêm trọng.

Kinh tế biển xanh, bền vững

Tại hội thảo, đại diện Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đánh giá kinh tế biển xanh hiện đã được hầu hết các quốc gia công nhận là giải pháp phát triển bền vững biển và dần đưa thành yêu cầu bắt buộc trong chiến lược, chính sách phát triển. Kinh tế biển xanh được hiểu là “sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên biển, đại dương nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, cải thiện sinh kế, đồng thời bảo tồn sức khỏe của các hệ sinh thái biển, đại dương”.

Các hệ sinh thái biển, ven biển bao gồm hệ thống KBTB được thành lập đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì đa dạng sinh học, cung cấp nguồn lợi hải sản, điều hòa thời tiết khí hậu và là cơ sở hạ tầng tự nhiên chống đỡ thiên tai và biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, tiềm năng bảo tồn thiên nhiên biển rất to lớn và cung cấp các dịch vụ quan trọng để phát triển các ngành, nghề kinh tế biển theo hướng bền vững như nghề cá, nuôi trồng, du lịch biển…

Trung ương hiện đang triển khai 9 giải pháp đồng bộ nhằm quản lý hiệu quả các KBTB mà Đề án KBTB nói trên và “Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản thời kỳ 2012-2030, tầm nhìn đến năm 2050” là 2 giải pháp về cơ chế chính sách sẽ được trình bộ, ngành và Chính phủ trong năm 2023. Bên cạnh đó, ở cấp địa phương, hiện nay các tỉnh, thành có KBTB đa số đã xây dựng các quy chế quản lý, kế hoạch tổng thể và quy định của pháp luật có liên quan để bảo vệ KBTB.

PGS-TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nghề cá Việt Nam, cho rằng việc mở rộng diện tích các KBTB trở thành nội dung quan trọng của kinh tế biển xanh, được xem là một trong những phương thức hữu hiệu, ít tốn kém để duy trì, quản lý nguồn lợi thủy sản, bảo vệ đa dạng sinh học biển, bảo đảm nhu cầu sinh kế của ngư dân. Quản lý hiệu quả mạng lưới các KBTB là một phần không thể tách rời khi đầu tư vào kinh tế biển xanh. Thời gian tới, Việt Nam cần tiến hành các hoạt động kiểm kê, đánh giá các “nguồn vốn tự nhiên biển, đảo” và các hoạt động quy hoạch không gian biển dựa vào hệ sinh thái để tối ưu hóa lợi ích, giảm thiểu xung đột trong khai thác, sử dụng biển.

Phòng chống rác thải nhựa

Vụ Khoa học Công nghệ và Hợp tác quốc tế (Tổng cục Thủy sản) cho biết trong bối cảnh nhận thức về kinh tế biển xanh còn chưa đầy đủ, môi trường biển bị thay đổi theo chiều hướng xấu hơn. Tình trạng chất thải, đặc biệt là rác thải nhựa, từ các lưu vực sông và vùng ven biển đổ ra biển làm gia tăng mức độ ô nhiễm, suy giảm đa dạng sinh học biển và nguồn lợi thủy hải sản. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có 5 nhiệm vụ giai đoạn 2020-2030 với mục tiêu đến năm 2025 sẽ có 80% các KBTB không còn rác thải nhựa và đến năm 2030, 100% các KBTB không còn rác thải nhựa.

Bài và ảnh: KỲ NAM

 

 

     


     

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây