Nam Việt Đế trùng tu quốc điện – Truyện lịch sử Phùng Văn Khai

Vâng mệnh Nam Việt Đế Vạn Xuân, công cuộc trùng tu quốc điện diễn ra vô cùng khẩn trương. Nhân tài vật lực cả nước dồn về. Các bộ tộc, thương đoàn, tiêu cục ai ai cũng muốn góp sức mình cho nước. Đại Tổng quản Ngô Bân suốt ba năm ròng xuất tướng nhập tượng không kể ngày đêm cùng mệnh quan triều đình, hội đồng kỳ lão các châu, quận, huyện, thợ thuyền tứ xứ đem hết tài năng, trí tuệ, công sức cho công cuộc kiến thiết quốc điện cũng là tu chính bộ mặt của nước. Không kể ngày đêm, mấy chục làng nghề rèn, mộc, gốm, sắt, dệt, thêu đủ cả, cùng nhau liên thông chế tác các hạng mục, vật dụng cho quốc điện. Những tay thợ giỏi mỗi làng nghề đều muốn trổ hết tinh hoa bí thuật vào thức vật của mình. Một chiếc bình gốm đất Chu Quyến khảm đai đồng chạm khắc hai mươi bảy chú hạc vàng vờn mây trắng. Một chiếc đôn gỗ chân quỳ bát tiên khảm ba mươi sáu vòng xà cừ vỏ trai biển lấp lánh như sao. Một chiếc rèm gấm thêu hai mươi tám loài hoa quý điểm sáu cánh phượng hoàng lung linh sống động. Đến đám thợ mộc thật mới là trăm phương bí thuật, muôn nẻo thức nghề. Nào đầu đao long phụng xuyên mây thanh thoát; nào con kê bát quy chầu sơn liên hoàn bát quái công phu; nào cửa võng cửu long đoạt bích trầm hùng, nào hương án liên hoa giỡn sóng bay bổng. Thực là muôn kẻ đua tài. Đúng lúc trăm hoa khoe sắc.

Các hạng mục, đồ vật lắp đặt tới đâu, Đại Tổng quản Ngô Bân đều cho hội đồng kỳ lão cùng các vị Thừa thị ghi chép lại cẩn thận tới đó. Nhất loạt từ nguồn gốc xuất xứ, lai lịch thợ thuyền đến người cung ứng vận chuyển, tốp thợ thi công hoàn thiện thảy đều biên chứng rõ ràng nên ai nấy đều hết sức cẩn thận, các hiệp thợ đều ngầm thi thố với nhau đặng còn ghi vào sử sách sau này cho con cháu biết.

pvk tai Le gio Duc vua Phung Hung tai Duong Lam Son Tay Ha Noi min - Nam Việt Đế trùng tu quốc điện - Truyện lịch sử Phùng Văn KhaiNhà văn Phùng Văn Khai (hàng thứ 2 bìa phải) tại Lễ giỗ Đức vua Phùng Hưng tại Đường Lâm – Sơn Tây – Hà Nội.

Tất thảy các công trình lớn nhỏ từ bậc đá, cổng tam quan, hồ bán nguyệt, nhà tiền tế, các hành lang dịch quán tới ba tòa quốc điện Hạ, Trung, Thượng đều cho treo các bảng bằng đồng khắc rõ bốn chữ Vạn Xuân quốc điện rất tinh xảo, dưới đề ngày tháng rõ ràng.

Nhất loạt các thức vật đồ gỗ, đồ gốm sứ, đồ đồng bày biện bên trong đều được Đại Tổng quản Ngô Bân cùng hội đồng kỳ lão phê chuẩn từng món. Các bức tượng gỗ mít lớn nhỏ đều được sơn phủ, phết vàng, khảm ngọc đặt theo từng khu vực. Nổi bật nhất là tượng thờ mười tám vị vua Hùng cùng ba mươi sáu Lạc hầu, Lạc tướng. Số lượng tượng nhiều như vậy, song khuôn mặt, cử chỉ mỗi người mỗi vẻ, thảy đều uy nghiêm khoáng đạt, thần thái vô cùng. Mới biết rằng, trong chốn dân gian, những tay thợ giỏi Vạn Xuân ở cuộc đua tài lần này đã gửi cả tài hoa tâm hồn vào đó.

Trong dãy nhà gỗ hành doanh của Đại Tổng quản Ngô Bân sát bến sông chân núi Nghĩa Lĩnh, các vị kỳ lão bàn bạc sôi nổi quy chiếu sa bàn đắp đất, bờ gỗ xung quanh đã nhẵn bóng vì quá nhiều dấu tay vịn. Lão tộc trưởng họ Cù ở châu Cổ Pháp sôi nổi nói:

– Lão hủ giơ cả hai tay thuận tình để đặt mười tám tượng ông voi nơi sân chầu quốc điện. Mỗi sân sáu ông chia ra tả hữu hai bên càng tôn thêm vẻ uy nghiêm. Vả lại, đây là quà tặng của tân vương Di Lạo giao cho đích thân lão tộc trưởng Kadai đem tới. Đó còn là tấm lòng chân thành hướng về Vạn Xuân của các tộc chúng ở Dong Chuôm.

Tả Thừa thị Phạm Lang trầm giọng nói:

– Cù trưởng lão nói quả là có lý! Song bọn ta cũng phải tính sao cho hài hòa với từng lân quốc. Vậy còn mười tám ông ngựa gỗ sơn son thếp vàng của thái tử Lâm Ấp vừa gửi tới phải đặt vào đâu? Đồ gỗ không thể nào dầm mưa dãi nắng cùng các ông voi đá ngoài trời được?

Thấy mọi người có vẻ thoáng chút phân vân trước ý kiến của quan Tả Thừa, một vị trưởng lão họ Đinh bèn nói:

– Bẩm Tả Thừa đại nhân! Thưa các vị lão huynh! Theo ngu ý của lão hủ, ta không nên quá so kè hơn thiệt các vị trí đặt thức vật dâng tặng của lân quốc làm gì. Cứ như nền nếp dựng chùa dựng điện từ thượng cổ, voi đá tất chầu đứng ngoài sân rộng rãi thoáng đãng, còn như ngựa gỗ sắp đặt cùng với thập bát ban võ khí ở bên trong càng thêm vẻ đĩnh đạc uy nghiêm. Chả phải đức vua đã khẩu dụ, quốc điện phải là nơi hài hòa gần gũi, chớ quá chia tách thứ hạng đó sao? Còn như các thức vật mỗi châu, huyện, hương, ấp dâng lên, cũng tùy thuận theo âm dương ngũ hành, hợp với không gian thủy thổ là được.

Vị trưởng lão họ Đinh vừa nói đến đó, bỗng thấy bên ngoài, Đại Tổng quản Ngô Bân cùng Đề đốc Phùng Thanh khẩn trương bước vào. Các vị kỳ lão còn chưa kịp chào hỏi, Ngô Đại Tổng quản đã tươi cười nói:

– Các vị lão trượng, Tả Thừa! Ta vừa từ kinh thành trực tiếp nhận khẩu dụ của hoàng thượng. Đúng rằm tháng Giêng năm tới sẽ tổ chức Lễ khánh thành quốc điện. Từ nay tới đó còn chưa đầy bốn tháng. Liệu rằng công việc có hoàn tất được không?

Tả Thừa thị Phạm Lang cùng mười bảy vị kỳ lão đều phấn chấn, nhất loạt nói:

– Hoàng thượng thánh minh! Chúng thần nhất định làm đúng theo khẩu dụ của!

Đại Tổng quản Ngô Bân lại nói:

– Các vị trưởng lão! Quả là đã ba năm nay ai cũng cố gắng hết sức mình. Trồng cây cũng đã đến ngày hái quả. Mọi việc nay đã được tám, chín phần, song chúng ta quyết không được lơ là. Nhất là việc sắp đặt thờ cúng, soạn vẽ sơ đồ, chỉnh trang màu sắc, chế định hoa văn mỗi bản triều, bản vương, khanh tướng từ mũ mão, hia, lọng đến đai ngọc, bao kiếm, ngự bào, râu tóc đều phải phân minh rõ ràng từng vị. Không thể đánh đồng một lượt cho xong. Càng không thể để hình hài mỗi vị cách bức quá xa khiến thần dân lạ lẫm. Đặc biệt, việc chọn giờ chọn tuổi những người hầu giá hoàng thượng khi hô thần nhập tượng phải xem xét cho thật kỹ. Hai mươi bảy vị sư trụ trì trong cả nước tới cầu cúng cũng phải theo quy tắc của Phật môn, không được ép đặt khó dễ. Toàn là những việc liên quan tới nghi lễ của một nước, pháp đạo của triều đình, phong thái của quân vương, chúng ta phải hết sức chu đáo mới được. Ta đã sớm cho mời Quốc sư Phùng Hiền Anh  tới đây chủ trì việc sắp đặt Đại lễ, mong các vị lão trượng hãy hết sức giúp cho.

Mọi người nghe Đại Tổng quản Ngô Bân nói ai nấy đều thấy xúc động trong lòng. Gần ba năm bám sát thợ thuyền xây dựng quốc điện, các vị trưởng lão, nhị vị Tả – Hữu Thừa thị đều thấy như quốc điện không chỉ thiêng liêng mà còn quá đỗi gần gũi, máu thịt với chính mình. Có vị hai cái Tết liền, con cháu họ mạc cho người đến đón thế nào cũng không về, chỉ lo công việc vua giao có bề gì lơi lỏng. Không ít vị quê tận miền Lục Đầu Giang cách bốn con sông, vùng cửa biển Hải Triều cách vài trăm dặm, nơi chân núi Cổ Họng xa xôi đều một mực tạm biệt con cháu, hương thân, chỉ đem theo ít hành trang đơn giản tới nơi bến sông bãi đá đều vì bốn chữ “Quốc điện Vạn Xuân”. Ngay đến các vị trọng thần triều đình, huyện lệnh các châu, hương trưởng các thôn ấp đều hướng hết tâm trí cho việc trùng tu quốc điện. Hoàng thượng lại cùng lúc cho khai thị sáu sông đàng trong, gây dựng chín thương thành trong cả nước càng khiến binh quan phải gắng sức, thương đoàn, tiêu cực phải đua chen, các thị tộc lớn nhỏ đều tận hiến sức lực trí tuệ của mình cho công cuộc canh tân đất nước.

Thật cũng quá đỗi lạ lùng, quốc khố Vạn Xuân luôn mấy năm liền nhiều việc luôn vơi mỏng mà lượng thóc gạo, lương, tiền, của cải vẫn có vô số kể ở trong dân. Triều đình cần đến đâu, muôn dân lập tức hiến sức người sức của tới đó. Đến nỗi Đại Tổng quản Ngô Bân đã mấy lần phải kêu lên với đức vua, thật chẳng hiểu tại sao, sức dân dồi dào sung túc tới vậy. Như khi thiếu vàng lá dát mười tám tượng vua Hùng, trong quốc khố đều đã hết chủng loại này, lập tức ba thị tộc họ Phạm, họ Kiều, họ Lê ở Ô Diên đã đem tới tận công xưởng Nghĩa Lĩnh xin dâng cúng, lại còn xin được ẩn danh không kê biên vào sổ sách càng là chuyện lạ. Đức vua khi ấy đã rơi lệ nói “Người trong một nước đã đồng lòng đến vậy, quả là trẫm còn phải cố gắng nhiều mới không phụ chúng dân” đã khiến Ngô Bân suy nghĩ mãi.

pvk tai Le gio Duc vua Phung Hung tai Duong Lam Son Tay Ha Noi 2 min - Nam Việt Đế trùng tu quốc điện - Truyện lịch sử Phùng Văn KhaiNhà văn Phùng Văn Khai (mặc vest đen) tại Lễ giỗ Đức vua Phùng Hưng tại Đường Lâm – Sơn Tây – Hà Nội.

Như thấy rõ từng tâm tư của Đại Tổng quản Ngô Bân cùng các vị trưởng lão cũng là suy nghĩ ấp ủ từ lâu của mình, Tả Thừa thị Phạm Lang bèn đứng ra cung kính nói:

– Thưa Ngô Đại Tổng quản cùng các vị trưởng lão! Hạ quan cho rằng, việc đôn đốc chuẩn bị Lễ khánh thành quốc điện không chỉ phải đúng kỳ hạn mà tất thảy mọi thứ từ nhân sự bốn phương phải đưa đón, lễ lạt dâng cúng của bách dân, chỗ tránh trú neo đậu của xe ngựa thuyền bè tới chúc mừng, ngay như cả các phần nhạc vũ của lân quốc tới hành lễ cũng phải sắp đặt chu đáo từ trước. Hạ quan nghe nói, mỗi khi dâng cúng ở đền thiêng Thạp Luông, quốc vương Di Lạo thường cho thỉnh chín hồi khánh đá. Còn ở kinh thành Lâm Ấp, Lễ tế trời của vua họ đều tấu thức nhạc Paramacanưng gồm sáu loại nhạc cụ làm bằng vàng, bạc, sắt, đồng, đá, gỗ rất tinh xảo do các nhạc công tuyệt kỹ hợp tấu. Mọi việc cho ngày quốc lễ đều phải thể hiện rõ thông điệp hòa ái, khiêm nhường của hoàng thượng với lân quốc chúng dân mới là thượng sách.

Mọi người nghe Tả Thừa thị Phạm Lang nói xong, ai nấy đều thấy rõ những việc Tả Thừa cân nhắc là hết sức đúng đắn, cần phải sắp xếp kỹ từng việc.

Đại Tổng quản Ngô Bân thong thả nói:

– Phạm Tả Thừa! Mọi nhắc nhở của ngài quả là rất đúng, cần phải định rõ từng việc mà làm. Bản tướng sẽ đích thân đảm nhận theo chỉ dụ của hoàng thượng!

Tả Thừa thị Phạm Lang cùng các vị kỳ lão nghe xong nhất loạt hô to:

– Hoàng thượng thánh minh! Chúng thần tuân chỉ!

*

Quốc điện trên núi Nghĩa Lĩnh ngày rằm tháng Giêng năm 575.

Sau ba năm khẩn trương tôn tạo, trùng tu, xây dựng các khu điện thờ Thượng, Trung, Hạ, đúng ngày rằm tháng Giêng, đức vua Vạn Xuân khâm định Lễ khánh thành quốc điện. Ngay sau Tết Nguyên đán, cả triều đình dường như đều dồn hết về mảnh đất Phong Châu. Thành Gia Ninh nơi ngã ba Hạc Trì từ trước tết đã đón hàng chục đoàn từ các huyện đàng trong, miền núi, miền biển xa xôi về chuẩn bị cho buổi lễ. Tin đức vua hạ chiếu chỉ trong toàn cõi Vạn Xuân cho dân chúng mở hội tới hết tháng Giêng càng khiến bách tính thị tộc khắp các vùng miền nô nức du xuân. Nhiều lễ hội cổ truyền từ trước đó đã được các vị huyện lệnh cho tìm tòi, phục dựng, luyện tập để thi tài trong làng còn liên kết nhiều làng với nhau trước khi thi ở hàng huyện chọn ra đội giải nhất tới dự Lễ hội khánh thành quốc điện. Các đội đua tài đều được ban thưởng theo thứ tự, đẳng cấp của mình. Lệnh vua ban xuống, các bậc trưởng lão trên một trăm tuổi đều được mời riêng tới Phong Châu dự lễ. Các huyện phía bắc Vạn Xuân gồm: Long Uyên, Câu Lậu, Luy Lâu, Vọng Hải, Tây Vu, Vũ Ninh, Chu Diên, Khúc Dương, An Định, Xương Quốc, Nghĩa Hoài, Tuy Ninh, Vũ Hưng, Căn Ninh, Vũ Định, Phong Khê, Bình Đại, Nam Di, Phạm Tín, Gia Hưng, Ngô Định, Phong Châu, Lâm Tây, Tây Đạo, Tân Đạo, Tân Hóa, An Bình, Hải Bình, Ngọc Sơn, Vạn Đảo tròn ba mươi huyện. Ba huyện mới thuộc châu Tây Bắc là: Bắc Thượng, Trạm Sơn, Tây Đạo. Ba huyện mới thuộc xứ đảo Trường Châu gồm: Bách Ngư, Thiên Long, Vạn Hoa. Chín huyện Ái Châu gồm: Tư Phố, Di Phong, Trạm Ngô, Kiến Sơ, Thường Lạc, Phù Lạc, Tùng Nguyên, Cao An, Cát Lung. Bảy huyện châu Cửu Đức gồm: Hàm Hoan, Nam Lăng, Phố Dung, Khúc Tư, Phù Ninh, Tống Xương, Hy Bình. Bốn huyện châu mới Xuân Khang gồm: Xuân Lôi, Xuân Bình, Xuân Lương, Xuân Thanh. Cả thảy năm mươi sáu huyện đã chọn ra được một trăm hai mươi bảy vị lão trượng trên một trăm tuổi đều được tặng ba xấp vải lụa đỏ, hai chiếc khăn nhiễu vàng, một đôi giày nhung đen. Vua còn cấp riêng cho con cháu trong hộ nuôi dưỡng bậc cao niên mười lạng bạc. Những cụ trên một trăm tuổi do sức yếu không tới được Phong Châu dự lễ đều được thưởng vải lụa, tiền bạc khiến con cháu tộc họ nhân dịp đó đều làm lễ đại thọ cho các cụ. Có lẽ từ thượng cổ, lần đầu tiên trong cả nước, bách tính thị tộc Vạn Xuân mới đồng loạt làm đại lễ thượng thọ cho các cụ như thế. Âu cũng là dịp để con cháu họ hàng nội ngoại tỏ lòng hiếu kính với các bậc cao niên.

Một điều đặc biệt cũng đã được ghi rõ trong chiếu mời các bậc lão niên, đó là các cụ bà tuổi trên một trăm đều được tham dự đại lễ. Điều này triều đình tranh cãi mãi, không ít các quan văn bẩm tấu xin gạt đi song đức vua quyết không nghe. Ngài còn viện dẫn tới cả các bậc nữ vương của nước là Trưng Nữ Vương và Triệu Trinh Nương từng làm mở mặt mở mày dòng giống Tiên – Rồng từ mấy trăm năm trước. Tin đó lan truyền tới tận làng xã khiến không chỉ các cụ bà vui mừng tạ ơn hoàng thượng mà ngay cả đám nữ lưu, nhất là các tú nữ càng được dịp khoe sắc khoe tài. Đây là điều mới mẻ chưa từng có kể từ ngày Vạn Xuân khai quốc.

Cũng nhân dịp chuẩn bị đại lễ, Đại Tổng quản – Thái úy Ngô Bân cho kiểm điểm tổng thể số hộ khẩu của năm mươi tư dòng họ trong năm mươi sáu huyện khắp đàng trong, đàng ngoài, miền núi, miền biển Vạn Xuân, nhất loạt chọn ra năm mươi tư vị tộc trưởng cùng năm mươi sáu vị huyện lệnh chủ trì các đoàn tới dâng hương dự lễ. Các đoàn đi theo đường bộ tới đâu, đều có các trạm dừng nghỉ đón tiếp chu đáo. Các đoàn theo đường thủy đều được Đô đốc Lý Thiệu Long và Đề đốc Phùng Thanh luân chuyển bằng thuyền lớn nhỏ tập kết nơi ngã ba Hạc Trì rồi từ đó tùy theo sự sắp xếp của nhị vị lão tướng Điền Công, Điền Thái mà tới núi Nghĩa Lĩnh. Đại Tổng quản Ngô Bân còn cho chọn ra mười tám đội tinh binh các chủng quân: Tượng binh, kỵ binh, thủy binh, bộ binh, du binh, cung nỏ, khiên giáp, máy phóng giáo… cơ nào chủng nấy hết sức tề chỉnh nghiêm trang. Các đoàn, đội đều theo sơ đồ bố trí sắp đặt liên hoàn định trước, nên dẫu voi ngựa vô số, thuyền bè muôn đội vẫn được điều tiết hanh thông.

Cũng trong buổi lễ, đại diện các thương đoàn, tiêu cục, làng nghề trên cả nước đều được mời dự chu đáo. Kể từ khi nhận lệnh của đức vua khơi dựng chín thương thành trên cả nước, đội ngũ thương nhân, thợ thuyền làm ăn phát đạt đã hiến vô số của cải, thức vật cho nước. Ai cũng muốn góp tài hoa, trí tuệ, hiện vật của thương đoàn, tiêu cục, làng nghề mình dâng cúng vào quốc điện. Tuy vậy, Đại Tổng quản Ngô Bân, Tả Thừa thị Phạm Lang, Hữu Thừa thị Khả Mật cùng hội đồng kỳ lão đều hết sức nghiêm khắc khi lựa chọn thức vật, đồ cúng tế, tranh tượng, phù điêu vào thờ trong ba ngôi đại điện Thượng, Trung, Hạ cẩn thận chặt chẽ. Sau này, để tiện ghi nhớ hết công sức tấm lòng của bách tính thị tộc, đức vua đã hạ chỉ làm thêm bốn gian nhà gỗ lớn xung quanh sân Hạ điện để lưu giữ tất thảy thức vật dâng cúng. Đó cũng coi như chỗ bày biện giao lưu các mặt hàng tinh xảo của các làng nghề trên toàn cõi Vạn Xuân.

Voi ngựa thuyền bè vô số kể từ khắp nơi nườm nượp kéo về suốt một tháng ròng sôi động phấn chấn khắp đất Phong Châu. Mười tám giàn trống đồng nhất loạt được xếp hàng trên giá gỗ nơi sân Thượng điện. Trong ban chính điện, trước tượng các vị quốc chủ Hùng Vương đều đặt sẵn một mâm tiền đồng lấp lánh hai mặt đúc rõ chữ Vạn Xuân nguyên niên còn thơm mùi ướp gỗ trầm.

Kế tiếp phía bên dưới, mười tám giàn cồng chiêng lớn nhỏ được bày sẵn chỉnh tề trong sân Trung điện. Ở bãi sân rộng Hạ điện, mười tám đội binh mã, voi ngựa khí thế nguy nghiêm, binh khí chói lòa, cơ nào chủng nấy mạnh mẽ rắn rỏi. Trên đầu mỗi ngọn giáo đều buộc một dải lụa đỏ. Các bao kiếm của đô tướng chỉ huy đều được lạm vàng bạc rực rỡ. Ngay đến từng chiếc yên ngựa, thảm trải lưng voi đều được thêu giát đủ thứ hoa văn rất bắt mắt. Xa xa, dưới chân núi Nghĩa Lĩnh, nơi bến thuyền đã xếp sẵn tám mươi chiến thuyền chia làm tám đội theo phương vị, trên mỗi kỳ đội đều cắm la liệt chủng cờ của mình. Những tay chèo cởi trần đóng khố chít khăn đầu rìu hông thắt dải lụa đỏ hai chân choãi rộng trên mặt thuyền sóng đánh sì soạp. Trên mũi thuyền sắp sẵn năm mươi tay cung nỏ đứng nghiêm hướng mặt lên bờ trong tiếng trống thúc ầm ầm khắp bãi sông.

Đúng giờ lành đã định. Khi trời đất hãy còn mờ mờ chưa sáng hẳn, đức vua dẫn đầu hai ban văn võ cùng một trăm hai mươi bảy vị lão trượng trên cả nước nhất loạt quỳ trước sân chầu nơi Thượng điện. Chín loạt trống đồng nối tiếp ngân vang âm i vọng dội từ đỉnh non thiêng trải rộng ra khắp phía. Khói hương trầm nghi ngút bốc cao hòa vào những vầng mây còn vương sương sớm đùng đục khắp đỉnh núi. Trong không khí linh thiêng trầm mặc, trước ban thờ đại điện, mười tám bức tượng các vị quốc tổ Hùng Vương toàn thân giát vàng thần thái uy nghiêm thanh thoát như đang nhìn xuống vị quốc vương chủ trì đại lễ cùng bách quan văn võ, các vị lão trượng. Trong khói hương quánh quyện, sắc nến bập bùng, khuôn mặt mười tám vị quốc tổ Hùng Vương ai nấy hồng hào tươi rạng như đang phấn chấn trao truyền linh khí Rồng – Tiên xuống cho thế hệ cháu con. Đức vua thành kính đi chân trần đích thân tuyên đọc xong bài Chúc văn trầm hùng theo nhịp trống đồng. Xong đâu đấy, ngài ngự lại quỳ xuống lạy chín vái khấu đầu sát đất. Phía sau, nhất loạt văn thần võ tướng, tất thảy các vị lão trượng râu tóc bạc phơ đều kính cẩn vái lạy mười tám vị quốc tổ Hùng Vương.

Năm ấy là năm Thiên Đức thứ ba mươi hai, Nam Việt Đế tròn năm mươi bảy tuổi.

 

 

 

 

     


     

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây