Hý họa đời mình và bạn văn chương – Tác giả: Nhà văn Nguyễn Minh Đức

Hý họa đời mình và bạn văn chương - Tác giả: Nhà thơ Nguyễn Minh Đức

Nhà văn Nguyễn Minh Đức.

CHUYỆN LÀNG VĂN NGHỆ

Hý họa đời mình và bạn văn chương

Tôi và Phùng Văn Khai không sinh cùng tháng cùng năm, cũng chẳng phải cùng quê hương bản quán, ấy vậy mà tình bạn thấm thoắt đã ba mươi năm. Có lẽ duyên kỳ ngộ đưa chúng tôi đến với nhau bởi do đều mang trên mình bộ quân phục chăng? Cả Phùng Văn Khai và tôi đều là lính.

Tôi vào lính trước Khai, khi cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam sắp kết thúc. Khi đó cơ chế tập trung quan liêu bao cấp làm trì trệ sự phát triển của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa kết hợp sự bao vây, cấm vận, chiến tranh lạnh của chủ nghĩa đế quốc làm sụp đổ hàng loạt các nước Đông Âu và cuối cùng là Liên Xô – hòn đá tảng, thành trì phe xã hội chủ nghĩa, đã tác động không nhỏ tới Việt Nam. Chúng tôi luôn có niềm tin mãnh liệt vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những thời điểm khó khăn, vươn mình đứng dậy bằng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trước hết là đổi mới tư duy, trọng tâm là đổi mới tư duy về kinh tế, đưa đất nước tiến bước vào kỷ nguyên mới với những thành tựu đáng trân trọng và tự hào. Tuổi thanh xuân bước vào quân ngũ của chúng tôi ở vào thời đoạn mà công việc đối nội và đối ngoại của đất nước đầy cam go, thử thách. Chúng tôi chỉ như hạt cát giữa thời đoạn cam go thử thách ấy, nhưng là những hạt cát đang được thực tiễn sàng lọc.

Phùng Văn Khai đi lính sau tôi vài năm. Hồi ấy, chúng tôi đi lính đều chỉ nghĩ mình đang thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng bảo vệ Tổ quốc mà bất kỳ thanh niên nào cũng phải trải qua (trừ những ông có lý do “đặc biệt” về quan hệ nhân thân, về sức khoẻ…) tìm đường xuất ngoại hoặc trốn nghĩa vụ quân sự. Trai làng tôi chẳng mấy ai trốn được và làng Khai cũng thế. Tôi được huấn luyện khẩu đội trưởng pháo cao xạ tại Đoàn 283 Quân khu 4 rồi đăng ký đi học Trường Sĩ quan Chính trị Bắc Ninh. Khai nhập ngũ vào Quân đoàn 2 sau đó học Trường Lái xe ô tô 255 đóng quân tại làng Kim Đái (thị xã Sơn Tây cũ). Trường 300 (Học viện Phòng không – Không quân) và Trường Lái xe 255 tuy gần nhau nhưng chưa quen được nhau, mà phải bắt đầu quên từ những trang viết tươi mới mà đằm sâu nặng niềm suy tư trăn trở và những khuôn hình của Trung tâm truyền hình Quân đội. Như vậy, bởi những trang viết và mê đọc văn nhau thì tình bạn đến lúc nào chẳng hay.

Thơ danh nhân-Phùng Văn KhaiBìa tập thơ mới của nhà văn Phùng Văn Khai.

Cuộc đời người lính chúng tôi mê đắm việc đi, việc nghe, việc đọc và việc viết. Tôi chẳng có tài như Khai. Khai viết đủ mọi thể loại. Kịch bản truyền hình, thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu thuyết lịch sử gần đây đã và đang là mảng dày dặn của anh… Ở thể loại nào Khai cũng có lối đi riêng, cách làm mới mẻ, nhanh chóng nhưng rất cầu kỳ, có chiều sâu, đúng quan điểm đường lối. Viết về những văn nhân trong lịch sử, viết về bạn bè văn chương đương thời, trước và sau đều chỉn chu, không khoa trương dù tếu táo gây cười. Viết dí dỏm mà nghiêm túc, viết về từng người một, đọc vào biết ngay nhân vật đang viết và tác phẩm của họ để lại. Cái kỳ tài của Khai nằm ở chỗ nhìn nhận vấn đề nhanh, đọc vị đối tượng, phản ánh nhanh, gọi tên nhanh trong các tác phẩm thơ viết về bạn bè văn chương. Như từng sống chết có nhau, gắn bó sâu sắc, như trong lòng nhau mà dựng dậy thành từng câu thơ. Trong bản thảo cuốn sách được chia làm bốn phần, có quá khứ, có hiện tại, có lịch sử văn hoá, có nhân vật là các nhà văn, nhà thơ tên tuổi, bạn bè văn chương và chính mình… Song tôi ấn tượng hơn cả là những bài viết về mẹ, cụ bà Nguyễn Thị Phương Tỏn, mẹ thân sinh ra nhà văn Phùng Văn Khai, và cô vợ nhất mực thuỷ chung của nhà văn, cô Nguyễn Thị Thu. Nhìn cụ bà, vóc dáng con người cụ thì biết sự tần tảo, một nắng hai sương từ đồng quê thơm thảo như “hương đất nâu” mà ra. Ơn trên cho cụ đến nay vẫn khoẻ mạnh, hoạt bát, minh mẫn.

Phùng Văn Khai rất chăm đọc và viết. Từ một biên tập viên, đến bây giờ trên chức danh lãnh đạo Phó Tổng biên tập một tạp chí văn nghệ hàng đầu của Quân đội, Khai vẫn thế. Nặng lòng với con chữ, đam mê với sáng tạo.

Cũng từng khật khưỡng những lần say, cũng lang thang đêm phố cổ tìm nơi uống tiếp cho thoả nỗi mê đắm văn chương và cả những chìm nổi thăng trầm đời người, từng ngồi hóng gió sông Đuống thổi, lau sông Hồng reo phả vào hương đêm, từng dám bỏ mặc vợ réo rắt vô số cuộc điện thoại, một lòng vì bạn kéo nhau vào ngủ chung phòng khách sạn dù rất gần nhà giữa đêm Hà Nội rét như cắt thịt. Nghe tâm tư khi say, nghe câu chuyện chiều say, nghe những câu thơ buột miệng khi nửa tỉnh nửa say trong gió sông Đuống thổi riết róng, lau sông Hồng phần phật bay mới thấy ông ấy tự hoạ bức chân dung đời mình, mỗi câu thơ là những mặt đối lập, có quan hệ mật thiết gắn bó bện quyện vào nhau không thể tách rời trong một con người yêu đến tận cùng, say đến tận cùng giữa cuộc đời này.

Suy cho cùng, mỗi người đều có thân phận. Con người ta sinh ra mỗi người đều có thân phận của riêng mình. Nhưng hầu như, dường như, mỗi một thân phận thường bị người ta che giấu đi phần khiếm khuyết, khuyết điểm. Còn Khai, tự bạch đời mình, tự hoạ đời mình bằng những câu thơ chân thật, mộc mạc, mà đúng, mà hay, mà đằm sâu trong suy tưởng.

“Đã từng ghét đã từng yêu/ Đã từng thẳng thắn nói điều nghịch tai/ Đã từng bữa sắn bữa khoai/ Đã từng áo mỏng đêm dài thấu xương.

Một mình ngồi khóc hoa rơi/ Say rồi lại hát với người tình thâm” (Chân dung tự hoạ).

Viết về mẹ, người sinh thành dưỡng dục, thú thật rất nhiều đứa con, dù không nhiều khả năng vẫn viết được, có người viết thật hay và xúc động. Hầu như những áng văn chương, thơ phú khi viết về mẹ đều có sự xúc động, có những người viết mà người đọc xúc động mãi không thôi. Thì đây, trường hợp Phùng Văn Khai khi viết về mẹ là một ví dụ. “Mẹ tám mươi/ tóc đen, răng khít/ tối muộn nằm/ tinh sương chốt cửa khẽ khàng/ sương mùa đông chưa tan. Chỉ vài câu này cũng đủ hoạ về một người mẹ. Nhưng chưa đủ, Khai triển tiếp ý này: “Con lấp xấp năm mươi/ khù khờ, ngộ nhận/ bị lừa tiền, tình, danh, phận…/ toàn yêu mây, cỏ, trăng, hoa, bướm, đình, chùa…/ toàn chơi với các nhà thơ”. Ở chỗ này, Khai tự nhận mình là người “khù khờ, ngộ nhận” thì tôi chưa đồng ý. Tuy vậy, trong ngữ cảnh này, khi viết về bóng đa mẹ, người mẹ đáng kính một lòng một dạ cho con, vì con thì tôi rất đồng tình. Đi suốt cuộc đời, con vẫn là con của mẹ. Dù mẹ có già đến đâu, lẫn đến đâu, mẹ mãi mãi là suối nguồn, là bóng đa che chở cho con.

“Có phải mẹ Phật, Tiên/ có phải con cóc nhái/ thơ khượt văn rỗng oang oang/ vấp sưng mặt rớm máu hòn sỏi đỏ/ cỏ mềm bầu vú tám mươi/ buông rễ đa làng. (Thơ về mẹ).

 

Còn bài Thơ tặng vợ chính là cho cô Nguyễn Thị Minh Thu, chính thất Phùng Văn Khai, người em xóm dưới, yêu từ thuở học trò, gặp nhau rồi yêu trong cái nhìn đầu tiên rồi không buông rời nhau nữa. Tình yêu của họ đẹp và bền đến vậy, nên mỗi câu thơ chất chứa biết bao tình cảm trong đó. Đọc vào cứ tưởng họ yêu nhầm nhưng không phải. Do thấu hiểu nhau rồi, đi cùng nhau hơn 30 năm cuộc đời. Sao không hiểu chân tóc kẽ tơ? Và bây giờ, không chỉ giỏi chuyên môn, làm bà nội tướng giỏi, chăm sóc con, con trai rồi con gái, rồi đến con dâu, và bây giờ là cháu nội. Một người vợ đối nội, một người vợ đối ngoại, bạn bè bằng hữu văn chương chẳng để ai mất lòng. Cứ thế mà họ yêu, cứ thế mà họ gắn bó và trân trọng. “Vợ mình khác vợ người ta/ Chân quê thuần hậu thì ra vợ mình. Câu đầu cực hay mà đúng. Vợ mình thì khác, thì không, không như, không phải… vợ người ta, như là khẳng định, đánh dấu quyền bất khả xâm phạm. Câu đầu đã khẳng định, còn câu tiếp theo là những nét vẽ, nét vẽ của thời họ tìm đến nhau còn vận đến bây giờ, vẫn là con người chân chất mộc mạc ấy nhưng đằm thắm hơn nhiều. Nói mãi, tưởng chê nhưng hoá khen vợ, nịnh vợ kiểu rất Phùng Văn Khai. Thì đây, đọc câu cuối biết ngay rồi còn gì!? “Vợ ơi vụng dại mấy lời/ Cúi xin tặng vợ mình ơi vợ mình”.

Thời gian không có nhiều, nhưng chịu khó đọc Phùng Văn Khai mới thấm thía cái đằm sâu bên trong con người anh, các chiều kích cảm nhận của mỗi người có thể khác nhau, nhưng không thể không công nhận một con người, một tâm hồn nhà văn trong trái tim chiến sĩ. Yêu và sống, và cháy hết mình, là lao động nghiêm túc và cật lực, để lại cho bạn đọc gia tài đồ sộ những chữ nghĩa, những di sản thật đáng trân trọng.

N.M.Đ

 

 

     


     

Bài trướcVideo: Nhìn lại đòn tiến công thần tốc giải phóng Đà Nẵng cách đây 50 năm
Bài tiếp theoMỹ ước tính số người chết trong động đất Myanmar có thể lên tới 10.000

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây