Không chỉ ở ta mà trên thế giới vẫn đang còn tranh luận “tiểu thuyết lịch sử” là kể lại sử hay kiến tạo thế giới mới về lịch sử. Nếu là kể lại sử thì nhà văn có thể không bằng nhà nghiên cứu lịch sử với quan niệm triết học riêng của họ sẽ đi sâu làm rõ cội nguồn, quá trình phát triển và ý nghĩa… Nhưng nếu nhà văn sáng tạo ra một thế giới mới hoàn toàn khác với lịch sử thì không phải là “tiểu thuyết lịch sử” mà chỉ là tiểu thuyết hư cấu thông thường. Nhưng vẫn có một quan niệm chung, gần gũi: nhà văn phải viết văn, phải sáng tạo một sinh mệnh văn chương. Do vậy, nhà tiểu thuyết lấy lịch sử làm điểm tựa để kiến tạo nên một mô hình văn chương mới, một thế giới nghệ thuật mới có không khí, nhân vật lịch sử, quan trọng nhất là không làm mất đi bản chất lịch sử. Nói gọn lại, nhà văn “sinh động hóa” lịch sử bằng tiểu thuyết!
Bộ tiểu thuyết lịch sử “Vương triều Tiền Lý” của nhà văn Phùng Văn Khai.
Nhà văn phải giải quyết các mâu thuẫn sau: Nói đến tiểu thuyết là nói đến sáng tạo, hư cấu, tưởng tượng. Lịch sử là sự thật đã qua. Như vậy tiểu thuyết lịch sử là sự sáng tạo trên nền sự thật mà biểu hiện rõ nhất là các nhân vật lịch sử. Các sự kiện cũng xoay quanh các nhân vật này. Nhà tiểu thuyết phải bám vào nhân vật lịch sử để hư cấu, sáng tạo và không được xuyên tạc nhân vật lịch sử. Họ vừa là nhà nghiên cứu lịch sử, hiểu biết sâu sắc các sự kiện và thấm thía cao nhất ý nghĩa lịch sử mà mình quan tâm, dĩ nhiên là nhà văn, thì viết phải có văn. “Văn” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ lời văn hay câu văn đẹp mà còn là kết cấu, cốt truyện, xây dựng nhân vật, chi tiết, đối thoại… nhìn chung là cách kể hấp dẫn.
Đặc thù của lịch sử là dù sự kiện của ngày hôm qua nhưng vẫn phải đem lại bài học ý nghĩa cho hôm nay. Với ý nghĩa này thì lịch sử luôn là “lịch sử của đương đại”. Vì vậy nhà tiểu thuyết phải tạo ra một ấn tượng về bài học lịch sử cho độc giả, tức phải tạo ra một bài giáo dục có ích cho độc giả.
Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, nhà văn Nguyễn Thanh Tú (bìa phải) và nhà văn Phùng Văn Khai.
Soi những vấn đề ấy vào Triệu Vương phục quốc của Phùng Văn Khai ta thấy anh đã thành công, ít nhất ở các phương diện sau:
Một là, tiểu thuyết chọn thời điểm có ý nghĩa, tức có tính vấn đề. Điều này rất quan trọng, không muốn nói là quan trọng nhất vì nó quyết định nội dung kể (kể cái gì), nhân vật, tình tiết… Muốn vậy nhà văn phải thật thấu hiểu lịch sử, trước hết là để viết sao cho không lặp lại và không đi quá xa so với sự thật. Về điều này, nhiều nghiên cứu văn học phương Tây đương đại khái quát: tiểu thuyết lịch sử là mô hình thế giới mới chạy song song với mô hình lịch sử (chính sử). Giống như hai quả cầu lửa bay trên bầu trời văn hóa cùng soi sáng cho nhau và cùng soi sáng cho bạn đọc hướng về chân lý. Cách nói thi vị này ngẫm ra đều thấy đúng. Nếu được như vậy thì nhà văn cũng đồng thời phải là nhà sử học. Triệu Vương phục quốc chọn thời điểm lịch sử mang tính bi tráng rất rõ: sự thắng thế tạm thời của quân xâm lược nhà Lương và quá trình đầy gian lao mà anh dũng của quân dân Vạn Xuân dưới sự lãnh đạo của Triệu Quang Phục giành lại giang sơn.
Hai là, tiểu thuyết bám sát vào đặc trưng không gian vùng Đầm Dạ Trạch (đầm nước) và truyền thống đánh giặc của cha ông là thường đẩy kẻ xâm lược vào thế phải đánh nhau trên sông nước để giành thế chủ động. Tiểu thuyết có nhiều trang rất sinh động về cảnh đánh nhau bằng thuyền trên sông nước như ở Hồi thứ ba (Cửa biển Hoàng Châu, Triệu Đô đốc tử trận…) Tác giả dành nhiều tâm huyết, tâm lực, thời gian để tái hiện những cảnh huyết chiến, cảnh quân ta đánh giặc bằng câu liêm, bằng tên, bằng giáo… Nhưng anh cũng nhấn hơi sâu, dành hơi nhiều cảnh cả hai “bắn” nhau bằng súng đá “Giữa hai làn đạn đá ầm ầm quật xuống, máu thịt binh tướng hai bên bật tung lên…” thì xa với logic thông thường. Theo các sách sử thời đó dùng “giàn súng đá” thì có nhưng không được đến mức “đạn đá ầm ầm” như vậy, nhất là “đạn đá” phải đẽo, gọt và chuyển đến từ vùng núi đá. Nhiệm vụ chính của “súng đá” thời đó (nếu đặt trên thuyền) chỉ là để làm hư hỏng, dẫn đến phá, vỡ, làm thủng tàu thuyền đối phương.
Ba là, tiểu thuyết vận dụng phương pháp “huyền sử” (huyền thoại) khá “đắc địa”. Chi tiết Tản Viên Sơn thánh “hiển linh” báo cho Hữu tướng Phùng Thanh Hòa vừa đúng thời điểm vừa mang ý nghĩa: “một vầng hào quang chói sáng rực rỡ, trong tiếng gió xào xạc, một đám mây ngũ sắc trôi thẳng vào cổ tự. Trên đám mây rực sáng ấy, có một vị tiên ông mắt sáng miệng rộng, râu ba chòm chấm ngực trắng như cước…”. “Tiên ông” ấy chính là Tản Viên Sơn thánh xuất hiện đúng vào thời điểm ba quân hoang mang dao động vì bị thua nhiều có tác dụng làm vơi bớt chất “bi”, “củng cố” tinh thần cho bạn đọc (cũng là ý nghĩa): cuộc nổi dậy được sự ủng hộ, trợ giúp của truyền thống văn hóa lịch sử thì chắc chắn thắng lợi! Hay chi tiết “Trong ánh lửa lập lòe, xuất hiện một ông hổ vàng bờm trắng thân dài hơn trượng đi nhấp nhô như sóng tiến vào cửa miểu nằm phủ phục ngay sát chỗ đức vua đang quay mặt vào vách đá thiền định” đã nói lên rất nhiều về “đức vua” được cả thần linh (!) ngưỡng mộ!
Đại tá, PGS, TS, nhà văn Nguyễn Thanh Tú.
Bốn là, tác phẩm sử dụng các tình tiết “mưu kế” khá hấp dẫn, gợi được sự tò mò theo dõi ở bạn đọc. Tác giả kết cấu tiểu thuyết theo hình thức “chương hồi” cũng là ngầm mách với độc giả: đây là lịch sử của những “mưu kế” tương tự như Tam Quốc diễn nghĩa vậy! Có cả những “tuyệt gian” (như Tào Tháo) với các “mưu hèn kế bẩn”; có cả “tuyệt trí” (như Khổng Minh) với “mưu sâu kế hiểm”, “hô mưa gọi gió”… Ví dụ chi tiết quân Lương thả “hắc tinh thần sấu” xuống đầm để giết hại dân thường cũng đồng thời để gây hoang mang cho bên ta như một “sáng tạo” cần thiết. Về nội dung ý nghĩa nó nêu bật ra được cái bản chất dã thú giết người của quân xâm lược; về nghệ thuật, nó tạo ra sự hồi hộp: gây ra những hậu quả gì? cách giải quyết ra sao?
Năm là, nhà tiểu thuyết đã cố gắng tạo ra sự đa âm hưởng rất quý: có hùng ca, tráng ca, hoan ca, tụng ca và cả bi ca. Tất cả tạo ra bản tổng phổ bi tráng về một thời điểm lịch sử oanh liệt của dân tộc. Điều này góp phần tạo ra sự hả hê ở người đọc: những trận chiến thắng lẫy lừng, những chiến công xứng đáng… Vẫn còn nhận ra khá rõ “chất Kim Dung” ví như ở đoạn Lã tiên sinh cùng anh em Trương Hống, Trương Hát giết Đèo Bá Hổ (Hồi mười hai). Có những đoạn “chưởng” gay cấn căng thẳng như vậy là cần thiết nhưng nếu được “Việt hóa” nhẹ nhàng đi thì sẽ gần gũi hơn!
Nhìn chung lý luận văn học hiện đại đang đề cao lý thuyết mô hình, coi nhà văn sáng tạo tác phẩm là sáng tạo ra một cuộc sống mới, một thế giới mới. Cuộc sống trong tác phẩm thoát thai từ đời sống nhưng không đồng nhất với đời sống, nó chỉ là mô hình về đời sống. Tác phẩm bắt rễ từ hiện thực nhưng không mô phỏng hiện thực mà tạo ra một mô hình mới về hiện thực. Chính vì thế mà không chỉ văn học, mà nghệ thuật nói chung người ta đều yêu cầu nghệ sĩ sáng tạo theo mình cảm thấy chứ không phải phản ánh cái trông thấy. Có vậy mới tránh sự trùng lặp, mới tạo ra sự đa dạng, phong phú. Vì để viết ra cái cảm thấy thì cả là một kỳ khu, một lao động khó khăn, đòi hỏi phải có vốn sống, có tài năng thật sự. Nghệ sĩ càng cá tính bao nhiêu càng có cơ hội cảm thấy đời sống sắc nét, khác biệt bấy nhiêu. Triệu Vương phục quốc là tiêu biểu cho lối viết từ chỗ thấu hiểu lịch sử để thấu cảm nhân vật, thấu cảm thời đại để “trình bày” lên trang viết. Tác giả là cái cầu nối hai thời đại hôm qua (lịch sử) và hôm nay (đương đại). Tác giả là người có công làm sống lại cái hôm qua ở ngày hôm nay. Thế là rất đáng quý!
Nguyên tắc bao trùm về hình thức của tiểu thuyết Triệu Vương phục quốc là nguyên tắc của điện ảnh. Những tiểu thuyết chương hồi thường gần gũi với điện ảnh nên dễ chuyển thể sang ngôn ngữ của nghệ thuật thứ bảy. Dù không đọc nguyên tác, chỉ cần xem phim cũng nắm bắt được hầu hết các sự kiện, chi tiết, nhân vật và ý nghĩa bài học từ tác phẩm văn học. Triệu Vương phục quốc giàu chất điện ảnh và dễ chuyển thể vì bản thân nó đã gần như một kịch bản điện ảnh. Nhưng trên hết đây là một tiểu thuyết lịch sử đúng nghĩa là kiến tạo ra một thế giới mới sinh động để chuyển tải một bài học giáo dục về lòng yêu nước, về tinh thần tự hào dân tộc, về ý thức độc lập tự chủ… bằng một hình thức nghệ thuật độc đáo.
———————-
![Lời bạt thứ hai: Về bộ tiểu thuyết "Vương triều Tiền Lý" [Bài 2] - Tác giả: Phó giáo sư Nguyễn Thanh Tú Lời bạt thứ hai: Về bộ tiểu thuyết "Vương triều Tiền Lý" [Bài 2] - Tác giả: Phó giáo sư Nguyễn Thanh Tú](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2025/03/Pho-giao-su-Nguyen-Thanh-Tu-h5-min-696x928.jpg)



















