Ở đời vui đạo: Thông điệp nhân văn đơn giản – Tác giả: Nhà văn Thái Bá Lợi

Ở đời vui đạo: Thông điệp nhân văn đơn giản - Tác giả: Nhà văn Thái Bá Lợi

Ở ĐỜI VUI ĐẠO

Thông điệp nhân văn đơn giản

Cư trần lạc đạo phú của tác giả Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông (1258 – 1308) soạn ra để sách tấn những người học Phật bằng văn nôm, người Việt hiện đại có thể lãnh hội trực tiếp qua phiên âm. Bài phú gồm mười đoạn dùng tiếng nước nhà diễn thành lời ca như lời ghi thêm của bài phú (Thập hội dụng diễn ca quốc ngữ phú). Những điều mà tác giả diễn giải trong mười đoạn văn nôm và một bài kệ bốn câu chữ Hán khế hợp với những điều mà các bậc giác ngộ đã nói trong kinh sách. Nhưng khi những điều đó được nói ra từ một vị vua anh hùng, sau khi hoàn mãn nghĩa vụ với đất nước, với dân tộc, xuất gia tu hành mang một sự sống mới, thật gần gữi, thật ấm áp với con người. Xét thân tâm, rèn tính thức, há rằng mong quả báo phô khoe/ Cầm giới hạnh, địch vô thường, nào có sá cầu danh bán chác/  Ăn rau ăn trái, nghiệp miệng chẳng hiềm thuở đắng cay/ Vận giấy vẫn sồi, thân căn có ngại chi đen bạc/ Nhược chỉn vui bề đạo đức, nửa gian lều quí nữa thiên cung. Dẫu hay mến thuở nhân nghì, ba phiến ngói yêu hơn lầu gác. (Hội thứ hai) (1).

Nhớ những năm đầu thập kỷ 90 thế kỷ trước, thắng tích Yên Tử còn chìm trong u tịch với đường tùng bảy trăm năm tuổi, với chùa tháp ẩn trong cây rừng trong mây núi. Chính cái không gian hoang sơ đó làm chúng tôi, những người hành hương về Yên Tử dễ dàng cảm nhận được những điều mà trước tác của Điều Ngự Giác Hoàng để lại cho đời. Hôm ấy chúng tôi đến chân núi vào lúc chập tối. Khí lạnh từ lòng núi tỏa ra cùng với những đám mây nhẹ đang phủ kín đỉnh núi. Đứng trước ngọn núi thiêng trong tôi là một câu hỏi lớn: Điều gì đã làm vị hoàng đế anh hùng, hai lần trực tiếp lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh thắng một đế quốc hùng mạnh nhất thế kỷ XIII, từng thiết lập trật tự của Thành Cát Tư Hãn  trên vùng đất đai rộng lớn từ bờ tây Thái Bình Dương đến Biển Đen. Nguồn sống nào ở đỉnh núi này đã cuốn hút vị Hoàng Đế 41 tuổi (nhường ngôi cho con năm 35 tuổi) có đầy đủ vinh quang của một anh hùng dân tộc, có vương triều vững vàng, có văn trị vô công rực rỡ từ bỏ tất cả quyền lực, danh vọng vào thẳng nơi núi rừng thâm u này, tinh  cần tu khổ hạnh, mỗi ngày một bừa cơm muối vừng với hiệu là: “Hương Vân Đại Đầu Đà”. Câu hỏi lớn đó một phận được lý giải nếu ta tiếp cận với trước tác của ngài.

Ở đời vui đạo, thông điệp nhân văn đó, không phải chỉ toát ra từ bài phú Cư trần lạc đạo, không phải chỉ toát từ những tác phẩm của Trần Nhân Tông, cũng không phải chỉ toát ra từ những tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm mà Điều Ngự Giác Hoàng là người sáng lập mà nó có thể còn nằm ở nơi sâu xa hơn trong đời sống tinh thần của người Việt. Có thể từ nhiều trăm năm trước khi nhà Lý (1010 – 1225) lấy đạo Phật làm quốc giáo, thông điệp đó đã đến với lòng người tụ cư dọc lưu vực Hồng Hà. Hãy lấy thời gian gần với sự xuất hiện của bài phú là đầu đời Trần để hiểu rõ hơn những góc cạnh, những căn nguyên tại sao thông điệp đó lại gần gữi, lại có sức sống lâu bền như vậy.

Chùa Đồng còn có tên Thiên Trúc tự (chùa Cõi Phật) nằm ở đỉnh cao nhất dãy Yên Tử, ở độ cao 1.068m so với mực nước biển. Đây là ngôi chùa trên đỉnh núi được làm bằng đồng lớn nhất Châu Á.Chùa Đồng còn có tên Thiên Trúc tự (chùa Cõi Phật) nằm ở đỉnh cao nhất dãy Yên Tử, ở độ cao 1.068m so với mực nước biển. Đây là ngôi chùa trên đỉnh núi được làm bằng đồng lớn nhất Châu Á.

Trần Cảnh, do nhiều nguyên nhân lịch sử cụ thể cuối đời Lý đã lên ngôi vua mở đầu triều Trần: Trần Thái Tông. Tuy làm vua nhưng lòng không yên vì những nghịch lý trong đời sống họ hàng, trong nội bộ triều đình, những chuyện phế lập ngang trái và tàn bạo. Đêm mồng Ba tháng Tư năm Bính Thân (1236) đang đêm ra khỏi thành đến Yến Tử với Quốc sư Phù Vân, vốn là bạn cũ, với ý nguyện xa rời chính sự, tìm nơi thanh tịnh tu hành, chỉ muốn cầu làm Phật chứ không muốn cầu gì khác. Vị Quốc sư đã nói với nhà vua : “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong lòng. Lòng lặng mà hiểu, đó chính là chân Phật. Nay nếu bệ hạ giác ngộ tâm đó thì lập tức thành Phật, không nhọc tìm kiếm bên ngoài.”. Quốc sư khuyên nhà vua xuống núi về với triều đình. Ông vua hiền triết ấy nhận thức được rằng đất nước vào thời mà ông đang đứng trên đất Yên Tử cần một vị hoàng đế có đủ trí đức để thiết lập vương triều vững vàng chuẩn bị đón nhận những thử thách lớn. Sau khi đánh thắng cuộc xâm lược lần thứ nhất của đế quốc Nguyên Mông, Hoàng đế Thái Tông nhường ngôi cho con trở về với Thiền học. Ngay cả trong khi cầm quyền như nhà vua đã viết : Trong khoảng hơn chục năm, mỗi khi được rảnh việc trẫm lại hội họp các vị tuổi cao đức cả để tham vấn đạo thiền. Đến các kinh điển của Đại giáo thì không kinh nào không nghiên cứu. Trần Thái Tông là một tác giả lớn của văn học Phật giáo thời Trần với tác phẩm bất hủ ” Khóa hư lục “. Trong tựa Thiền tông chi nam ông viết : “…Năm ấy Quốc sư từ núi Yến Tử về kinh, trẫm mời  về chùa Thắng Nghiêm để trông coi việc khắc in kinh sách. Nhân đó trẫm viết bài ca ra, đưa cho Quốc sư xem. Mới đọc qua một lần, sư đã mấy phen tán thưởng nói: Tấm lòng của chư Phật ở trong đó cả, sao không khắc in thành kinh bản để chỉ dẫn cho kẻ hậu học? Càng đọc càng thấy việc đời việc đạo của vua Trần Thái Tông thật là viên mãn, thật là vui. Lịch sự Phật giáo Việt Nam xác quyết Hoàng đế Trần Thái Tông một thiện tri thức chứng đạo.

Tâm nguyện vào núi Yên Tế tu hành của người ông được người cháu thực hiện trọn vẹn. Vào một ngày thu năm Kỷ Hợi (1299), cũng như người ông, vua Trần Nhân Tông đã hoàn tất bổn phận quân vương của mình một cách xuất sắc,  sừng sững một đắng minh quân, một nhà chiến lược tài ba, một anh hùng trong chiến trận, bỏ lại sau lưng những điều ấy về với Yên Tử, như là về lại nhà. Bài phú Cư trần lạc đạo chưa xác định được thời điểm tác giả viết trước khi lên Yên Tử hay những ngày sống trong núi, mặc dù mở đầu bài phú bằng câu: Mình ngồi thành thị/ Nết dụng sơn lâm.

Với Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông ta cũng không nên bận tâm nhiều về chuyện thông điệp của ngài phát ra lúc nào, được ấn chứng ở đâu mà nên tìm xem điều mà Ngài nói với đời là gì? Biết chân như, tin bát nhã chớ cần tìm Phật Tổ Tây Đông/ Chứng thực tướng, ngộ vô vi nào nhọc hỏi kinh Thiên Nam Bắc/ Xem Tam Tạng giao ắt học đòi Thiền uyển thanh quy/ Đốt ngũ phần hương chẳng tốn đến chiên đàn chiên bặc/ Tích nhân nghì, tu đạo đức ai hay này chẳng Thích Ca/ Cầm giới hạnh, đoạt xan tham, chỉn thực ấy là Di Lạc (Hội thứ tư).

Vẫn biết chủ trương: Cư trần lạc đạo, trần tục mà nên do Tuệ Trung Trần Quốc Tung người thầy của Nhân Tông đã ấn chứng cho nhà vua trước khi lên Yên Tử nhưng nó đã phát triển rực rở dưới thời Tam Tổ Trúc Lâm ghi lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống xã hội lúc đó. Điều Ngự Giác Hoàng không rời chuyện đời, thậm chí còn hành động quyết liệt để đạt được những mục tiêu chính trị, quân sự, ngoại giao mà người lãnh đạo vương triều cần phải làm. Trực tiếp lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông (1285 – 1288), củng cố nền hòa bình và phát triển đất nước sau chiến tranh với những chính sách mà đấng minh quân nào cũng làm. Đại xá cho cả nước và tha tô thuế tạp dịch cho những vùng bị tàn phá, miễm giảm cho các vùng khác. Khen thưởng người có công, trừng trị người có tội, nhưng cách làm cũng thật đặc sắc. Những người có công trạng được chép tên tuổi và vẽ chân dung vào sách Trung hưng thực lục nhưng không phải tràn lan vì lúc ấy triều đình có quan điểm rõ ràng; nếu thăng thưởng đến cực phẩm khi giặc lại đến nữa, quan quân lập công lớn thì lấy gì mà thưởng.

Hay thấy việc bổ quan phong tước rộng rãi của vua Anh Tông, Thượng hoàng Nhân Tông phải thốt lên: Sao một nước nhỏ như bàn tay mà phong tước nhiều như vậy. Việc trị tội còn độc đáo hơn. Khi giặc Nguyên chiếm Thăng Long, vương hầu quan lại nhiều người đến qui phục. Khi giặc thua quân ta tìm được các tờ biểu xin đầu hàng. Triều đình đã sai đốt đi để yên lòng kẻ biết lỗi. Chỉ những kẻ manh tâm tận lực làm tay sai cho giặc mới bị trị tội theo pháp luật. Những người vì hoàn cảnh nào đó mà phải hàng giặc cũng chỉ xử không cho mang họ Trần. Với trường hợp Thân vương Trần Ích Tắc, người có tước phẩm cao nhất hàng giặc thì được gọi là ả Trần coi như là hèn nhát như đàn bà… Rồi phục hồi lại nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá, rồi khôn khéo có những kế sách ngoại giao mềm dẻo để không xảy ra những cuộc chiến tranh tiếp theo. Rồi cầm quân chinh phạt Ai Lao. Rồi vào tận Chiêm Thành giao hảo, hứa gả con gái Huyền Trân cho vua Chiêm để mở mang bờ cõi. Tóm lại, Hoàng đế Trần Nhân Tông đã làm mọi việc để tròn bổn phận của mình ở đời.

Nhưng con người ấy ở đời vẫn vui đạo. Trước tác của Điều Ngự Giác Hoàng để lại đã không ghi năm tháng cụ thể, cùng không rõ là sáng tác khi làm vua hay khi đã xuất gia, nhưng tất cả đều toát lên phong thái của bậc giải thoát ngay trong những việc ở đời thường. Lúc quân giặc đã tràn sang đất nước, đã chiếm mất kinh đô, lời động viên quân dân: Cối Kê việc cũ người nên nhớ / Hoan Ái đang còn chục vạn quân đến lời tuyên bố chiến thắng trước lăng Trần Thái Tông: Xã tắc hai phen chồn ngựa đá / Non sông nghìn thưở vững âu vàng hay cảm xúc trước một cảnh xuân : Chim hót nhởn nhơ hoa liễu dày/ Bóng thềm nhà vẽ mây chiều bay/ Chuyên đời khách đến thôi không hỏi/ cùng tựa lan can ngắm núi mây đến bài thơ viết lên vách chùa thôn hương Cổ Châu trước khi vào Quỳnh Lâm rồi lên Ngọa Vân viên tịch. Số đời một hơi thở/ Tình người đôi mắt trong/ Cung ma chật hẹp lắm/ Cõi Phật xuân mênh mông, chẳng có gì là sai khác trong con người ấy, vẫn là phong thái ấy, tự tại trong mọi hoàn cảnh, làm chủ mình trong mọi việc dù đời hay đạo. Trạng huống một đại sĩ chứng ngộ biết mình là ai, từ đâu đến đây rồi sẽ đi về đâu qua những ghi chép những phút cuối cùng tại thế của Điều Ngự Giác Hoàng. Ngày 18 tháng 10 Mậu Thân (1308) Điêu Ngự đến viện Quỳnh Lâm thấy đau đầu nói với đệ tử: Ta muốn lên am Ngọa Vân nhưng chân không bước nổi biết làm sao đây? Hai nhà sư Tử Nam và Hoàng Trung kính cẩn thưa: Đệ tử xin hết sức với thầy. Phải hơn một ngày thầy trò mới lên được đỉnh núi. Điều Ngự nói với hai đệ tử: Thôi các ông xuống núi, chăm chỉ tu hành, chớ coi sinh tử là chuyên chơi. Ngày hôm sau Điều Ngự sai người sang am Vân Tiêu bên Yên Tử gọi đệ tử thượng túc là Bảo Sái đến. Đây là câu chuyện cuối cùng giữa hai thầy trò. Ngày Mùng Một tháng 11 vào lúc nửa đêm, sao trời tỏ sáng, Điêu Ngự hỏi: Bây giờ là giờ gì? Bảo Sái đáp: Bạch thầy giờ Tý, Điều Ngự đưa tay mở cửa ngắm trời nói: Đây là lúc ta đi, Bảo Sái hỏi: Tôn Đức đi đâu? Điêu Ngự đáp: Tất cả Pháp không sinh/ Tất cả Pháp không diệt/ Nếu hiểu được như thế/ Chư Phật thường hiện tiến/ Có chi là đi lại… Bảo Sái hỏi: Nếu như không sinh không diệt thì sao? Điều Ngự đưa tay bịt miệng Bảo Sái: Chớ nói mê. Nói xong nằm theo thế sư tử, an nhiêu viên tịch…Thật là nhẹ nhàng và đơn giản biết bao.

Thông điệp ở đời vui đạo từ Sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm được nối tiếp, lan tỏa cho các thế hệ sau. Thiền phái Trúc Lâm thường lập đạo tràng trên những núi cao. Điều Ngự ở Yên Tử, tổ thứ hai Pháp Loa ở Thanh Mai, tổ thứ ba Huyền Quang ở Côn Sơn. Nhìn thế núi ta có cảm giác những tư tưởng của Thiền phái này từ cao xanh cứ xuống thấp dần rồi chan hòa vào mạch sống của con người, của cây cỏ hoa lá, đất đai sông núi. Núi Thanh Mai không cao như Yên Tử nhưng cũng phải leo dốc hàng giờ. Đường lên núi với những hàng thông già, những cây vải cổ thụ như tỏa ra thanh khí của người xưa. Trên đỉnh núi còn ngôi cổ tự với bảo tháp lưu giữ xá lợi Tôn giả Pháp Loa, người được Điều Ngự truyền trao tâm kệ nối giòng pháp vào năm 24 tuổi. Trong 23 năm nối giòng pháp con người kiệt xuất này đã thành tựu một khối lượng Phật sự lớn lao: Dựng chùa, in kinh, tạc tượng, dựng những đạo tràng lớn như Quỳnh Lâm, Chân Lạc, Côn Sơn, Thanh Mai…. Vua Anh Tông thọ giới Bồ tát tại gia với Pháp Loa, nhà vua từng cùng tăng chúng, cư sĩ chích máu in năm nghìn bản Đại tạng. Những điều đã được ghi lại trong Tam Tổ thực lục, làm ta hình dung ra con người đã tạo một sự nghiệp lớn lao như vậy lại có phong thái nhẹ nhàng cho đến phút cuối. Vào giờ Hợi lúc Tôn giả Huyền Quang và môn đệ vào thưa: Xưa nay chư Tổ khi lâm chung thường có kệ dạy, vì sao thầy không có? Pháp Loa quở trách họ, giờ lâu ngồi dậy, bảo đem giấy bút đến viết bài kê lớn: Muôn duyên cắt đứt tấm thân nhàn/ Hơn bốn mươi năm giấc mộng tàn/ Giã biệt xin đừng theo hỏi nữa/ Bên kia trăng gió mặc thêng thang… Rồi quẳng bút an nhiên viên tịch. Cũng thật là nhẹ nhàng, đơn giản biết bao.

Tổ thứ ba của Thiên Phái Trúc Lâm là người hơn thầy Pháp Loa 30 tuổi. Đỗ trạng nguyên rất sớm, Lý Tải Đao tục danh của Tôn giả Huyền Quang đã làm quan qua các triều Nhân Tông, Anh Tông. Tư chất của bậc chân tu đã hiện rõ rất sớm qua bài Thương kẻ thù bị bắt, khi nhìn thấy những quân Nguyên vừa bị bắt làm tù binh. Thời đó lòng căm thù giặc Nguyên sôi sục đến mức từng người lính đã thích vào cánh tay mình hai chữ Sát Thát khi ra trận. Nhưng lòng thương người vốn có sẵn trong lòng người Viết đã tạo nên cảm xúc cho trạng  nguyên Lý Tải Đạo viết thành thơ : Chích máu thành thư muốn gửi lời / Lẻ bay nhạn buốt ải mây khơi / Đêm nay mấy kẻ buồn trăng nhỉ / Đôi ngả lòng chung một vợi vời. Vua Trần Anh Tông từng nói : tướng mạo người này có đạo nhãn, có thể là bậc pháp khí, bậc thành tăng chân chính. Đến năm Ất Tỵ (1305) nhân  theo vua đến huyện Phong Nhãn gặp Quốc sư Pháp Loa đang hoằng pháp, nhớ lại duyên xưa Lý Tải Đạo ba lần đang biểu xin từ chức, xuất gia học đạo. Được vua chấp nhận, được thọ giáo với Pháp Loa rồi lên Yên Tử, vâng chỉ Điếu Ngự soạn Chư Phạm Kinh và Công Văn Tập. Điều Ngự từng phê : Phàm sách qua tay Huyền Quang soạn thì không thể thêm hay bớt điều nào. Năm Canh ngọ (1330) được Tôn giả Pháp  Loa trao tâm kệ nối dòng pháp.=

Thông điệp ở đời vui đạo không chỉ đậm đà trong đời sống dân tộc với giòng thiên Trúc Lâm mà chắc chắn nó đã có cơ sở từ trước đó và kéo dài về sau này. Trong khuôn khổ bài viết ngắn này không thể trình bày kỹ càng được. Nhưng giá trị nhân văn của nó để lại trong di sản tình thần của dân tộc Việt Nam thật là lớn lao. Ngô Thời Nhậm, một học giả nho giáo đời sau từng nói : “Tam Tổ (Trúc Lâm) lấy từ bi làm thể, quảng đại làm dụng, cùng với trời đất hòa với trăng sao. Cái thanh (trong sạch) rất chính, cái hướng (uy tín) rất dài nên bất cứ hiền, ngu, phàm, thánh ai nghe thấy, biết được cũng đều hứng khởi…”

Nhưng thông điệp đó cũng rất đơn giản vì trong mỗi người chúng ta, ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng có thể thực hành. Ở đời vui đạo hãy tùy duyên/ Đói cứ việc ăn mệt ngủ liền/ Có báu trong nhà thôi tìm kiếm/ Vô tâm đối cảnh hỏi chi Thiền như các bậc giác ngộ đã nhận ra và thực hành nó để phục vụ đối tượng trung tâm là con người, vì một xã hội tốt đẹp mà con người sống trong đó.

Thái Bá Lợi

———————

(1) Những trích dẫn trong bài viết này rút ra từ:

  • Lê Mạnh Thát: Toàn tập Trần Thái Tông – NXB tổng hợp Tp HCM 2004
  • Lê Mạnh Thát: Toàn tập Trần Nhân Tông – NXB tổng hợp Tp HCM 2006

 

Quảng cảnh núi Yên Tử (Quảng Ninh).Quảng cảnh núi Yên Tử (Quảng Ninh).

 

While Living in this World, Practice the Way with Joy

A Simple Humanistic Message

The long poem “While Living in this World, Practice the Way with Joy” was composed by King Trần Nhân Tông (12581308) to encourage Buddhist disciples. It was written in “Nôm” (a Vietnamese version of the Chinese Han characters), and contemporary Vietnamese can directly understand it by transliteration. The long poem is composed of ten chapters in the national language. The author has expressed in these paragraphs and a four-sentence verse in Han characters what the awakened have in sutras. However, they have a new meaning and closer to ordinary humans when they are expressed by a hero king who had left the royal palace to practice the Way after completing his duties for his nation and his people. “Contemplate your body and mind, train yourself with mindfulness, never boast about your realization / Uphold the prohibitions, fight the impermanence, never care for glory / Eat the fruits and vegetables, restrain your mouth from complaining any bitterness / Dress yourself in simple clothing, this body does not mind any hardship / Only rejoice and practice high morality, half a thatch hut is as precious as half a palace / Although you have fond memories of human relations, the simple hut is more lovable than the royal palace (Second Chapter).

Recall that in the 1990s, the Yên Tử relic site was buried was in the deep forest of 700year old pine trees, with its pagodas and stupas hidden in the mountains and in the clouds. It is that pristine and uninhabited atmosphere makes us, the pilgrims to Yên Tử, more appreciative of what the King had left behind for the world. On that day, we arrived at the base of the mountain around nightfall. A cold air emanated from the mountain and its summit was covered by light clouds. Standing in front of the holy mountain, inside me there was one question: “What made a hero king who had led the people and armies of Đại Việt and had twice defeated the most powerful empire of the 13th century created by the order of Gengis Khan and covered vast lands from the western shore of the Pacific Ocean to the Black Sea. What attracted the 41-year old King (he had abdicated at the age of 35 in favor of his son) to this mountain, when he had the full glory of a popular hero and a powerful kingdom and yet he had renounced them all to come to this uninhabited, serene forest and mountain, to practice ascetism with one simple meal daily and to be known as Hương Vân Đại Đầu Đà (Flagrant Cloud Master). That big question can be partially answered if we read his literary work.

The humanistic message, “While living in this world, practice the way with joy”, did not originate from the poem and other works of King Trần Nhân Tông or the teachings of the Meditation (Dhyana/Chan/Zen) school Trúc Lâm that he founded, but it lies deeply within the spiritual life of the Vietnamese people. It is possible that several hundred years before the Lý dynasty (1010-1225) had adopted Buddhism as the national religion, the message had started with monks residing in the plains of the Red River. Let us examine the period when the long poem appeared at the beginning of the Trần dynasty to better understand the roots and aspects of its simple message and why it had survived for such a long time.

For practical reasons at the end of the Lý dynasty, Trần Cảnh had ascended to the throne and founded the Trần dynasty. Known as Trần Thái Tông, he was afflicted by the immoralities among his relatives, the unjust and violent dismissals and replacements in the court. During the night of April 3rd, 1236, he left the palace and came to Yên Tử to see an old friend, National Teacher Phù Vân, with the intent of leaving the political affairs behind, seeking a peaceful and pure place to practice the Way, to become a Buddha and seeking nothing else. The National Teacher had told the king: “There is no Buddha in the mountain, Buddha is in your heart. A mind at peace and yet understands, that is the real Buddha.  With such an enlightened mind, His Majesty will immediately become a Buddha and will not have to look outside”. The National Teacher advised the king to return to his court. That sage king had realized that, at the time when he stood on the summit Yên Tử, the nation needed a king with high wisdom and virtues to build a strong country in order to be able to face strong challenges ahead. After defeating the first invasion of the Mongol empire, King Thái Tông abdicated for his son to return to meditation studies. Even in power, the king wrote: “For about ten years, whenever I had some idling time, I had assembled respected masters to study the mediation way. I had studied all sutras of the Great Religion.” Trần Thái Tông was a great author of the Buddhist literature under the Trần dynasty with the immortal work “Khóa Hư Lục”. In the foreword of the Guide to Meditation, he had written “That year, the National Teacher had left Yên Tử to visit the capital. I had invited him to come to Pagoda Thắng Nghiêm (Just Victory) to supervise the printing of sutras. On that occasion, I wrote the long poem and showed it to him. After reading it once, he had praised it: “The minds of all Buddhas are in it, why not print it for later generations?” The more we read the more we realize that the worldly and religious accomplishments of King Trần Thái Tông are complete and joyful. The history of Vietnamese Buddhism confirmed that King Trần Thái Tông was an enlightened disciple of the Buddha.

The desire and vow of entering the Yên Tử mountain to practice the Way of the grandfather were fully realized by the grandson. Like his grandfather, King Trần Nhân Tông had brilliantly completed his royal duties, became a great king, a talented strategist and a great war hero. On a day in the Fall of the year 1299, he had left behind all that to return to Yên Tử like returning to his own home.  The long poem “While living in this world, practice the Way with joy” cannot be used to ascertain whether the author had written it before his arrival on Yên Tử or during his days living there, even if it started with the sentence “While sitting to rule the country, the habits belong in the forest and mountain”.

With King Trần Nhân Tông, we should not be concerned about when the long poem was written or where it was certified. Instead, we should focus on what kind of message that the King wanted to transmit to the world? “Know the Thusness, believe in Prajna, do not look for Buddha in the east or west. Attain the truth, know the uncreated, do not bother with the northern or southern teachings.  Read the teachings of the Tripitaka, learn the regulations of Meditation practice / Burn the five-part incense without needing the aromatic incense / Practice high morality, accumulate virtues, you will not deviate from Sakyamuni / Uphold the prohibitions, terminate greed, it’s really Meitreya (Fourth Chapter).

Although the guidance “While living in this world, practice the Way with joy  / Attain enlightenment as a worldly human” was certified by the master of the King, Tuệ Trung Trần Quốc Tung, before his arrival on Yên Tử, it had fully blossomed under the Three Patriarchs of Trúc Lâm (Bamboo Grove) and left a solid imprint on the society at that time.

The king had not forgotten about worldly affairs; he was even actively involved in achieving important objectives in political, military and foreign affairs that a royal leader has to accomplish.  He had directly led the struggle against two invasions from the Mongol armies (1285-1288), solidified the peace and enhanced the development of the nation after the wars with policies of an enlightened monarch. General amnesty for the whole country, no taxes for regions destroyed by wars, and reduced taxes for others. Reward for people with good deeds, and punishment for the guilty, but his methods are really special. The good people had their biographies and portraits included in the Trung Hưng Thực Lục (Records of the Restoration)  but not everyone was included because the court thought that if someone had already received the highest reward and if the enemy invaded again, what other rewards would be left for the court officials and soldiers with good deeds? Seeing the widespread rewards given out by his son, King Anh Tông, the Father-King Nhân Tông had said: “Why a country small like a hand has so many high officials?” His punishment methods are even more special. When the Yuan/Mongolians occupied the capital Thăng Long, some members of the royal family and court officials had surrendered to them. When the enemy was defeated, soldiers had found some surrender notes. The court had these burned to pacify the guilty. Only the guilty who had actively worked for the enemy got punished according to the law. Members of the royal family who collaborated with the enemy for some reasons got punished by removing their last name “Trần”. Even Prince Trần Ích Tắc, the highest-ranking  royal who surrendered to the enemy, was only punished by being called “ girlie Trần”, meaning coward like a woman. The king had restored the economy ruined by wars, and used good and flexible foreign policies to avoid succeeding wars. He commanded an army to punish Laos. He visited Champa for better relations, promised his daughter Huyền Trân in marriage in exchange for additional territories. In summary, King Nhân Tông had fully performed all his worldly duties.

But that human being had enjoyed practicing the Way while living in this world. The work of the King had left no date of its creation or whether it was created while he was still King or when he had left the palace. Nevertheless, all has expressed the behavior of an enlightened being in normal life. When the enemy had invaded the country and occupied the capital, he had said as an encouragement to the people: “Remember the old Cối Kê / Hoan Ái still has thousands of troops.” He declared victory before the tomb of Trần Thái Tông: “The country has twice buried the stone horses / The rivers and mountains will be eternally strong as gold. He expressed his emotion before the spring landscape: “Birds are singing among the thick willow trees /  The shadows of the home reflect the flying clouds / Do not ask visitors about worldly affairs / Standing on the balcony to watch the clouds and mountains”. He wrote the following poem on the wall of Pagoda Cổ Châu before his death in Ngọa Vân (Sitting Clouds) Temple: “Life is only a breath / Love is a pair of clear eyes / The palace of demons is very narrow / In the Buddha realm spring is immense”. He had the same behavior, free in all circumstances and self control in all affairs, worldly or religious. He had shown himself to be an enlightened master, who knows who he is, where he came from and where he is going through his writings during his last minutes in this world. On October 18, 1308, the Master came to Quỳnh Lâm (Cactus Forest) Institute, felt a headache and told his disciples: “ I want to go to Ngọa Vân Temple but I cannot move my feet, what can I do?” Two monks Tử Nam and Hoàng Trung respectfully replied: “We will try our best for you. It will take us a day to reach the summit. “ The Master told his disciples: “Now you can descend from the mountain, practice with diligence, and do not consider life and death as a game”. The next day, he sent someone to Vân Tiêu Temple on Yên Tử to fetch his foremost disciple Bảo Sái. This is the last conversation between the Master and his disciple. At midnight on November 1st, with the stars shining brightly, the Master asked: “What time is this?” Bảo Sái replied: “It is midnight”. The Master opened a window, looked at the sky and said: “It is time for me to go”. Bảo Sái asked: “Master, where are you going?” The Master replied: “ All Dharmas are not arising / All Dharmas are not destroyed / With such an understanding / All Buddhas will often be present / There is nothing to going …” Bảo Sái asked: “What about not arising and not destroyed?” The Master covered the mouth of Bảo Sái: “Do not say such delusion”. Then he lied down in a lion position and died peacefully… It was so gentle and simple!        The message “While living in this world, practice the way with joy” was transmitted from the First Patriarch of Trúc Lâm School and became popular with later generations. Trúc Lâm School frequently established their practice centers on high mountain peaks. The First Patriarch was on Yên Tử, the Second Patriarch Pháp Loa on Thanh Mai, and the Third Patriarch Huyền Quang on Côn Sơn. Looking at these high peaks, one has the feeling that the Meditation thoughts came down from there and dissolved in life veins of humans, plants, leaves, flowers, land, rivers and mountains. Peak Thanh Mai is not as high as Yên Tử, but still requires one to climb up for hours.  The road to its summit is surrounded by old pine trees and lychee trees that are emitting the pure breath of the ancients. On the summit there is an old pagoda with a stupa containing the relics of Patriarch Pháp Loa who received the Dharma mind from the First Patriarch at age 24. During his 23 years as the Second Patriarch, this brilliant master had several great accomplishments: building pagodas, printing sutras, creating statues, founding big meditation centers like Quỳnh Lâm, Chân Lạc, Côn Sơn, Thanh Mai … King Anh Tông received the lay Bodhisattva precepts from Pháp Loa. The King, together with other monks and lay disciples, had used their own blood to create five thousand copies of the Tripitaka.    What was described in the Tam Tổ Thực Lục (Records of Three Patriarchs) gives us a portrait of a man with such great legacy and a gentle composure until the end of his life. When Huyền Quang and other disciples asked: “ Until now, all patriarchs normally left verses before their death, why don’t you have one?” Pháp Loa scolded them and after a while, got up, asked for paper and pen and then wrote the following verse: “I want the conditions to stop and the body and mind to be pure / After more than forty years the dream is finished / Let us say goodbye without asking any more questions / On the other side, the moon and winds are free …” He then threw the pen away and died peacefully. Again, it was so gentle and simple!

The Third Patriarch of Trúc Lâm School was 30 years older than Master Pháp Loa. Having passed at a young age the doctorate examination with the highest honor, Lý Tải Đạo (the secular name of Master Huyền Quang) was a high official in the courts of Nhân Tông and Anh Tông. The nature of a true master was expressed early by the poem “Loving the Captured Enemies” upon seeing the Mongol soldiers taken prisoners. At that time, the hate for the Mongols was so high that Vietnamese soldiers would inscribe two words “Kill Mongols” on their arms before going into battle. But the deep love of the Vietnamese people for fellow human beings had caused Lý Tải Đạo to write a poem: “Extract the blood to write the message / A single sparrow flies through the mountain pass / Tonight the clouds and moon are sad / For both sides there is a common love”. King Trần Anh Tông had once said: “This man has divine vision and can become a holy master”.  In 1305 when he accompanied the king to Phong Nhãn District to meet the National Teacher Pháp Loa who was preaching the Dharma, he had recalled the old bond in previous lives, and Lý Tải Đạo had asked the king three times to resign from his post. After receiving the King approval and instructions from Pháp Loa, he arrived on Yên Tử where he obeyed the edicts of the First Patriarch and prepared Chư Phạm Kinh (Sutra of Heaven Devas) and Công Văn Tập (Collection of Records). The First Patriarch had said about his works: “In any work passing through the hands of Huyền Quang, not even a single sentence can be added or removed!” In 1330, he succeeded Pháp Loa as the Third

Patriarch.

The message “While living in this world, practice the way with joy” was        not only embedded deeply in the life of the Vietnamese people or the Meditation School Trúc Lâm but also it existed long before and will persist through later generations. Due to space limitations, this short essay cannot fully present all its details. But its humanistic value is immense within the spiritual heritage of the Vietnamese people. Ngô Thời Nhậm, a noted Confucian scholar, had written: “The Three Patriarchs (of Trúc Lâm) had used compassion as basis, generosity as tool and, together with heaven and earth, they had mixed with the moon and stars. Their purity is just, their prestige immense so that all sages, ignorant, ordinary or holy beings who have listened to them or known about them are always excited …”

But the message is so simple that anybody can, under any circumstances, practice it. “While living in this world, practice the Way with joy, follow the conditions / Eat when hungry and sleep when sleepy / There is a treasure inside the house, stop looking for it / Facing the situation with no-mind, do not ask about Meditation”. Enlightened beings have realized these simple truths and practiced them for the benefit of human beings and for a good society where humans live.

Translate English by Tran Tien Khanh 

—————————–

All poems in this essay have been taken from:

– Lê Mạnh Thát: Collected Works of Trần Thái Tông – General Publisher, HCM City, 2004

– Lê Mạnh Thát: Collected Works of Trần Nhân Tông – General Publisher, HCM City, 2006

 

 

     


     

Bài trướcHành trình Yên Tử, Vĩnh Nghiêm, Côn Sơn, Kiếp Bạc: Viết tiếp câu chuyện di sản
Bài tiếp theoTây Ninh: Tăng trưởng GRDP 6 tháng dẫn đầu khu vực phía Nam

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây