Lời bạt thứ hai: Về bộ tiểu thuyết “Vương triều Tiền Lý” [Bài 3] – Tác giả: Phó giáo sư Nguyễn Thanh Tú

Lời bạt thứ hai: Về bộ tiểu thuyết "Vương triều Tiền Lý" [Bài 3] - Tác giả: Phó giáo sư Nguyễn Thanh Tú

Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, nhà văn Nguyễn Thanh Tú.

Lý Đào Lang Vương – Sáng tạo một mô hình lịch sử mới!

Lý thuyết mô hình quan niệm mỗi tác phẩm là một mô hình về đời sống, với tiểu thuyết mới của Phùng Văn Khai rất rõ có một mô hình mới về lịch sử. Cái hạt nhân sự kiện vẫn là lịch sử, nhưng dựa vào đó, nhà tiểu thuyết đã kiến tạo nên một đời sống mới, sinh động, cụ thể. Vẫn là lịch sử nhưng là lịch sử theo một quan niệm mới, một cái nhìn và cách lý giải mới. Lịch sử là sự thật. Kiến tạo là hư cấu. Ngày nay, thế giới thiên về cách hiểu con chim đại bàng tiểu thuyết lịch sử bay trong bầu trời văn hóa bằng hai cánh sự thật và hư cấu đều là nhất tâm hướng bạn đọc về phía mặt trời chân thiện mỹ.

Chọn bối cảnh triều đại Vạn Xuân với các nhân vật chính là Lý Phật Tử, là Lý Đào Lang vương… khi triều Lý Nam Đế vừa sụp đổ, nhà Lương phương Bắc vẫn tiếp tục dã tâm thôn tính, nhà tiểu thuyết đã tự đưa mình vào một thử thách: viết cái gì, thể hiện ý nghĩa gì trong một bối cảnh bi tráng ấy? Đọc xong 16 chương/ hồi của tiểu thuyết, bạn đọc mới thấy nhờ chọn không thời gian nghệ thuật ấy, nhà văn đã thể hiện được cái anh hùng, cái trí tuệ, tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước, ý chí tự cường, lòng khoan dung… của một dân tộc Đại Việt yêu hòa bình, yêu chính nghĩa này.

Có thể khi xây dựng đề cương cho mô hình này những sự kiện lịch sử thời đương đại hắt bóng rồi in vết thành sự kiện cho tiểu thuyết Lý Đào Lang Vương. Rất có thể đó là trận chiến Biên giới 1979 phía Bắc và trận chiến chống lại bè lũ diệt chủng phía Nam. Lịch sử hàng ngàn năm sau như được lặp lại. Đó là cuộc chiến chống lại quân xâm lược nhà Lương ở phía Bắc cùng lúc chống lại bọn gây hấn ở phía Nam là triều đình Lâm Ấp, theo sự hậu thuẫn, o bế, xúi giục, ép buộc của “thiên triều”. Qua tiểu thuyết, chúng ta sẽ thấy có một hồi chuông lịch sử cảnh giác cho hôm nay và cả mai sau: mưu đồ xâm lược thôn tính của kẻ thù xâm lược phương Bắc đã ăn sâu vào máu của chúng, đợi dịp là với muôn ngàn quỷ kế chúng sẽ trở mặt, sẽ liên kết ma quỷ với những kẻ cơ hội, đểu cáng, những kẻ “ăn cháo đái bát” để thực hiện dã tâm.

Bộ tiểu thuyết lịch sử "Vương triều Tiền Lý" của nhà văn Phùng Văn KhaiBộ tiểu thuyết lịch sử “Vương triều Tiền Lý” của nhà văn Phùng Văn Khai.

Với mô hình tiểu thuyết này, nhà văn như muốn một sự khẳng định: với ý chí ấy, tinh thần ấy, trí tuệ ấy thì kẻ thù chắc chắn sẽ thất bại thảm hại!

Tôi xin giới thiệu cái mô hình ấy cũng là cách góp thêm một tiếng nói khẳng định với tác giả: đất nước này yêu hòa bình, khoan dung đến tận độ, yêu thương con người đến tận đáy nhưng cũng sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng đổ máu nếu có kẻ thù xâm lược! Đó là một mô hình về cuộc chiến tranh vệ quốc lịch sử hôm qua của cha ông ta!

Điểm nhấn của tiểu thuyết này là thời điểm một không gian nước Vạn Xuân ngàn cân treo sợi tóc. Quân tướng của vua Lý Nam Đế đang thua trận, tướng giặc nhà Lương là Trần Bá Tiên lập tức xua thêm binh sĩ tiến xuống. Ở phía Nam, Trung lang tướng Lý Thiên Bảo dẫn đại binh ra Bắc cứu giá phò nguy chỉ để lại ít lính già, ngựa yếu cho biệt tướng Lý Phật Tử ở lại giữ thành. Với sự kích động của Đại tướng Bố Đa Ngai cũng là dã tâm của vua Rudravaman, quân Lâm Ấp lăm le vượt dãy Hoành Sơn tiến đánh. Ngoài Bắc, thành Long Biên bị vỡ, các lão tướng Phạm Tu, Triệu Túc, Tinh Thiều tử trận nơi cửa sông Tô Lịch. Quân Vạn Xuân thua tiếp ở hồ Điển Triệt. Vua Lý Nam Đế phải chạy lên vùng rừng núi Khuất Lão… Bọn huyện lệnh, hương trưởng cũ của “thiên triều” nhà Lương cấu kết với các thổ hào, tù trưởng phản động chuẩn bị nổi loạn. Trước tình hình ấy, Lý Phật Tử chỉ còn cách vừa đánh vừa rút dần về vùng rừng Dã Năng tiếp giáp đất Di Lạo. Đồng thời khẩn cấp liên lạc với quân binh Trung lang tướng Lý Thiên Bảo.

Quân Trần Bá Tiên tràn sang truy quét quân binh Lý Nam Đế. Thứ sử Lữ Phạm, Mông Kỳ vốn quen thuộc cai trị nay được dịp thả cửa bóc lột, ức hiếp dân lành. Lữ Phạm lệnh cho binh tướng đốt sạch thuyền bè khiến vùng biển Ái Châu vốn sôi động tấp nập, nay tiêu điều xơ xác. Chúng còn đặt ra thuế muối vô cùng ngặt nghèo. Người làm muối không có muối ăn đến nỗi phải ăn trộm muối bị phát hiện đánh đập rất dã man. Diêm dân chịu không thấu trốn vào rừng sâu quá nửa. Rồi chúng tận thu sản vật ngà voi, sừng tê, trầm hương, gỗ quý… Tám huyện Ái Châu hoang hóa tiêu điều.

Trước tình thế ấy, tài năng của những chủ công Lý Thiên Bảo, chánh tướng Lý Phật Tử, quân sư Triệu Quốc Chính, sư phụ Phùng Hiền Anh… càng được thể hiện rõ. Họ rút quân vào rừng sâu chờ thời kháng chiến, đúng tính chất một cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện.

Một cuộc thao luyện chỉ nhìn từ bên ngoài nhưng cũng thấy sự quyết tâm diệt giặc: “Trên bành voi, trên bốn trăm dũng sĩ đầu quấn khăn vải đỏ, lưng thắt khố màu chàm, ngực trần vạm vỡ, hông đeo mũi lao đồng sáng loáng, miệng hô huầy huầy theo nhịp tiến của tượng binh. Bên ngoài khoảng sân rộng ước chừng vài chục mẫu, hơn hai ngàn dũng sĩ mới được tuyển chọn từ tráng đinh bát tộc, cơ nào đội nấy chỉnh tề, khiên giáp cung tên sáng loáng. Cả cánh rừng bỗng nhiên xao động rộn rã sắc màu”. Họ luyện gươm đao, luyện cung tên giỏi đến mức từ hào nước lên mặt chòi canh phải đến tám chín mươi bước chân mà một người có thể liên tiếp sáu mũi tên bắn gục bốn năm lính canh. Họ thao luyện môn ném pháo vô cùng lợi hại. Những quả pháo đại họ tự chế bằng cách nhồi chặt diêm sinh hỏa hổ có sức công phá lớn rồi trộn loại nhựa cây hắc sơn bám dính nên sẽ là nỗi khiếp sợ của loài ngựa phương Bắc. Khi đối trận kỵ binh, chỉ cần ném thẳng quả pháo đại vào đầu ngựa lập tức dù ngựa chiến lão luyện cũng hoảng hốt tháo lui. Họ là những tráng sĩ luyện rèn có thể diệt được hổ dữ. Tiểu thuyết dành những trang thích đáng miêu tả tráng sĩ Vạn Xuân quần nhau với hổ. Như một bóng hồng nữ nhi nhưng có sức mạnh chinh phục tự nhiên đánh thắng hổ dữ, thì chắc nam dũng sĩ còn hơn thế: “Đứng thế thủ trên mặt đất, người đẹp rút soạt hai mũi lao đồng phóng thẳng về phía cọp trắng… Chỉ thấy chiếc bờm trắng lắc lư chao lượn, tấm thân cuồn cuộn như sóng cứ thế xông thẳng vào địch thủ khiến hai mũi lao đồng bắt trượt mục tiêu lia vào tảng đá phía trước nháng lửa… Hai mắt cọp gườm gườm găm thẳng vào mắt con mồi phía trước. Dường như nó cũng hiểu được kết cục hôm nay chắc chắn phải một mất một còn…”.

Họ có những tướng giỏi sánh ngang với những tướng xâm lược giỏi nhất: “Họ Trần công thủ kín đáo, ngọn trường thương như rồng bay lượn vây bọc đại đao của Ngụy Thần. Hai bên quân lính đã nhiều năm mới được chứng kiến cảnh đấu tướng kinh thiên động địa thảy đều giơ cao gươm giáo la hét vang trời. Đánh thêm vài chục hiệp, hai con ngựa chiến quần thảo nát cả bãi đất trống nơi cửa trận miệng thở hồng hộc bọt mép sủi trắng phau. Phía sau trận pháp mỗi bên đều có tiếng chiêng trống nổi lên ầm ầm, bụi bay mờ mịt”.

Phó giáo sư Nguyễn Thanh Tú (bìa phải) và nhà văn Phùng Văn Khai.Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, nhà văn Nguyễn Thanh Tú (bìa phải) và nhà văn Phùng Văn Khai.

Lượng sức mình, họ liên kết với các tộc người bạn bè vừa để giúp nhau vừa để tăng thêm sức mạnh. Chủ công Lý Thiên Bảo tự cầm binh sang Di Lạo giúp thị tộc Kadai không chỉ giúp họ tránh họa diệt chủng mà còn là cách tạo ra thế chân vạc cùng nhau chống giặc phương Bắc tràn xuống. Rồi cũng chính Lý Thiên Bảo giúp họ trở về đất cũ Dong Chuôm sinh sống. Ngày xưa người Kadai bị quân của quốc vương Xang Muông tàn sát xua đuổi, phải đau xót rời xa di cốt tổ tiên được chôn gửi ở những chum đá… Nay được trở về với tổ tiên là nhờ người Vạn Xuân!

Khi giặc đến, tất cả những gì ở đất nước Vạn Xuân đều có thể là vũ khí. Những con trâu vốn dĩ hiền lành chỉ quen cày bừa nay đột nhiên thành những dũng sĩ: “Từ khắp ba mặt, hàng trăm ngưu binh lừng lững cặp sừng bóng loáng chĩa về phía trước sầm sập ào đến. Trên lưng các ông trâu, hàng trăm dũng sĩ Vạn Xuân mình mặc giáp ngắn, đôi cánh tay vạm vỡ để trần liên tiếp rút ra những ngọn lao đồng phóng vun vút về phía trước khiến đám người ngựa vừa thoát chết kêu rú lên đổ vật xuống bãi sông. Đám bộ tốt của Điền Giáp hoảng hồn co cụm lại sát bờ sông còn đang tuyệt vọng chưa dám cởi giáp nhảy bừa xuống sông bỗng hai phía thượng, hạ nguồn đột ngột kéo đến vô số chiến thuyền vung cần máy bắn đá tới tấp nện thẳng vào đám tàn quân khiến chúng máu thịt bắn tung kêu thét rợn người. Phục binh các mặt kéo đến ngày một đông mặc sức bắn đá, phóng giáo, bắn tên, ném pháo lớn chứa diêm sinh hỏa hổ đốt giết sạch đám tàn quân của Ngụy Thần, Điền Giáp”.

Họ đánh giặc bằng mưu kế, đánh vào lòng tham lam, đánh vào sự huênh hoang tự phụ, đánh vào sự chủ quan tự đắc: “Lão thương nhân vẻ mặt đau đớn bần thần giây lát đứng như trời trồng rồi vội vã giục các phu thuyền chuyển gạo muối, sản vật lên thuyền lớn. Hàng loạt bao gạo, muối trắng lóa lần lượt được đưa lên. Gạo muối đưa tới đâu, binh lính của Chu Phiên xúm vào xếp đặt xuống lòng thuyền. Có tên lính thích chí chọc kiếm vào bao gạo trắng khiến gạo tóa ra ngoài cười sằng sặc như trêu ngươi đám phu thuyền. Khi đám binh lính đang mải mê trước vô vàn gạo muối, sản vật cũng là lúc bốn năm mươi chiếc hòm gỗ lớn được khiêng lên hơn hai chục chiến thuyền. Một loạt pháo lệnh nổ vang, những chiếc hòm gỗ bật tung nắp, vô số mã tấu, đoản đao sáng loáng vung lên chém phầm phập vào binh lính trên thuyền. Từ khắp các thuyền buôn, thuyền chiến lớn nhỏ, ba trăm dũng sĩ Vạn Xuân tung hoành chém giết, đốt phá. Tiếng hò hét loạn xạ, những chiến thuyền bắt lửa cháy rừng rực nóng ran cả mặt sông”.

Họ đánh bằng kế mai phục, lấy ít địch nhiều, lấy cả địa hình địa vật, lấy cả hình sông thế núi làm phương kế chống giặc: “Đoàn chiến mã đang hung hăng lao thốc qua đỉnh đèo Cổ Mã bỗng… ầm… ầm… ầm… đất đá dưới chân đèo sụt toang từng hố lớn rộng vài trượng sâu hoắm khiến đám người ngựa lao thẳng xuống hố sâu. Tiếng ngựa hí vang trời. Tiếng người la hét loạn xạ. Hơn hai mươi chiến mã dẫn đầu là Tả tướng tiền quân Chu Táo bất thình lình đã sa xuống hố sâu. Phía sau, đoàn kỵ binh chiến giáp dồn ứ lại, ai nấy hốt hoảng còn chưa biết chuyện gì đang xảy ra bỗng tứ bề tiếng trống đồng, trống cái ầm ầm vang động, một trận mưa tên sầm sập đổ xuống đám người ngựa đang dồn cứng nơi đỉnh đèo”.

Kẻ địch hung hăng là thế, tự vỗ ngực “binh hùng tướng mạnh” là thế nhưng với dã tâm kẻ cướp đến đất này dứt khoát phải chịu thất bại nhục nhà: “Đã sắp đặt kỹ từ trước, từ hai bên vách đá, cây rừng nơi lũy đèo Cổ Mã, hàng chục máy phóng tên nhất loạt trương cung phóng đi những mũi tên lớn như bắp tay dài tới nửa trượng nhằm thẳng vào đám người ngựa đang dồn ứ trên đèo. Tiếng người kêu khóc như ri. Đám ngựa chiến trúng tên giẫm đạp lên nhau đúng ở đoạn đèo thắt chặt vô cùng khó xoay xở khiến binh tướng càng hoảng loạn”.

Giọng văn miêu tả như reo lên cảm hứng tự hào hòa vào cùng niềm vui chiến thắng!

Họ đánh giặc bằng trí tuệ với mưu sâu kế hiểm, mà với kẻ địch khôn ngoan, sành sỏi, độc ác nhất cũng không thể ngờ tới, nghĩ tới: “Toàn bộ dân phu, thợ đá được chia thành mười hai đội luân phiên xẻ đá bẻ dòng Ngưu Giang chảy sang bên kia núi Hy Bình. Nhiều cây cối lớn được đốn hạ chôn thành từng dãy cọc liên hoàn vững chắc dưới lòng sông nơi hiểm địa Mãng Xà. Chỉ cần khoét xong mạn sườn núi áp sát dòng chảy là có thể đẩy các bao vải chứa đầy đất đá vào các khe cọc lập tức nước sẽ dâng lên đổi dòng sang bên kia sườn núi. Những phên gỗ lớn được cố kết thành những tấm phai dày vững… Chắc hẳn giờ này nước sông cũng đã rút được già nửa con sào rồi. Thủy quân Bố Đa Ngai mười hôm nữa tất trở thành đám cua cá nằm trong chậu”.

Phó giáo sư Nguyễn Thanh Tú -h2Đại tá, PGS, TS, nhà văn Nguyễn Thanh Tú.

Họ đánh giặc bằng ngoại giao “binh vận”, dùng lời lẽ hơn thiệt, dùng kế của bậc đại nhân nói với trẻ con thích đánh nhau nhưng chưa biết về đạo lý: “Đại binh Vạn Xuân đã áp sát bốn mặt, tưởng như con thú có chân, con chim có cánh cũng khó lòng thoát được! Lại nữa, Lữ Phạm đã mắc kế của chủ công ta, đem đại binh vào nơi núi rừng hiểm trở; đèo Cổ Mã tiền quân Chu Táo vì ham công vong mạng; phía sau Phó tướng Sử Lộc lại thua binh bị vây chặt ở thung lũng Cửu Dương. Quân ta ngăn nước sông Dã Năng, đắp lũy đèo Cổ Mã, Lữ Phạm dẫu có tài như Đồ Thư, Mã Viện thời Tần – Hán cũng chỉ còn đường trốn sang đất Đô Lung. Vậy ta bảo cho hai ngươi, đạo làm tướng phải biết khi đại thế đã mất, chớ có làm càn, chỉ thiệt thân làm trò cười cho thiên hạ. Nay hai ngươi, trong thì chưa đến hai ngàn sĩ tốt yếu già, ngoài tuyệt không một đạo viện binh; đất Ái Châu vốn của người phương Nam tự chủ; dân Ái Châu đều là bách tính Vạn Xuân thuần hậu hiền lương. Nay nếu các ngươi thuận lẽ trời hãy cởi giáp bỏ gươm, đó vừa là hiểu thời thế vừa giữ được mạng sống cho các ngươi vậy!”.

Nghe những lời hào sảng, hùng tráng của người chiến thắng, thấm thía đạo lý của người và của trời như vậy, khi đã bị dồn vào thế chân tường thì kẻ địch nào cũng xin quy giáp ra hàng để hưởng khoan hồng. Vì chúng không còn đường lui!

Họ đánh giặc bằng lòng nhân từ. Họ đánh giặc vì lòng hòa hiếu. Đây là lời của Đào Lang Vương nói với hai viên mãnh tướng thủy bộ: “Đại chiến trước mắt không tránh khỏi thảm cảnh máu chảy đầu rơi. Giặc đã bị hãm vào đường cùng, quân ta càng phải chặt chẽ trước sau. Ta không thể nào giết sạch đốt sạch như bọn người phương Bắc. Ta chỉ ước muốn vua nước Lâm Ấp sớm hiểu đại nghĩa cầu hòa với Vạn Xuân ta”.

Với tù binh họ coi như những người gặp nạn mà giúp đỡ: “Biết được tâm tư của bọn tù binh chỉ mưu cầu miếng ăn, huyện lệnh Tùng Nguyên chọn ra một khu đất bằng phẳng tiếp giáp với thung lũng Cửu Dương, gần nguồn nước sông Dã Năng giao cho cây giống, lợn, gà, dê, bò giống để chúng tự trồng trọt mưu sinh. Trại này đời sau còn gọi là Lương trại. Đây cũng là ẩn ý của dân chúng Vạn Xuân đánh dấu nỗi nhục thua trận của binh tướng Lương triều”.

Họ đánh giặc bằng văn hóa. Trong lúc chuẩn bị chiến tranh vệ quốc, bao việc lớn phải lo, về dân sinh quốc kế, về sinh mệnh cả quốc gia… họ vẫn tổ chức lễ hội, như một cách rèn luyện tinh thần, một cách gắn nối mối đoàn kết, một cách động viên nâng cao sĩ khí: “Lớn nhất phải kể đến lễ hội đua thuyền và lễ hội chọi trâu. Ở lễ hội đua thuyền, ba mươi bảy làng chài các vùng cửa sông Dã Năng, Ma Giang, Hoàng Giang và bốn cửa biển Sầm, Tùng, Long, Hội phải tổ chức tới bốn vòng thi đấu mới chọn ra được tám đội đứng đầu vào thi trận cuối cùng. Những chiếc thuyền độc mộc thuôn dài trên mũi đều cho cắm kỳ hiệu từng đội lướt như bay trên khúc sông rộng dưới chân núi Độc Cô Tùng. Các tráng đinh mỗi đội chít một chiếc khăn nhỏ màu sắc trùng với chiếc khố vận trên người để các bậc kỳ lão định giải dễ bề phân biệt. Hai bên bờ sông, dày đặc nhất là bãi sông chân núi Độc Cô Tùng, hàng vạn nam phụ lão ấu với bạt ngàn chiêng trống cờ quạt tới cổ động cho các đội thuyền đang ra sức tranh tài trên mặt sông. Tiếng trống ngũ liên thúc ầm ầm rung chuyển cả rừng cây, sóng nước. Tiếng cồng âm i chờn vờn đuổi nhau tít tắp vọng vào vách đá núi Độc Cô Tùng. Tiếng chiêng rộ lên từng chặp ngắn dài miên man tưởng như các tay đánh chiêng không hề biết mỏi mệt. Triệu quân sư còn cho phép ba mươi bảy làng chài dự thi, chọn ra ba mươi bảy đội thanh nữ đều kén những kẻ chưa chồng xinh đẹp, ai cũng được phát lụa là từ trước để tiện trưng diện thêm sắc màu xôn xao lễ hội. Các tráng đinh trên thuyền độc mộc chỉ cần lướt nhìn vô vàn thanh nữ đang hò reo huơ khăn cổ động chàng nào chàng nấy đều tung hết sức lực cho cuộc ganh đua”…

Trong khi đó kẻ thù được miêu tả hoàn toàn tương phản, hiểm độc, tàn bạo, dã man, nhất là tráo trở. Như dám làm giả chiếu chỉ của Lương Vũ Đế sắc phong Lữ Phạm làm Thứ sử Ái Châu, Mông Kỳ làm Thứ sử châu Cửu Đức kiêm quản Hàm Hoan, tổng nắm các việc quân chính trong vùng. Đã thế còn “giết người diệt khẩu”:

“- Mông Thứ sử! Ta là kẻ sắp chết, nay có lời nói thật. Các ngài trên thì lừa dối hoàng thượng, dưới phung phí sinh mạng sĩ tốt, lại còn muốn kiến công lập nghiệp nơi cuối đất cùng trời này ư? Ta từ lúc bị các ngài sai khiến làm giả chiếu chỉ đã biết mình mắc tội khi quân phạm thượng chỉ còn con đường chết. Không ngờ lại phải chết trong chính tay kẻ đã lừa mị sai khiến mình thực không nhắm được mắt. Chỉ xót thương cho bao nhiêu trai tráng phương Bắc đã theo lầm các ngài bỏ xác ở phương Nam…”. Sự miêu tả ấy cũng là một cách khẳng định: kẻ gieo ác sẽ gặp ác, sẽ nhất định phải chịu bại vong!

Tiểu thuyết được viết với hai nguồn cảm hứng lớn: dạt dào niềm tự hào về truyền thống đại nghĩa, tự chủ, yêu nước và ngùn ngụt chí căm thù với kẻ xâm lăng tàn bạo, hiếu chiến, phi nhân. Mạch văn nhanh mạnh mẽ, đầy hứng khởi. Nhịp điệu khẩn trương dồn dập, khi chùng khi căng. Cách tạo không khí chiến trận rất hoạt, người đọc như được đưa trở về chứng kiến cảnh đánh nhau thật của một thời quá khứ! Đây là một tiểu thuyết rất đáng đọc. Không chỉ ở thời điểm biển Đông dậy sóng hôm nay mà ở bất kỳ thời nào. Đọc để hiểu một thời lịch sử, để hiểu cách đánh giặc, hiểu tâm hồn, tính cách Việt đầy khát vọng hòa bình, yêu nước, khoan dung và rất quật cường, khí tiết và mạnh mẽ!

N.T.T

———————-

Lời bạt thứ hai: Về bộ tiểu thuyết “Vương triều Tiền Lý” [Bài 1] – Tác giả: Phó giáo sư Nguyễn Thanh Tú

Lời bạt thứ hai: Về bộ tiểu thuyết “Vương triều Tiền Lý” [Bài 2] – Tác giả: Phó giáo sư Nguyễn Thanh Tú

Lời bạt thứ hai: Về bộ tiểu thuyết “Vương triều Tiền Lý” [Bài cuối] – Tác giả: Phó giáo sư Nguyễn Thanh Tú

 

 

 

     


     

Bài trướcThủ tướng Phạm Minh Chính đối thoại với thanh niên Việt Nam năm 2025
Bài tiếp theoKỷ niệm 50 năm ngày giải phóng Quảng Nam: Vượt khó từ đổ nát sau chiến tranh

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây