Phùng Văn Khai và “Thơ viết cho mình” – Tác giả: Nhà thơ Ngô Đức Hành

Phùng Văn Khai và “Thơ viết cho mình” - Tác giả: Nhà thơ Ngô Đức Hành

Nhà thơ Ngô Đức Hành.

Thơ là nhu cầu của con người, là chính lời tâm sự của con người những lúc cô đơn. Với con người nói chung ai mà chẳng có cô đơn, với văn nghệ sỹ càng có “gia tài” cô đơn nên đọc thơ họ chính là “nghe trộm các nhà thơ đang nói với mình”.

Thơ viết cho mình -h1Tập Thơ viết cho mình (NXB Hội Nhà văn, 2026) của Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.

Nhà văn, đại tá Phùng Văn Khai là một người như vậy. Ông là một tiểu thuyết gia nhưng vẫn “ham hố” thêm nhiều lĩnh vực sáng tác. Gần đây, Phùng Văn Khai làm thơ. Và bạn đọc đã có trên tay tập thơ, tên của thi phẩm như một lời nói chân thành: Thơ viết cho mình.

Chính Phùng Văn Khai, bộc bạch, tự giới thiệu: “Đối với cá nhân tôi, Thơ viết cho mình trước hết là giải phóng và thỏa mãn chính mình. Tôi luôn chủ trương mỗi bài thơ phải được kể ra như một câu chuyện, hội tụ từ nhiều câu chuyện, đan cài vào nhau, bổ sung cho nhau, góp phần làm giàu trí tuệ và tâm hồn của chúng ta trong cuộc sống”.

Thơ viết cho mình -h2Tập Thơ viết cho mình (NXB Hội Nhà văn, 2026) của Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.

Tập thơ gồm hai phần, Phần I “Thơ từ ký ức” gồm 41 bài; Phần II “Thơ viết cho mình” gồm 31 bài; Tổng cộng 72 bài. Vậy nhưng “thời gian vật chất” chỉ có hai tháng. Chính Phùng Văn Khai cũng ngạc nhiên, “đó như một kỷ lục, một dấu mốc hết sức thân thương trong nghiệp văn bút của mình”.

Khi “chốt” lại bản thảo, nhà thơ Phùng Văn Khai, thấy mình hạnh phúc.

Thơ đến với Phùng Văn Khai và ngược lại đều tự nhiên, thoải mái, dễ dàng. Dường như ông “lăn tăn” mãi về “món nợ”, tâm thế luôn muốn “trả nợ” và tâm hồn khoáng đạt, hào sảng đã giúp ông một “năng lượng” cảm xúc để hoàn thành cái việc mà ông canh cánh. Giờ thì Phùng Văn Khai đã trở nên tự do.

Nhà thơ Ngô Đức Hành (bìa trái) và Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (bìa phải).Nhà thơ Ngô Đức Hành (bìa trái) và Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (bìa phải).

*

**

Phùng Văn Khai là nhà văn chuyên “cày ải” trên “cánh đồng quá khứ”. Hay nói cách khác, giản dị, ông là một nhà văn chuyên viết tiểu thuyết lịch sử về các triều đại, danh nhân lớn của đất nước. Ông là tác giả của những tiểu thuyết về Ngô Vương, Phùng Vương…cho đến những pho tiểu thuyết lịch sử như Vương Triều Tiền Lý (gồm 4 tập).

Chắc chắn, ngoài tài năng, nhà văn Phùng Văn Khai đã phải nghiên cứu thư tịch, khảo cứu, và đi đến những nơi còn lưu giữ dấu tích về những nhân vật lịch sử, vương triều xưa trong chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam. Và đúng như ông tâm sự: “Tôi đã trả nợ được những địa danh, danh nhân văn hóa lịch sử, các danh thắng nơi mình từng thưởng ngoạn, ghi dấu ấn trong các tiểu thuyết lịch sử nay lần lượt hiện vào thơ chẳng phải thú vị lắm sao?!

Chính vì thế, Phần I “Thơ từ ký ức” có các bài thơ của mạch cảm ấy. “Thành Cổ Loa”, “Chùa Cổ Pháp”,“Văn Miếu”, “Đường Lâm”,“Phố Hiến”,“Phủ Trịnh”, “Hành cung Cổ Bi”, “Trước đền ba vị Đại vương họ Trịnh”,“Trước đền nữ tướng Phùng Thị Chính”, “Trước đền Triệu Việt Vương“, “Trước miếu thờ Thái phó Phùng Tá Chu”, “Trước mộ Thái sư Trần Thủ Độ”, “Dưới chân tượng đài Phùng Khắc Khoan”, “Trong Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam”,“Ghi ở Bảo tàng Thanh Hóa”…

Nhà thơ Ngô Đức Hành (bìa trái) và Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai Nhà thơ Ngô Đức Hành (bìa trái) và Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (bìa phải).

Điều này, thêm lần nữa được Phùng Văn Khai thổ lộ chân thành ở đề từ trước một số bài thơ về những chủ đề lớn. Ở bài “Thành Cổ Loa”, ông viết: “Khi viết tiểu thuyết lịch sử Ngô Vương và các tiểu thuyết khác, tôi thường xuyên tới Cổ Loa tìm tư liệu, được các cụ thủ từ, thủ đền và các anh chị trong Ban Quản lý di tích tiếp đón rất nhiệt tình. Vài dòng thơ gọi là tri ân vùng đất cổ…”.

Cổ Loa, như mỗi người đều biết, thành cổ này là chứng tích của triều đại An Dương Vương và Ngô Vương. An Dương Vương là vị vua kế tục huyền sử về các Vua Hùng, người sáng lập và cai trị duy nhất của nước Âu Lạc. Nếu như căn cứ vào Sử ký Tư Mã Thiên là bộ chính sử rất gần thời đại nước Âu Lạc, thì An Dương Vương và nước Âu Lạc tồn tại từ khoảng 208 TCN đến 179 TCN, tức là gần 30 năm. Thế nhưng, An Dương Vương đã thất bại trong cuộc chiến chống quân Nam Việt vào năm 179 TCN và phải tự sát.

Chương trình ra mắt tập thơ "Thơ viết cho mình" của Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai diễn ra vào ngày 09.05.2026 tại Phòng Nghệ thuật 05.Chương trình ra mắt tập thơ “Thơ viết cho mình” của Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai diễn ra vào ngày 09.05.2026 tại Phòng Nghệ thuật 05.

Về nguyên nhân của sự “sụp đổ” triều đại Âu Lạc, hẳn là người Việt Nam ai cũng thuộc bốn câu thơ của Tố Hữu: “Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu / Trái tim lầm chỗ để trên đầu / Nỏ thần vô ý trao tay giặc / Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu…”, (Tâm sự).

Lẫy nỏ oan khiên phận thiếp – chàng / Ngai vàng gãy đổ nước tan hoang / Gươm báu đứt lìa tình phụ tử / Thân trai ngậm ngọc lệ đôi hàng », Phùng Văn Khai thi ca hóa một bi kịch lịch sử.

Sau này, tiếp nối truyền thống Âu Lạc, vào năm 939 sau Chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền (898 – 944) đã chọn Cổ Loa làm kinh đô. Quyết định chọn Cổ Loa làm kinh đô của Ngô vương không chỉ là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Việt Nam mà còn là biểu tượng cho tinh thần yêu nước và khát vọng độc lập của dân tộc. Sự kiện này mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước. Việt Nam xuất hiện với tư cách một quốc gia tự chủ, thoát khỏi 1.000 năm Bắc thuộc.

Chương trình ra mắt tập thơ "Thơ viết cho mình" của Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai diễn ra vào ngày 09.05.2026 tại Phòng Nghệ thuật 05. -h2Thời gian và địa điểm diễn ra vào thứ Bảy, ngày 09.05.2026 tại Phòng Nghệ thuật 65, số 65 Nguyễn Du, Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Ngô Quyền là người đặt nền móng cho nhà nước quân chủ đầu tiên tại Việt Nam. Ông được xem là một Anh hùng dân tộc, vị “Tổ trung hưng” của đất nước, được tôn vinh là một trong mười bốn anh hùng dân tộc tiêu biểu của Việt Nam.

Đằng giang chiến cổ vang hiển hách / Kinh đô bình dị Cổ Loa thành / Ngô Vương định quốc nghìn năm trước / Còn nguyên vóc nước buổi bình minh », (Thành Cổ Loa, thơ Phùng Văn Khai).

Nói đến Ngô Quyền, Phùng Hưng là nhắc đến Đường Lâm. «Với riêng tôi, đất Đường Lâm còn vô cùng thân thuộc trong vẻ đẹp của đình, đền, chùa, miếu mỗi buổi hậu duệ họ Phùng tới dâng hương đức vua Phùng Hưng và tổ chức các buổi lễ trọng ở đây. Tôi đã viết hai cuốn tiểu thuyết lịch sử Phùng Vương và Ngô Vương trong đó đất Đường Lâm đã trở thành linh hồn của các vị vua khai quốc », nhà văn Phùng Văn Khai tâm sự.

Đơn vị tổ chức: Chương trình do Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Viện Nhân học Văn hóa và Trường Viết văn Nguyễn Du (khóa 6) phối hợp tổ chức.Đơn vị tổ chức: Chương trình do Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Viện Nhân học Văn hóa và Trường Viết văn Nguyễn Du (khóa 6) phối hợp tổ chức.

«Đá ong trầm mặc nghìn năm / Rừng cây cổ thụ nghiêng nằm phơi sương / Thung xanh phảng phất hơi gươm / Phùng Vương định quốc, Ngô Vương khải hoàn”, (Đường Lâm, thơ Phùng Văn Khai).

Cuộc sống là cánh đồng màu mở để cho thơ bén rễ sinh sôi, (Puskin); và thơ chỉ bật ra trong tim ta khi cuộc sống đã tràn đầy (Tố Hữu). Phùng Văn Khai là người đam mê cuộc sống, mang nặng ân nghĩa cuộc sống. Phải là người yêu lịch sử, tự hào với truyền thống lịch sử Việt Nam, văn hiến Việt Nam, ông mới lăn lộn tìm hiểu, say mê sáng tạo. Nói cách khác, ký ức dân tộc đối với Phùng Văn Khai đã trở thành “dư địa” của sáng tạo.

PVK-1 PVK-2Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (mặc quân phục).

Dường như ở mỗi thành quách, đền đài, cổ tự…trên khắp đất nước, mỗi khi đặt chân đến, Phùng Văn Khai đều có cảm xúc đặc biệt. Thơ là sự thể hiện tình cảm cá nhân một cách mãnh liệt, nhưng có ý thức. Ông làm thơ về chùa Cổ Pháp – nơi Lý Bí, tức Lý Nam Đế xuất gia tu Phật từ khi sáu tuổi; Phủ Trịnh – Trịnh vương, một vương tộc phong kiến, bắt đầu từ Trịnh Kiểm, kiểm soát quyền lực lãnh thổ Đàng Ngoài trong suốt thời kỳ Lê Trung hưng. Phùng Văn Khai còn có bài thơ về nghè Vẹt – nằm trong quần thể Khu Di tích Phủ Trịnh tại thôn Đoài, xã Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, hành cung Cổ Bi- – một di tích Văn hóa – lịch sử rất quan trọng trong thời Lê – Trịnh do An Đô vương Trịnh Cương xây dựng.

Nói về thời đại Vua Lê – Chúa Trịnh, hẳn người Việt Nam đều nhớ, đây là giai đoạn lịch sử đặc biệt của chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam. Về danh nghĩa thì Chúa Trịnh là bề tôi của nhà Lê (họ chỉ xưng tước “vương“, vẫn dùng niên hiệu và nhận sắc phong, chiếu chỉ từ hoàng đế nhà Lê); tuy nhiên thực tế thì vua Lê không có thực quyền, việc cai trị chủ yếu do chúa Trịnh thực hiện. Bộ máy triều đình lúc này hoạt động theo thể chế lưỡng đầu. Tổng cộng có 13 đời chúa Trịnh chính thức (nếu tính cả Trịnh Kiểm và Trịnh Cối), cai quản xứ Đàng Ngoài trong vòng hơn 2 thế kỷ.

«Sông nói gì nước xanh dòng chảy / Núi nói gì cây bóng canh khuya / Công tích Trịnh Vương lưu sử sách / Trong tiếng chuông đêm vẫn vọng về », (Phủ Trịnh, thơ Phùng Văn Khai).

Trịnh chúa dốc lòng xây vương nghiệp / Huân công còn sáng dưới sao trời / Cổ Bi ấm vững cây xanh đất / Mấy trăm năm còn nhớ ơn Người”, (Hành cung Cổ Bi, thơ Phùng Văn Khai).

Về lịch sử văn hóa, Phùng Văn Khai viết về Văn Miếu, cầu Long Biên, Cột cờ Hà Nội (Hà Nội) ; Phố Hiến, vườn tượng chùa Nôm (ở Hưng Yên), vườn cảnh chùa Gia Thượng….Đọc thơ Phùng Văn Khai cho thấy, ông đã có những đóng góp trong việc thi ca hóa lịch sử, truyền thống dựng nước và giữ nước, văn hóa nói chung, văn hiến Việt Nam nói riêng.

PVK-3 PVK-3

Phùng Văn Khai, có nhiều cảm hứng thi ca và chính thơ ca chính là “chìa khóa” giúp anh “giải mã” những giấc mơ ấy, ít nhất của riêng ông. Đó là giấc mơ “Dân ta phải biết sử ta cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”, (Hồ Chí Minh); đó cũng là thành tố tạo nên “sức mạnh mềm” trong kỷ nguyên mới của dân tộc.

*

**

Thơ viết cho mình được viết khá thoải mái, tự nhiên, luôn rất dễ dàng, được viết tay toàn bộ trên những tờ lịch cũ, cứ thế chuyển đi bạn hữu thân quen thẩm định”, nhà thơ, nhà văn Phùng Văn Khai chia sẻ trong lời giới thiệu.

Đối với cá nhân tôi, Thơ viết cho mình trước hết là giải phóng và thỏa mãn chính mình. Tôi luôn chủ trương mỗi bài thơ phải được kể ra như một câu chuyện, hội tụ từ nhiều câu chuyện, đan cài vào nhau, bổ sung cho nhau, góp phần làm giàu trí tuệ và tâm hồn của chúng ta trong cuộc sống”, (Phùng Văn Khai: Lời giới thiệu).

Nhà thơ Tố Hữu từng nói: “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn con người trước cuộc đời”. Đọc Thơ viết cho mình của Phùng Văn Khai, nhận ra tiếng nói “hồn nhiên” của tâm hồn ông.

Phùng Văn Khai là người sinh ra từ làng, có tuổi thơ lấm láp. Ông không chỉ viết về sự dài rộng của cả không gian và thời gian mà còn viết về những ký ức làng quê. Đó là nơi “Nắng cứ vàng phơi cần chi nói / Gió cứ xanh lên dọc triền sông / Con thuyền nhỏ tròng trành vượt sóng / Mây ở trên trời mây trắng bông”, (Lời người mẹ đơn thân, thơ Phùng Văn Khai). “Lời một người mẹ đơn thân” và “Lời người sau song sắt”…còn cho thấy, Phùng Văn Khai là một người giàu trắc ẩn, Thơ viết cho mình nhưng còn là sự sẻ chia thân phận.

PVK-5

Ta biệt xa làng sao dễ thế? / Vì mưu sinh? Sự nghiệp chân trời? / Cho đến bây giờ ta mới biết / Đời người như giấc mộng mà thôi!”, (Từ cánh đồng làng, thơ Phùng Văn Khai).

Ở tuổi không còn trẻ, vân vi cuộc đời, ông nhận ra sự vô thường. Chính vì thế, trong Thơ viết cho mình, trong bao nỗi chung riêng, có vẻ đẹp mỹ cảm giàu Phật tính./.

Hà Nội, ngày 29/4/2026

N.Đ.H

 

 

     


     

Bài trướcĐà Nẵng lọt top điểm đến đáng trải nghiệm nhất châu Á dịp hè
Bài tiếp theoThủ tướng Lê Minh Hưng dự Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây