Đêm mùa đông. Dãy phòng thí nghiệm tối như hũ nút bỗng vang lên những tiếng lào xào, như là tiếng một cậu bé: “Bạn muốn một nơi nào đó bình yên à?” Im lặng mấy giây, tiếng một cô bé vang lên: “Ừ mình muốn trở về dòng sông, ngày xưa mình ở đấy, mình rất thích sông”. Lại tiếng lào xào: “Còn mười bảy phút nữa mới tới nửa đêm kia mà”. Một tiếng khác: “Thôi mình sẽ cùng với bạn đi vào đêm mai, ngoài trời lạnh lắm, chúng ta bị cảm hết thôi”. Tiếng cô bé reo lên: “Anh nhớ nhé, nhớ hẹn em ngày mai nhé”. Căn phòng đen đặc, không một chút ánh sáng lọt tới nơi này, căn phòng như chiếc hầm sâu hàng nghìn mét dưới lòng đất, chứa những hàng chai lọ thẳng tắp nằm im lìm đã hàng chục năm nay, trong đó là những đứa trẻ, đứa đứng, đứa ngồi, có đứa co quắp, thể hiện những kiểu hình thù kỳ dị mà những đứa trẻ bình thường ngoài đời không làm được, có những đứa díu ba díu bốn vào nhau, có đứa chỉ nhận ra được ở một cái tay, một con mắt, một bàn chân, nhưng lạ lùng, chúng thảy đều có những chiếc cuống rốn dài loằng ngoằng, xoăn tít lại. Người y tá già sống độc thân trực ở đây chăm sóc những đứa bé đã nhiều năm kể rằng hằng đêm vẫn nghe thấy chúng trò chuyện. Người ta chuyển chị sang khoa tâm thần nhưng ông viện trưởng quyết định chị ở lại, chị gần như định cư tại những căn phòng có những chai lọ, trong ấy là những sinh linh, hằng đêm nghe tiếng chuyện trò của chúng. Chị không rời được căn phòng, căn phòng như có một ma lực níu chị lại, chị còn biết đi đâu trong cái thành phố lúc nào cũng như sôi sùng sục, đi rồi ai sẽ tiếp nhận những đứa trẻ kia, ai chăm sóc chúng, ai sẽ cho chúng uống những giọt nước trong vắt thấm đẫm toàn những hóa chất kịch độc, ai sẽ nhẹ nhàng vuốt ve chúng ngủ, ai sẽ lắng nghe tâm tư của chúng, chị đã quyết định rồi, sẽ mãi mãi ở bên chúng. Một tiếng nói cất lên: “Em chưa nói với anh, mẹ em là một người rất đẹp, mẹ em cũng đã mất sau cái ngày ấy”. “Cái ngày gì cơ?”. “Sao ngốc thế, cái ngày chúng mình gặp nhau ở đây ấy, có thế cũng không nghĩ ra, đúng là thiểu năng”. Có tiếng khóc thút thít, lại có tiếng dỗ dành: “Ừ, em xin lỗi, chúng ta là bạn mà”. Chợt có những bước chân di chuyển nhẹ nhàng như lướt qua cửa sổ, có lẽ những đứa nghịch ngợm đã vượt tường đi chơi về, ở đây có đứa rất ham chơi, nhiều khi chúng đi một mạch mấy đêm liền về mang theo bao nhiêu bánh trái, hoa quả, có những đứa đi rồi không nhớ đường về, chúng đã bị lạc ở đâu, người ta đã làm tình làm tội gì chúng một lần nữa? Thường chẳng bao giờ có câu trả lời, chỉ người y tá già nhận ra điều đó, chị lặng lẽ đem những chiếc lọ đã chuyển sang màu xám đi chôn và đánh số thứ tự vào một quyển sổ, quyển sổ ấy cũng đã viết được ngót trăm trang. Một tiếng nói cất lên: “Mình tiễn bạn một đoạn”. “Thôi thôi, cứ mặc tớ, để các bạn kia yên giấc”. Người y tá khẽ thở dài, lại có một sinh linh nào rơi vào vòng khốn cùng của tạo hóa nữa đây, và còn bao nhiêu sinh linh nữa sẽ vướng vào vòng oan nghiệt này, đời người sao lắm những oan khiên và những oan khiên cứ sinh sôi đàn lũ như thế, chúng do người hay do quỷ sinh ra, chúng bắt nguồn và tuôn chảy như sông ư? Đã có dạo người đời ồn lên về những chiếc ang sành đựng những thai nhi đã chết thả bập bềnh chi chít trôi trên một dòng sông, rồi những người đàn bà phát điên, những người đàn ông lặng lẽ rời khỏi làng vì những thị phi ma quỷ, cũng chẳng chính quyền nào ngó ngàng đến và những chiếc ang sành sóng gió dập dồn va nhau vỡ chìm xuống đáy sông, cua cá ở những nơi ấy béo tròn nung núc bày lên trên bàn tiệc sâm banh choáng lộn viên mãn của những người thành danh những tên hợm của vốn nhiều như nấm sau mưa ở xứ này. Lũ trẻ thì ngày một ham chơi, có đêm chị phải dậy mở cửa ba bốn lần, rồi cũng chẳng buồn đóng nữa, rồi thì những cánh cửa có đóng hay không cũng vô ích với chúng và sự xuất hiện của chị cũng chỉ như một ngọn nến nhỏ le lói trong căn phòng hàng trăm thước vuông. Chúng dường như không để ý tới sự có mặt ấy, chỉ khi nào chị giải quyết thanh lọc những đứa mải chơi không về, chúng mới tò mò nhìn vào cuốn sổ đang ngày một chi chít những chữ số nối nhau một cách vô thức.
*
* *
Người y tá già đến bên chiếc lọ đã thâm lại, hôm nay là ngày thứ ba, chị biết thế nhưng vẫn cố chờ đợi, biết đâu chả phải là một cuộc rong chơi mê mải, trẻ con bao giờ chả thế, chúng phải ham chơi chứ, như chị ngày xưa chiến tranh vẫn còn ham chơi, ham chơi đến mức vào tận chiến trường vẫn chưa biết một làn môi con trai, khi ấy chị là cô bé mười bảy tuổi nghịch ngợm, ưa thích chơi trò y sỹ bộ đội. Nơi chị ở là một phố nhỏ có những cậu học trò gầy giơ xương, cao lêu nghêu như thần chết vẫn thường tổ chức những trò nghịch ngợm. Vào chiến trường, cô bé được học cấp tốc một lớp y sĩ. Vốn tợn tạo, sau này xen lẫn cả sự xót thương những tấm thân trẻ trung bị gãy giập, mất khuyết, cũng biết bao nhiêu nước mắt nhưng cũng không ít nụ cười, có những người lính, bây giờ nghĩ lại vẫn còn xấu hổ, muốn cô bé hôn một lần trước khi vĩnh viễn nhắm mắt, cô bé đã bao nhiêu lần làm việc ấy, chiến tranh mà, tại sao người ta giải thích chiến tranh đơn giản thế nhỉ, hàng vạn hàng triệu sinh linh bị cướp đi từ đó có nghe được những lời giải thích ấy không, hay người ta chỉ giải thích điều đó trên bàn hội nghị, trong những toan tính hết sức mơ hồ với những làn môi mấp máy, điều này khi về già chị mới biết. Hình hài trong chiếc lọ đã thâm lại, chị chợt mỉm cười, cậu bé này có ba đầu sáu tay, chắc ngài Tôn Ngộ Không còn mải ngao du sơn thủy, hôm kia, ông giám đốc đã nhắc, chị ạ, chị đem chôn nó đi, tôi đã nhìn thấy mấy ngày rồi, mai kia chúng ta lại đón một đợt mới. Một đợt mới? Chị đã đón bao nhiêu đợt như thế không nhớ hết, cũng như đã chôn đi bao nhiêu cái lọ, quyển sổ ghi chép chỉ mang tính đại khái. Ở đời tính đầu người sống chứ ai tính đầu người chết, nhất lại là những sinh linh khác biệt thế này, ai biết đâu mà tính, tính để làm gì, và ai chịu trách nhiệm về những con số, đã bao nhiêu năm nay, không ai kiểm kê con số ấy, con số mỗi lúc một tăng lên, trong khi mỗi lúc chị một già đi, có những lúc cũng muốn tìm người giao lại công việc của mình nhưng không ai nhận, họ viện dẫn đủ mọi lý do, tìm đủ mọi cách kể cả việc khai man tuổi của chị. Người đời lạ lùng thế nhỉ, khai giảm tuổi cho tôi ích gì, trong khi tôi mỗi ngày một già đi, trong khi tôi nhìn các cô các cậu ấy cũng mờ mịt lắm, có những cô cậu ở với tôi lâu ngày còn dễ nhận diện chứ mỗi khi có đợt mới về là cứ rối tinh cả lên, sao mà nhiều thế, sao đông đúc vậy, thành phố thì ngày một chật chội, ngay cả khoảnh đất dành cho các cô các cậu cũng cứ vãn dần, rồi mai kia biết để các con ở đâu, ôi các con, hãy tha thứ cho mẹ, cho bà, cao xanh ơi, hãy dang rộng cánh tay đón các con tôi. Cứ miên man như thế, chị ôm chiếc lọ vào lòng, tuổi tác đã khiến chị thấm mệt, chị ngồi xuống chiếc ghế gỗ ở góc phòng để nghỉ, một mùi rất khó chịu xộc đến, chị rúm người chực ngã xuống, tay vẫn cố ôm chiếc lọ thủy tinh, sáu cặp mắt, sáu bàn tay trong lọ như cười cợt, ôi người bà tội nghiệp, cháu đã đi chơi rồi bà còn tìm về làm gì nữa, cháu đi xa lắm rồi bà không tìm thấy được đâu. Người đàn bà cố gượng dậy ôm chiếc lọ sóng sánh đi về cuối dãy hành lang nhỏ hẹp lòa xòa những tán cây đón vẫy. Khu vườn hiện ra, những ngôi mộ nhỏ xíu được đánh số thứ tự càng lúc trắng dợn lên, những âm thanh u i phát ra từ dưới lòng đất. Người y tá âm thầm tiến về phía một khoảng trống, đặt chiếc lọ xuống, bước mấy bước về góc đựng dụng cụ lấy ra cái xẻng hí hoáy đào một cái hốc nhỏ. Hôm nay sức chị như kiệt nên tiến độ công việc diễn ra rất chậm. Mình đã đào bao nhiêu cái hốc và sẽ đào bao nhiêu cái nữa, chị ngưng tay xẻng quệt giọt mồ hôi già nua hay nước mắt nữa cũng không biết trên hốc mắt ngồi thở dốc, bên cạnh chiếc lọ im lặng như một báu vật, giờ đây đối với chị nó là báu vật hay là tai ách? Có những câu hỏi không dễ trả lời, thậm chí chúng ta, dù khôn ngoan đến mấy cũng vĩnh viễn không trả lời được. Chiếc lọ dường như cũng thông cảm với chị, nó như thầm nói, mẹ ơi, mẹ đang chôn xuống đất những hạt dẻ, ba hạt dẻ đang nảy mầm, đấy mẹ xem, ở nơi đây đã chẳng trở thành rừng rồi còn gì và mẹ chính là cô tiên trong khu rừng cổ tích của chúng con. Người đàn bà lặng lẽ cầm chiếc xẻng, hôm nay nó trở nên nặng nhọc và quá sức với chị, hay là mọi thứ đang kết thúc? Không con cái, không người thân, rời đạn bom chị gắn chặt với căn phòng này, cũng đã được ba mươi năm gì đó. Thế là ta cũng đã già, tuổi già chẳng bao giờ đợi chờ ai cả, nó cứ xồng xộc kéo đến như một lẽ tự nhiên, ôi tuổi già, tuổi của những hãi sợ mùa nóng lạnh, sự ẩm ướt và giá buốt, ta nào khác gì các con, ta cũng chỉ ước mai kia các con đào cho ta một cái hố, ta cũng sẽ chui vào một cái lọ bè bạn cùng các con, không bè bạn với các con ta biết bè bạn với ai, đời ta như thế là sung sướng mãn nguyện còn hơn chán vạn bè bạn ta ở chiến trường không trở về, hoặc như các con cũng thế, so với các con ta còn hạnh phúc chán ra đấy, phải thế không. Sao mẹ nói đúng thế, một tiếng rì rầm cất lên, nếu có một cuộc chiến tranh nữa chúng con sẽ bầu mẹ làm thủ trưởng của chúng con, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng. Chiến thắng, ừ chiến thắng quá đi chứ, nhưng hãy để ta làm công việc của mình, hãy động viên ta có thêm chút sức lực để làm trọn phận sự, phận sự của ta là để các con quây quần bên nhau, các bạn con nữa, họ đang đến, đang có đợt mới, những rong chơi dường như ngày càng ngắn lại thì phải. Lại một tiếng rì rào, mẹ ơi mẹ đừng chết nhé, nếu mẹ chết, ai sẽ tập hợp chúng con thành đội hình, chúng con không nhớ được hàng lối của mình đâu, nhiều bạn không có trí nhớ, nhiều bạn không biết đi, không biết khóc, cả vệ sinh nữa, không có mẹ chúng con sẽ sống như thế nào đây. Sống thế nào đây ư? Chà chà, câu hỏi này khó đấy, cuộc sống tự nó đi theo chiều hướng của mình, các con cũng chả nên biết nhiều làm gì. Người đàn bà xúc những xẻng đất một cách nặng nhọc, mấy con chim ở đâu sà xuống ngó nghiêng nhìn chiếc lọ, ngài Tôn Ngộ Không ở trong giương sáu cặp mắt nhìn lũ chim như thắc mắc một điều gì, rồi chúng nhìn người đàn bà đối với chúng cũng chỉ như một sinh vật đã quen thuộc ở khu vườn này, thỉnh thoảng chúng lại thấy bà đến đào lên lấp xuống một vật gì đó, đối với loài chim, tư duy về cái chết thật đơn giản. Cái hố đã gần xong, chị sửa sang nó như sửa sang một căn nhà bé nhỏ, cho một công cuộc cư trú lâu ngày, việc làm đã thành thạo lắm, thành thạo đến mức đang suy nghĩ vẫn chẳng sai một động tác nào. Chị xoay người bê chiếc lọ, những hạt dẻ khổng lồ, thận trọng đặt xuống đáy hố, lẩm bẩm điều gì đó. Một nghi thức chăng? Một cầu nguyện chăng? Một lời thề chăng? Một lời hứa? Hay một vĩnh quyết? Thời gian như trôi chậm hơn, có những lúc tưởng chừng đông đặc lại. Những xẻng đất đầu tiên bao giờ cũng có những giọt nước mắt, lũ chim nhảy lách chách xung quanh, chúng dường như cũng rất quen thuộc với công việc này, công việc đã diễn ra nhiều năm ở khu vườn. Đám đất được vun lên nhỏ xinh như một chiếc nấm, trên đó có số thẻ theo quy định. Gió hân hoan thổi giỡn đàn chim nhảy chuyền đùa nghịch trên những tán cây, ánh nắng ban mai đậm dần sau vòm lá. Mọi thứ ở nơi đây thanh sạch đến lạ lùng.
*
* *
Người y tá già lặng im như tự đánh giá thành quả lao động của mình, một nấm mộ nhỏ, rồi mai đây cỏ sẽ xanh thôi, cỏ ngàn đời vẫn thế, vẫn ủ ấm và công bằng với tất thảy, mặc những giẫm đạp, đúng sai của con người. Chị cảm thấy mệt mỏi sau mỗi một kết thúc, chị uể oải đi về căn phòng nhỏ dành riêng cho mình, nơi nối thông với dãy nhà của các cô bé cậu bé ngồi xuống chiếc ghế gỗ cũ kỹ. Có một tiếng động nhỏ, không cần quay lại chị cũng biết người viện trưởng đến sát bên mình, đặt vào tay chị cốc nước ấm. Nhấp ngụm nước, chị nghe tiếng người viện trưởng thì thầm: Cảm ơn chị, tôi vừa ký quyết định tăng lương cho chị. Cảm ơn ư, tăng lương ư, tại sao lại nói chuyện tăng lương cho tôi vào lúc này. Anh không thấy tôi đang khó ở ư, chúng ta phải nói chuyện khác chứ. Người đàn ông nhìn chị như động viên, khích lệ, thì tôi còn biết làm gì khác, chúng ta có ngăn chặn được nó đâu, chị không thấy tôi cũng đã già và mệt mỏi lắm sao, chúng ta đã cố hết sức không có tôi và chị và một số người nữa chắc chắn người ta đã xóa đi việc này rồi, xóa như một dấu vết ấy mà, xóa như xóa một vết bẩn của đứa trẻ nghịch ngợm. Chị quắc mắt nhìn người thủ trưởng của mình rồi từ từ dịu xuống. Ừ, có việc gì mà các anh không làm được, có việc gì người ta không dám làm, tôi chỉ xin các anh một đặc ân, khi tôi chết, các anh hãy hỏa thiêu rắc tro vào khu vườn ấy, tôi không rời chúng nó được, còn sau đó các anh muốn làm gì thì tùy. Chị mắng tôi ư, người đàn ông vẫn kiên nhẫn, mắng tôi thì có ích cho lũ trẻ ư, nếu được như thế thì còn gì bằng, chị cứ mắng nữa đi, dù tôi không có lỗi gì cả, tôi sao lại có lỗi trong việc này được, tôi cũng như chị, nhỏ bé biết bao nhiêu, không, tôi còn đớn hèn hơn chị, tôi không sống được cuộc sống như chị, chị là một anh hùng. Người đàn bà cười chua chát, ôi giời ơi, ở xứ ta ai chẳng anh hùng, các anh hào phóng hay ti tiện với tôi đều giống nhau cả, điều tôi cần các anh có hiểu đâu, hoặc hiểu mà các anh im lặng, im lặng như đã từng im lặng, tôi chỉ thương những đứa trẻ, nghề nghiệp chuyên môn anh biết đấy, những đứa trẻ, anh ơi chúng là con người đấy, các anh phải kêu lên đi chứ, các anh phải làm một điều gì chứ, chẳng lẽ chúng ta không phải con người? Một im lặng mông mênh đáp lời chị, người viện trưởng già đã lẫn hút về phía hành lang, không một ai trả lời câu hỏi của chị, ông biết mọi an ủi chỉ là vô ích, nhưng ông luôn đứng về phía chị, có những sự thực, chỉ có thể mãi đào sâu chôn chặt dưới đáy mồ. Người viện trưởng chậm chạm đi về phía đầu nhà bên kia, nơi căn phòng nhỏ ông đã ở đó hai mươi năm. Ông muốn một mình suy nghĩ thêm về một số điều. Một người làm khoa học thuần túy như ông, mọi thứ ngoài khoa học luôn là những thách thức khó vượt qua. Ngay từ những ngày đầu, khi phòng thí nghiệm được gây dựng, bằng vào những kết quả đầu tiên, ông đã nhận thức vấn đề là rất lớn, động chạm đến rất nhiều thứ, có những thứ nhạy cảm và nằm ngoài rất xa tầm kiểm soát của viện. Ông đã nhiều lần tâm sự với chị những day dứt của mình. Những lúc ấy, chị thường im lặng. Từng trở về từ những khu rừng chết, với hiểu biết chuyên môn của mình, ông biết chị rất đớn đau. Đớn đau mà chỉ biết im lặng. Chính điều này khiến ông dằn và ngẫm ngợi nhất về người cộng sự của mình. Khi người viện trưởng rời phòng chị, chị lặng lẽ nhìn theo cái bóng đơn độc của ông. Chị ngồi xuống chiếc ghế gỗ đặt ở góc phòng. Phải mất một lúc lâu, khi tĩnh tâm trở lại, chị bước về những cái lọ, những dãy hàng lối thẳng tắp được đánh số thứ tự, chị nhìn chúng lòng không cảm giác gì, không thất vọng không hy vọng, lòng trống rỗng như một lỗ thủng không đáy, chị như rơi xuống tầng địa ngục sâu nhất, mọi thứ cứ lơ lửng chân không, như định mệnh. Những đứa trẻ hôm nay tuyệt đối im lặng, chúng tôn trọng những im lặng của chị, hay chúng đồng loạt ngủ quên, hay chúng vĩnh viễn rời xa chị. Chị rùng mình khi nghĩ đến điều này, khi không có chúng, chắc chắn cuộc sống của chị sẽ kết thúc.
*
* *
Mấy hôm nay, người y tá già cảm thấy trong người luôn khó ở. Đêm đêm lặng nhìn các cô các cậu thoát ra khỏi những chai lọ, ngôi nhà vĩnh cửu của mình (kể cả khi các cô các cậu ấy sang một thế giới khác) thì nó vẫn là những ngôi nhà ấm cúng và thân thuộc. Kể từ hôm ngài Tôn Ngộ Không đi làm bạn với khu vườn, các cô các cậu ấy như buồn hẳn. Những người bạn mới đến mỗi người đều mang theo những tuyệt kỹ của mình, từ hình hài, nơi sinh, hành trình chiến tích của phụ mẫu, mỗi người mỗi khác, mỗi cảnh mỗi éo le đã như giáng xuống những đòn liên tiếp vào chị. Cứ đà này, không biết chị sẽ còn trụ được bao nhiêu lâu nữa. Rồi các cô các cậu ấy cũng sẽ biết cách tự lo liệu, chị tự nhủ, không có mình, không có cái phòng thí nghiệm này người ta quẳng ùm đi cái thế là xong, như không ít những chứng kiến của chị, một người đơn giản nhất cũng có thể hình dung được điều đó, họ đào một cái hố ở gốc cây, ở triền sông triền đồi nào đó, một hang đá, một dòng suối, thậm chí một thùng rác, một cái túi ni lông, họ đã và đang làm như thế, và sẽ như thế, một kết thúc trong im lặng, để rồi tiếp tục những kết thúc trong im lặng khác. Đã một dạo điều đó luôn dằn vặt chị nhưng mãi rồi cảm xúc cũng trơ lì, héo úa, một dòng sông đã dời ra biển, còn đâu tăm tích của mình, một hạt cát đã biến thành ngọc trai nếu còn gì cũng chỉ là một chút tì vết mà chúng muốn xóa đi, mà chúng muốn rũ bỏ. Cũng đã thật lâu, chị không cảm nhận được cái xôn xao của đời sống bên ngoài, đời sống một thời từng ao ước được ngụp lặn trong đó, vùng vẫy và hy vọng như những ngày chị ở trong chiến trường, đào thoát một nỗi đau này, chị lại vướng vào một nỗi đau khác, triền miên, bền bỉ đến vĩnh cửu. Những đứa trẻ mới đến ngơ ngác, từ bóng tối chúng bước ra ánh sáng rồi lại mau chóng bước vào bóng tối. Khoảnh khắc này có khi chỉ diễn ra trong chớp mắt. Nhưng đó lại là khoảnh khắc bước ngoặt nhất, có khi làm thay đổi toàn bộ mọi thứ, thậm chí chấm dứt mọi thứ. Điều này thì lũ trẻ không hiểu. Chúng chưa phải chịu trách nhiệm về điều này. Mà thực ra, người ta phải chịu trách nhiệm ngược lại với chúng mới công bằng. Nhưng lẽ công bằng, đối với sự hiện diện của chúng, ngay từ đầu, đã không có, thậm chí từ trước đó rất lâu cũng đã bị bít lại, từ ngày các đấng sinh thành còn ở trong những cánh rừng. Cũng có những đứa thông minh, hoặc ngờ nghệch nhưng chúng đều thống nhất với nhau một điều rằng, cái khoảng thời gian hạnh phúc nhất, được rong chơi và nghịch ngợm nhiều nhất chính là khoảng thời gian chín tháng ở trong bụng mẹ. Khoảng thời gian ấy là khoảng thời gian vĩnh cửu, chúng sống trong ánh sáng của hạnh phúc, hy vọng và phấp phỏng của rất nhiều người, là một tự hào, một kiêu hãnh, thậm chí một thách thức với bóng tối. Chúng nghe mẹ hát những bài thánh ca, dân ca, cả những nguyện cầu, cả những khấn vái thần linh trời Phật mà chúng không hiểu nhưng luôn biết rằng mình rất quan trọng, đặc biệt trong một ngày mai, trong giờ G. Điều chờ đợi ấy rồi cũng sẽ đến. Lần đầu tiên chúng biết thế nào là động đất. Lần đầu tiên biết thế nào là thế giới con người. Lần đầu tiên biết thế nào là ánh sáng đích thực. Và cũng là lần đầu tiên chúng biết thế nào là bóng tối vĩnh cửu. Nhưng lũ trẻ đã trưởng thành một cách đột ngột, chúng trưởng thành nhanh hơn nhiều cái khoảng thời gian hơn chín tháng kia, trưởng thành như một sự chuyển kiếp mà những đứa trẻ bình thường khác không thể làm được. Chúng có thế giới của riêng mình, một thế giới bình đẳng tuyệt đối, không có nỗi buồn, không có đớn đau và tuyệt vọng, một thế giới của thiên thần. Thế mà cũng có lúc bọn trẻ phải giã biệt cái thế giới thiên thần ấy, chúng sẽ phải sang một thế giới nào đây, người y tá già luôn lo lắng gạn hỏi những thắc mắc đại loại như thế mỗi khi chôn những cái lọ xuống khu vườn. Chúng còn một lần chuyển kiếp nữa không và thế giới sau đó có an lành như thế giới phải đánh đổi bằng toàn bộ ánh sáng ngắn ngủi, thứ ánh sáng mà chúng chưa kịp nhận biết. Những đứa trẻ mới đến hóa ra cũng có những anh em thân thuộc, dây mơ rễ má với nhau, cành trên cành dưới, nội ngoại tộc, thậm chí các tộc người khác nhau cũng đều chung một điểm kết (mà không thể định nghĩa được là khổ đau hay hạnh phúc vì sự xuất hiện vô cùng ngắn ngủi, ngắn hơn một định nghĩa ngắn nhất mà những người bình thường hoặc vĩ nhân nghĩ ra), điểm kết ấy chính là thế giới mới mà chúng đang sống. Người y tá già đờ đẫn nhìn lũ trẻ, chúng sắp hàng trên từng giá, từng ngăn, được ốp vào từng vị trí của mình, được đánh số, được phân công và được (hay phải) thực thi một thí nghiệm nào đó. Thân thể chúng vẫn chưa đủ tàn tích ư, có những lúc chị phẫn uất thốt lên, các người còn định làm gì nữa, các người còn tiếp tục bày ra những trò gì, tại sao không dừng lại khi cái ác còn phôi thai mà lại đẩy cái ác vào phôi thai rồi giở ra những trò hề, chị đã từng thầm kêu lên như thế. Nhưng sức kêu của con người thật vô cùng yếu ớt, nhất là những người như chị, người bước ra từ những khu rừng rồi tự giam mình trong bốn bức tường với ý chí và niềm tin chết tiệt, cái ý chí và niềm tin ấy đang sụp đổ từng ngày. Chị đau đớn, những anh em cháu chắt của những đứa trẻ kia vẫn còn tiếp tục tham gia, lẩn quất trong dòng giống mình, không có gì bền lâu hơn cái ác, không có gì phát triển nhanh, ăn sâu bám rễ, cứng đầu cứng cổ như cái ác, cái ác giống như cỏ chưa diệt chúng đã tự nảy mầm. Chị chợt thảng thốt, cây cỏ kia cũng là cái ác, hay ác và thiện bây giờ đã hòa chung một mối, chúng đã song hành và thương lượng cùng nhau. Những đứa trẻ thì hoặc mải chơi lang bạt hoặc biếng nhác ở trong nhà, chúng nuối tiếc khoảng thời gian vàng ngọc chín tháng kia ư, hỡi những kẻ lười nhác, chúng muốn quên đi khoảng thời gian chín tháng quý báu kia ư, hỡi những đứa mê chơi. Chị chịu không kiểm soát được chúng, chị luôn muốn chúng tự do, chị cũng đã từng có chín tháng như chúng, chín tháng nâng niu, âu yếm, hy vọng, thì thầm, thấp thỏm… tuyệt vời của bậc sinh thành, của họ mạc gia đình, kể cả những người dưng ở đất nước này cũng luôn háo hức đón chờ một đứa bé, kể cả một đứa bé có số phận hẩm hiu như chị, kể cả là những đứa bé có số phận (chị không đủ từ ngữ để định nghĩa) như lũ trẻ ở đây, như những đứa trẻ đồng cảnh ngộ với chúng. Đã có lúc chị mơ ước về một đứa con, thậm chí một đứa con chỉ biết về bóng tối và ánh sáng giống như những người bạn ở đây, chị vẫn sinh ra nó, tại sao chúng ta không dám sinh ra những niềm tin, kể cả là những niềm tin vụt tắt. Biết bao đêm chị dằn vặt đấu tranh vì điều đó, nhưng bây giờ thì đã muộn rồi, một niềm tin vụt tắt chị cũng không sinh ra được nữa, nó đã quá xa vời, nó đã tuột khỏi tầm tay của chị, chính điều đó khiến chị ngày càng trở nên nhỏ bé và sợ hãi, ngay cả với bản thân mình. Đã biết bao người đàn ông khát thèm rồi lặng lẽ rời xa chị, rời trong những suy nghĩ tôn trọng (hay khinh khi thì cũng thế thôi), càng tuổi tác, chị càng bàng hoàng nhận ra một điều, những đàn ông cố gắng rời xa chị là những kẻ ích kỷ, hèn nhát, đàn ông phải cướp đoạt, mưu mô và thoán nghịch, đó mới là người đàn ông của chị. Chị đã từng chờ đợi người ấy nhưng không hiểu vì lý do gì người ấy không xuất hiện, những tên hèn nhát sao quá nhiều mà người anh hùng chỉ có một, thậm chí với chị là không có. Bây giờ chị vẫn là con gái, thật nực cười, con gái mà có hàng trăm hàng ngàn đứa con, bàn tay chị cũng đã mai táng cho hàng trăm đứa con, ôi những đứa con ngoan, những đứa con ngoan không hề biết người mẹ của nó vẫn còn đồng trinh, vẫn còn là con gái, một bí mật hay một nỗi đau, một tự hào hay một nhục nhã, bỡn cợt giày vò chị, còn bỡn cợt và tiếp tục giày vò đến bao giờ? Những sợi tóc trắng dần trên đầu chị, có khi chúng đổ ra những giọt mồ hôi âm thầm như nước mắt khóc những ngày còn xanh, khóc những thoáng chênh chao cách đây ba mươi, hai mươi, mười, rồi năm năm trước, rồi chúng khóc từng tháng, rồi chúng khóc từng ngày, rồi đến bao giờ đây khóc những suy nghĩ trong trí não mà chúng luôn coi là khu rừng che chở. Bao nhiêu tóc bạc tóc xanh đã rời khỏi khu rừng luôn không yên ổn ấy và bao nhiêu tóc bạc tóc xanh nữa sẽ rủ nhau ra đi trước những dằn vặt của chủ nhân, nếu được quyền phán quyết, chính kiến của chúng liệu có làm lung lay chị, liệu có làm chị hạ bớt cái tiêu chí anh hùng vớ vẩn mà chị hằng đặt ra không. Cuộc sống nhiều khi ăn nhau ở chỗ chỉ cần ừ ào, chỉ ừ ào mới đem đến hạnh phúc, kể cả là hạnh phúc trong chớp mắt?
*
* *
Trong đêm đen, người y tá già ngồi co ro trên chiếc ghế gỗ cũ kỹ, những đứa trẻ dạo này biếng nhác lầm lì ít nói, chúng đã linh cảm sự ngắn ngủi trong kiếp sống của chúng? Chúng sợ hãi sự luân chuyển và bất bình trước những hẩm hiu? Thế giới của chúng, một thế giới khác thường với những đặc thù khác biệt đã sớm cho chúng những nhận thức mới về lẽ công bằng, nghĩa vụ và hoạt động của mỗi cá nhân trong cộng đồng ấy. Những đợt mới về nhiều hơn, những đứa bé rời khỏi phòng thí nghiệm chuyển sang một thế giới khác cũng nhiều hơn. Có hôm, chị phải làm ba bốn bận, khu vườn bây giờ chi chít những nấm mộ nhỏ. Bầy chim vẫn lách rách bên chị mỗi khi chị làm công việc đó. Buổi chiều qua, chị đã phải vừa làm vừa nghỉ mấy bận, cái cơ thể đang báo hiệu tuổi tác của chị đã phản lại những suy nghĩ về công việc của chị. Chị muốn mỗi căn nhà của bọn trẻ phải thật giống nhau, từ kích cỡ đến thẩm mỹ đều phải như nhau. Chị không muốn đứa nào bị thiệt thòi, dù là thiệt thòi xuất phát từ nguyên nhân cái sức tàn của chị. Đêm yên lặng đến vô cùng, những đứa bé nằm thiếp giấc trong từng dãy chai lọ xếp hàng trật tự trong bóng tối nhờ nhờ. Buổi chiều, ông viện trưởng đến căn phòng, ông lặng lẽ như một cái bóng lướt nhìn từng dãy chai lọ rồi khẽ thở dài. Chị lặng lẽ đứng đằng sau người thủ trưởng, hai người như hai cái bóng song song hắt lên tường những suy nghĩ mà chị biết nếu nói ra nó cũng lại là những an ủi suông, nhạt nhẽo và vô bổ. Một lúc lâu, ông viện trưởng bảo, sang năm tôi nghỉ, khu phòng này có khi người ta dẹp bỏ, chị tính sao? Tính sao ư? Việc này là do các anh chứ, tôi biết thế nào và có quyết định được gì đâu, chẳng qua tôi chỉ trông nom chúng, anh chả đã phân công nhiệm vụ ấy cho tôi là gì. Chị như trách người đàn ông, người thủ trưởng bao nhiêu năm nay chị hằng kính trọng, một người bước từ trong rừng ra với những đam mê khoa học, đam mê đến quên luôn cuộc đời riêng tư của mình. Bây giờ thì ông cũng đã già, thậm chí già hơn chị, ông nói thế tức là có ý thu xếp cho chị nghỉ ngơi khi còn đang tại nhiệm, như thế ít ra trong quyền hạn của mình, ông có thể giúp được chị dù biết thực ra chị cũng chẳng cần gì. Một người làm khoa học như ông luôn vụng về, nhiều lúc chẳng biết cấp dưới của mình muốn gì, đã quá đớn đau, con người ta nhiều khi mụ mẫm không kiểm soát được hành vi và suy nghĩ của mình. Chị lặng nhìn ông, một đời lao tâm lao lực để rồi khi kết thúc, cũng chẳng biết chắc chắn những người kế nhiệm có sử dụng thành quả lao động của mình không. Ở chuyên ngành của ông, mọi thứ đều là có thể, những điều xảy ra thật khó đoán, nhưng tâm huyết của ông, công việc của ông, tấm lòng ông đối với căn phòng này thì đã quá rõ, nó gần như là niềm tin và lẽ sống của ông, cũng là của chị nữa. Ông sẽ rút khỏi nơi đây ư? Một câu hỏi nhói lên trong chị. Vẫn biết không thể giữ mãi một điều gì nhưng sao cái điều ấy ập đến vẫn như hất chị vào một khoảng trống, một trống rỗng rợn ngợp mà chị đang ngụp lặn trong ấy. Chị nhìn ông như dò hỏi, còn lũ trẻ, người ta sẽ đối xử tốt với chúng chứ, còn khu vườn, anh có cam đoan là họ không phá đi không. Người đàn ông lúc lắc mái đầu bạc trắng không thốt ra lời, ông chẳng thể nào cam đoan với chị, ông là người làm khoa học, những khốc liệt khác trong cuộc sống ông không biết, ông không có kinh nghiệm, nhưng linh tính của một nhà khoa học chân chính đã mách bảo ông rồi đây mọi thứ sẽ đảo lộn, chẳng thể có một trật tự nào, bảo lãnh nào cho những đứa bé đâu, chúng có là gì trong mưu sinh hối hả, trong lợi ích của một nhóm người, họ thiểu số nhưng đầy quyền lực. Ông an ủi chị, chị ạ, hãy cứ biết như thế đã, chúng ta già rồi, mà công việc thì, chị biết đấy, mãi nó vẫn chưa kết thúc, hình như càng ngày càng phức tạp hơn thì phải, tôi và chị, chúng ta đã sức cùng lực kiệt rồi. Tôi và chị. Cũng không riêng gì tôi và chị đâu, chúng ta chẳng là gì trong đời sống đang chuyển động. Dường như đã có sai sót ở đâu đó, nghiêm trọng lắm. Nhưng nó nằm ngoài khả năng tư duy, kiểm soát của tôi, của chị. Chúng ta đã sai ở đâu đó? Việc này mơ hồ lắm. Chỉ là biết thế với nhau thôi, tôi cũng chỉ mơ hồ biết thế thôi. Ngay như khoa học mà tôi theo đuổi, có là gì với những sinh linh kia. Chúng lớn lao lắm. Chúng đã là toàn bộ cuộc đời tôi, cuộc đời chị còn gì. Còn là toàn bộ cuộc đời của hàng triệu, hàng triệu người khác nữa chứ. Nhưng tôi biết làm thế nào đây. Nó vốn xộc xệch thế, tôi chả biết làm thế nào. Ở cuối con đường, mới thấy nó xa xôi, diệu vợi đến khôn cùng. Tôi có lẽ chỉ còn biết dựa vào chị, dựa vào những gì chị không nói ra, dựa vào những gì tôi đã trải nghiệm cùng chị, mà những điều ấy, sao bây giờ nó mong manh đến vậy. Chị cũng đừng oán trách gì tôi. Những oán trách mà chúng ta viện dẫn với nhau, tốt nhất là hãy cứ im lặng là hơn. Tôi cho rằng chúng ta về cơ bản đã không xoay chuyển được gì, về cơ bản đã thực hiện theo lương tâm của mình, một lương tâm thanh sạch, nhưng than ôi, vô vọng. Điều ấy nhiều lần tôi cũng đã định nói với chị, lại thôi. Vì thực ra ngay cả sự im lặng, chị cũng xứng đáng với điều đó hơn. Lũ trẻ xứng đáng điều đó hơn. Người y tá già im lặng. Chị định nói một điều gì với người viện trưởng lại thôi. Chị biết ông cũng đang phải chịu áp lực từ nhiều phía. Chị không thể bênh vực ông bởi cuộc sống bên ngoài đang có quá nhiều đổi khác. Có thể người ta cần những thứ khác chứ không phải những thứ mà ông và chị theo đuổi. Điều này, ngay từ khi mới hình thành phòng thí nghiệm, chị đã lờ mờ nhận ra.
*
* *
Khu vườn có những nấm mộ nhỏ đã mấy hôm nay không thấy bước chân run rẩy của người y tá già. Những cây cỏ vẫn lặng lẽ mọc, bò rụt rè trên các nấm mộ nhỏ xíu. Lũ chim sâu lích rích sà xuống, đùa nghịch bên những cái biển tên cắm đều tăm tắp. Phía góc vườn, nơi khoang chứa mấy cái xẻng công cụ, mấy hôm nay chúng nằm im lìm, sạch sẽ đến lạnh lẽo. Một chuyện gì bất thường đã xảy ra ư? Người y tá già đã hàng chục năm nay, ngày nối ngày, hôm nào cũng đi vào chăm chút cho khu vườn mộ. Đau yếu thế nào chị cũng gượng đến đó. Chỉ trừ những hôm mưa bão, chị không vào hẳn trong khu vườn nhưng cũng ngồi ngay ở cửa lặng nhìn, như muốn san sẻ với từng chiếc biển tên đang run rẩy trong mưa gió sấm chớp. Đã bốn hôm, khu vườn vắng bóng chị. Điều này chắc chắn phải là một bất thường. Một làn gió lạnh buốt ở đâu chợt thổi đến, những chiếc biển tên như run lên trong gió lạnh. Trời đất mờ dần, mờ dần rồi chập chờn, loáng thoáng ẩn hiện bóng những đứa trẻ. Tiếng lào xào mỗi lúc một rõ hơn. Tiếng rì rầm mỗi lúc một rộ lên. Một đứa bé nói như thắc mắc: “Sao mấy hôm nay không thấy mẹ đến nhỉ”. Tiếng một đứa bé như dò hỏi: “Hay là mẹ bị ốm?” Tiếng một đứa bé khác run run, đầy sợ sệt: “Hay là người ta chuyển mẹ đi đâu rồi?” Tất cả đột nhiên rơi vào thinh lặng. Một luồng gió lạnh buốt ở đâu lại xộc đến. Lũ trẻ lố nhố, vừa xôn xao vừa ngơ ngác nhìn về phía căn phòng đã không còn một chút ánh sáng nào. Hình như đêm đã xuống từ lâu. Những luồng gió lạnh giờ đây cũng không làm lũ trẻ sợ hãi nữa. Chúng xúm vào nhau, bàn tán một điều gì bí mật với vẻ rất cương quyết. Rồi chúng ồn ào lay động hàng lối. Khối chuyển động dần dần chững lại. Không ngờ bọn chúng có thể tạo nên một đội ngũ đông đúc và nghiêm ngắn đến thế. Dường như chúng đã có một quyết định quan trọng không gì có thể lay chuyển. Tiếng một cậu bé, đúng rồi, đúng là tiếng cậu Tôn Ngộ Không ba mắt ngày nào vang lên đĩnh đạc: “Chúng ta hãy vào phòng của mẹ xem sao”. Tất cả im lìm. Sự im lặng như xác quyết điều vừa đặt ra phải được thực hiện ngay lập tức. Đoàn người rùng rùng chuyển động. Chúng nối nhau trật tự di chuyển hàng hàng lớp lớp về phía căn phòng tối om, nơi người mẹ ở để chăm sóc chúng bao nhiêu năm nay, nơi đêm đêm mẹ thì thầm, chuyện trò với chúng. Phía trước, cánh cửa trắng toát đóng im ỉm. Nhưng đối với những thiên thần này, thì mọi cánh cửa chẳng là gì cả. Chúng đã từ lâu đi qua mọi cánh cửa mà không gây ra một tiếng động (điều này chính chúng cũng chẳng ý thức được – chúng đã ở một thế giới khác). Bên trong cánh cửa, căn phòng tối om và lạnh buốt, lạnh hơn nhiều những luồng gió thốc ngoài khu vườn mộ. Trong phòng, mọi thứ vẫn như mọi khi. Các vật dụng sơ sài vẫn nguyên vẹn. Vòng hoa cỏ khô xác im lìm trên chiếc đinh gỗ ngay trên chiếc bàn làm việc cũ kỹ. Trên chiếc ghế kê ở góc phòng, người mẹ ngồi bất động trong bóng tối lạnh lẽo. Một lạnh lẽo bất thường? Lũ trẻ bỗng dừng im sửng sốt, như không tin những gì đang nhìn thấy. Trên chiếc ghế gỗ, người mẹ mắt vẫn mở, khóe miệng hơi hé ra như đang mỉm cười, hai tay bình thản đặt lên chiếc bàn phía trước, bên trên, vòng hoa khô im lặng. Chỉ khác một điều, dấu hiệu nhỏ thôi, người mẹ đã vĩnh viễn không bao giờ còn có thể nói được gì với lũ trẻ nữa.
Lũ trẻ lặng lẽ rút ra khỏi phòng. Chúng trật tự, chậm rãi cúi đầu đi như mặc niệm lần cuối cùng người mẹ yêu quý của chúng. Trên đời này, chúng chỉ biết mỗi người mẹ ấy. Người chở che và chăm sóc chúng, người xây cho chúng những căn nhà nhỏ, vun từng gốc cỏ bò lan man trên căn nhà của chúng. Chúng hiểu từ bây giờ, người mẹ sẽ không đến khu vườn mộ nữa. Cỏ sẽ mọc hoang lan tràn không ai dọn dẹp. Lũ chim sẽ tự do hơn, chúng có thể làm tổ ở đấy. Có thể điều không mong đợi cũng sẽ xảy ra. Theo một mệnh lệnh nào đó, người ta sẽ dọn khu vườn mộ ra khỏi thành phố. Điều này, lũ trẻ từng được người mẹ thầm thì. Người mẹ đã ra sức bảo vệ khu vườn nhưng từ ngày mai, khi mẹ không còn, sự thể sẽ khác đi. Lũ trẻ lục tục vừa đi vừa ngẫm ngợi. Chúng như thấy mất một điều gì rất lớn lao. Chúng như thấy mất phương hướng mà mọi khi, còn người mẹ, chúng không phải suy nghĩ đến. Ngày mai rồi sẽ ra sao đây. Còn bè bạn chúng ở phòng thí nghiệm nữa. Ai sẽ chăm sóc? Ai sẽ làm thay công việc của mẹ khi những đứa trẻ dọn ra ở khu vườn. Biến động này đã xáo trộn toàn bộ mọi dự kiến của chúng.
Khi lũ trẻ vừa rút khỏi phòng, cũng là lúc cánh cửa kẹt mở. Có tiếng bật công tắc điện. Ánh điện vàng vọt hắt những chùm sáng yếu ớt xuống căn phòng ảm đạm. Người viện trưởng xuất hiện. Ánh mắt đờ đẫn của ông lướt một lượt khắp căn phòng. Ông bỗng dang hai tay kêu lên một tiếng nhỏ, tiếng kêu như tiếng nấc nghẹn. Thế là linh tính của ông đã đúng. Mấy ngày nay, ông luôn nóng ruột, mong cho sớm kết thúc một cuộc hội thảo ở phía Nam để trở về. Nhưng ông đã đến muộn mất rồi. Người y tá già, cộng sự của ông đã không kịp từ biệt ông. Chắc chắn nếu ông về kịp, chị sẽ nói với ông điều gì đó. Điều đó chắc phải về những đứa trẻ. Chị chả đã từng nhiều lần nói với ông về bọn chúng đấy thôi. Ông bỗng cảm thấy mỏi mệt và bất lực. Ngay hôm đi vào phương Nam chủ trì cuộc hội thảo, ông đã không từ biệt chị. Ông định kết thúc cuộc hội thảo trở về sẽ nói mọi chuyện với chị. Mặc dù, ông không nói thì chị cũng đã biết. Khả năng họ dẹp bỏ cái phòng thí nghiệm này là điều chắc chắn. Ông chỉ gắng sức để nó được chuyển giao sang một trung tâm khác. Điều đó được làm với toàn bộ uy tín, danh dự và những mối quen biết của ông. Điều này ông đã nói thẳng trong cuộc hội thảo và dường như đã được cấp trên chấp nhận. Điều ông lo nhất là chị, người cộng sự của ông. Ông biết chị đã gắn bó quá sâu với phòng thí nghiệm này. Nó là toàn bộ cuộc sống của chị. Ông hiểu, từ lâu chị đã thuộc về bọn trẻ, thuộc về một thế giới khác, nó khác biệt hoàn toàn thế giới ngoài kia đang hiện hữu. Ông như cái gạch nối giữa chị với bên ngoài. Ông cũng biết, không thể nào tách chị ra khỏi lũ trẻ, nhưng ông không có lựa chọn nào khác. Ông biết, người ta đang tính tới sự dẹp bỏ để làm một điều gì đó. Điều mà ông, có thể, cả chính họ nữa, sẽ không kiểm soát được. Ông lặng lẽ đến bên chị, nhìn thẳng vào khuôn mặt thanh thản của chị. Ừ, mọi thứ như thế có khi lại tốt. Đối với chị, như là lúc này đây hoặc như là những tháng ngày lặng lẽ trước đó nào có khác gì nhau. Có lẽ chị đã tìm được con đường mới cho mình. Con đường mà ông biết, cũng chẳng còn lâu nữa, ông sẽ bước vào, có thể lại đồng hành với chị, có thể ngược chiều, cũng có thể là song song. Chị như nhìn ông, đôi mắt băn khoăn như còn muốn hỏi một điều gì, một điều mà người hỏi biết chắc người phía trước không thể trả lời được. Đôi mắt như phân vân, lưỡng lự và chờ đợi. Ông khẽ thở dài, đưa bàn tay run run vuốt đôi mắt ấy. Thật lạ kỳ, đôi mắt từ từ khép lại. Câu hỏi đã đóng lại. Vĩnh viễn. Phía trên, vòng hoa khô bỗng rơi xuống mấy cánh hoa, khi chạm xuống mặt bàn, chúng vỡ ra thành những vụn nhỏ.




















