
LẤY TRỘM VŨ KHÍ
Khoảng tháng mười năm 1978, tôi đang học lớp 11 thì có một sự cố mà không sao quên được, bây giờ mấy mươi năm đã qua nhưng vẫn còn nhớ như in những việc mà nếu hồi đó không bình tĩnh xử lý cụ thể thì không biết hậu quả sẽ đi đến đâu.
Ở miền Bắc tôi mới học lớp 6/10 thì giải phóng miền Nam, tháng 8/1975 Nhà nước đưa về Tam Kỳ, do mồ côi cha mẹ nên được ở lại trường và tiếp tục học lớp 8/12. Dù mới lớp 8 nhưng do mồ côi cha mẹ, lăn lộn với cuộc sống từ nhỏ nên so với các em, tôi đã nhận biết được nhiều hơn, ý thức được những việc cần làm, được nhà trường phân theo dõi khối cấp một. Là cán bộ Đoàn trường, cán bộ lớp càng phải gương mẫu chững chạc.
Công việc chẳng có gì ngoài sáng gọi các em dậy sớm tập thể dục, vệ sinh, chuẩn bị sách vở đi học, đôn đốc các em dọn dẹp phòng ở, sân trường… và cũng phải lo học cho bản thân mình nữa.
Vì chịu khó lại học giỏi nên được các thầy cô thương, bạn bè quý mến, nhất là các em nhỏ luôn nghe lời và tin tưởng anh Kỳ.
Mỗi khi có đánh nhau hay gây sự với bên ngoài cần giải quyết, thầy chủ nhiệm hoặc nhà trường thường bảo kêu Kỳ đi với.
Thực ra mình không có chiêu gì hay mà bằng sự chân thành phân tích phải trái có lý có tình, mỗi bên nhường nhịn nhau một tí thì sự việc không đi quá xa.
Một lần các em vào kho quân khí của Tỉnh đội lấy trộm thuốc nổ, đạn, bom bi… bị bảo vệ bắt nhốt và thông báo cho trường. Thầy hiệu trưởng bảo để cho pháp luật trừng trị, ba em bị giữ một ngày, số ở ngoài tức lắm, vừa tức nhà trường không đi bảo lãnh các em, vừa tức Tỉnh đội giữ các em. Tình hình có vẻ căng thẳng khi có trên hai mươi em từ lớp năm đến lớp bảy kéo vào khu vực tỉnh đội, nơi giữ số em từ hôm qua.
Nhà trường vẫn chưa phân ai vào nhận các em, trong số các em kéo vào có em chạy về gọi anh Kỳ. Thật khó khi thầy hiệu trưởng, giáo viên không đi mà mình đi vào với tư cách gì, nhưng để các em tự phát sẽ rất nguy hiểm, nghĩ vậy đành phải liều chứ biết làm sao bây giờ.
Khi vào đến nơi, bảo vệ Tỉnh đội không cho vào và nói đã chuyển các đối tượng ăn cắp vũ khí sang bên công an rồi. Lúc ấy tôi thấy lo cho các em và chưa biết xử lý sao thì các bạn đứng ngoài cãi nhau to. Phía trong các em bị giữ nghe thấy tiếng nên la lên: “Anh Kỳ ơi, họ nhốt các em ở đây nè!” và lấy gạch đá cây gỗ đập vào cửa thình thình, vậy là chứng tỏ họ đã nói dối.
Tôi xin gặp chỉ huy đơn vị, các chú bảo phải có giấy giới thiệu ghi rõ họ tên, chức vụ…
Bí quá chưa biết xử lý ra sao, trong lúc các em kéo vào ngày một đông, tôi chạy qua bên Huyện ủy xin được gặp chú Đỗ Thế Chấp, Bí thư và báo cáo sơ qua sự việc nhờ chú can thiệp bên tỉnh đội để thả các em. Tôi nhớ như in lời chú nói qua điện thoại: “Con nít nó biết gì, nghịch ngợm là vốn tính của nó, giữ lại có việc gì mấy ông chịu trách nhiệm trước pháp luật đó, vì cha mẹ nó đã mất, quản lý giáo dục do nhà trường, nhưng làm sao quán xuyến hết, thả ngay các cháu không để sự việc dẫn đến mất kiểm soát”.
Xong chú bảo nhẹ nhàng: “Thôi cháu qua nhận các em về bảo ban nhau lo học hành không nghịch ngợm quá, nhớ hôm sau chú không can thiệp nữa nghe chưa!”.
Tôi dạ và không quên cảm ơn chú đã giúp đỡ, mừng quá tôi chạy luôn qua bên tỉnh đội thì được mời vào ký biên bản bảo lãnh các em về. Khi gặp anh đội trưởng bảo vệ bảo ghi chức vụ vào biên bản, tôi nói tôi đâu có chức vụ gì đâu, là lớp lớn hơn các em thôi, nhưng ông vẫn bắt buộc ghi đại diện nhà trường, mà làm sao có thể đại diện được, cuối cùng tôi ghi: “Đại diện cho các em có cha mẹ đã mất vì nền độc lập tự do của Tổ quốc”.
Ông bảo ghi chi lạ vậy thì tôi nói đúng như vậy, vì đây là trường Nội trú gồm các em mồ côi cha mẹ.
Cuối cùng cũng nhận được các em về, tôi không la mắng gì mà nói lại lời dặn của chú Chấp, Bí thư:”Các cháu đừng nghịch ngợm phá phách mà lo tập trung vào học tập để có kiến thức, trình độ mai này phục vụ quê hương đất nước”.
Sau sự việc này các em càng tin tưởng và thương anh Kỳ hơn, nói gì các em cũng tin vâng lời, nhất là mấy em bướng bỉnh nghịch ngợm. Các thầy cô cũng có phần nể phục.
Khi còn học cấp hai ăn ở tại trường Nội trú, lên cấp ba tất cả các anh chị em phải tự thuê trọ bên ngoài nhà dân để ở, còn ăn ngày hai bữa ở tại trường, riêng tôi được Nhà trường ưu ái cho ở lại trường và được bố trí ở tại phòng khách, khi trường có khách phải xuống ở với các em. Việc ở lại trường với tôi là một sự ưu ái lớn, vừa tiện trong sinh hoạt, ăn uống, đi học theo dõi các em khối cấp một, cấp hai cùng các thầy cô quản lý các em thường xuyên hơn. Nhiều đêm các em đi xem phim hoặc đi chơi rất khuya sợ xảy ra rắc rối nên khi các lớp báo có ai đi về muộn, tôi lựa lời nhắc nhở khuyên bảo chân tình.
Công việc này là của giáo viên chủ nhiệm và các lớp trưởng song các thầy cô sau giờ dạy trên lớp còn phải lo cho gia đình, các lớp trưởng cùng lứa tuổi nên khó nói hơn tôi, vì vậy tôi là người gần gũi hiểu tâm tư, những ý định, những việc các em dự tính làm để can ngăn trước, khi cần thiết lắm mới báo cáo Nhà trường.
Ba năm học cấp ba rồi cũng qua mau, tháng 6 năm 1980 tôi tốt nghiệp cấp ba vào học Cao đẳng sư phạm Đà Nẵng nhưng vẫn thường xuyên về với các em mỗi khi có dịp vì nơi đây như một ngôi nhà thân thương, vả lại trên quê tôi cũng không còn ai, không có nhà cửa để về.
Tháng 8 năm 1982 trường chính thức giải thể, lúc này còn trên một trăm em học cấp hai và ba, Ty Giáo dục và TBXH tỉnh QN-ĐN đưa các em về học tại các trường Bổ túc văn hóa ở Hoà Vang, Hội An, Đà Nẵng.
Tháng 11/1982 tôi tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm được phân về Ty Thương binh Xã hội, theo dõi giúp đỡ các em con liệt sĩ của tỉnh, trong đó có các em ở trường Nội trú năm nào. Khi có chỉ tiêu đi nước ngoài hay đào tạo các ngành nghề gì tôi đều ưu tiên trước cho các em một thời học ở trường Nội trú .
Bây giờ hầu hết các anh chị em đã nghỉ hưu, các thầy cô và các cô chú phục vụ có người mất người còn nhưng mỗi khi có dịp gặp nhau bao giờ các anh chị em có một thời học ở trường Nội trú Tam Kỳ đều cảm thấy thân thương ấm áp chân tình, bởi nơi đó, thời gian đó, trường Nội trú đã cùng đất nước chịu bao khó khăn thiếu thốn mà chúng tôi là những người ngoài thiếu thốn vật chất còn thiếu thốn tình yêu thương đùm bọc của cha mẹ, một tình cảm thiêng liêng bị chiến tranh cướp mất!
Tam Kỳ tháng 11/2022.
BẮT VỊT HỢP TÁC XÃ TAM THẠNH
Ngày 31 tháng 5 năm 1977, sau bữa liên hoan kết thúc năm học, một số em có bà con nơi quê về thăm trong kỳ nghỉ. Nói là thăm chứ thực ra là về ở mấy ngày xem bà con có ai cho gạo sắn khoai chà…. đem về trường cho các bạn ở lại và ghé về nhà vài lần cải thiện thêm mấy bữa chứ suốt thời gian ở trường ăn uống kham khổ, chỉ bo bo sắn lát, thỉnh thoảng mới được bát mỳ sợi, bát cơm còn thức ăn chỉ toàn cá muối với canh rau muống quanh năm.
Trường mọi việc vẫn như cũ, các cô chú phục vụ vẫn nấu cơm ngày hai bữa, các anh chị lớn chơi các môn thể thao, các em cấp một cấp hai đánh bi đánh đáo, đó là ban ngày chứ khi đêm xuống có trời biết các em làm gì.
Một buổi chiều thấy thầy hiệu trưởng cùng bốn năm người đến khu tập thể học sinh dạo quanh một vòng rồi ra về như không có gì, lúc sau có anh bảo vệ bên khu giáo viên qua bảo thầy hiệu trưởng cho mời tôi lên phòng thầy có việc. Vừa đẩy cửa bước vào đã thấy có bốn năm người ngồi sẵn, tôi ngồi xuống, thầy giới thiệu đây là các anh trong Ban quản trị Hợp tác xã Tam Thạnh, tối hôm qua Hợp tác xã bị mất hơn hai mươi con vịt, các anh nghi là các em trong trường Nội trú mình bắt, em xem trong số các em hay nghịch em nào có khả năng làm việc đó không. Tôi thấy hơi khó hiểu vì vịt kêu to, lại có mấy người chăn giữ trong lều trại làm sao bắt được những hai mươi con?!
Thầy nói chỉ nghi thôi chứ chưa khẳng định, các anh đây nói, vịt còn nhỏ chưa lớn lắm nên nếu có bắt về thì phải nuôi thời gian nữa, em theo dõi xem có gì khác thường không, nếu có nghi vấn gì thì gọi mấy em nghịch nhất ra hỏi để tìm manh mối. Tôi dạ và hứa sẽ tìm hiểu xem thế nào, có gì em sẽ báo cáo lại để Nhà trường có hướng xử lý.
Tôi về kiểm tra các ngõ ngách thì thấy mọi việc đâu vào đấy không có gì khác lạ, duy chỉ có trong dãy cầu tiêu một cái thường xuyên khóa cửa, bên ngoài ghi nguệch ngoạc mấy chữ trên bằng phấn, dưới bằng gạch non: Cầu hỏng không đi được.
Trước đây khu vệ sinh cấp hai đi chung nhưng do nạnh nhau trong phân công dọn vệ sinh hàng ngày mà bẩn thỉu quá nên nhà trường xây thêm, phân mỗi lớp một cái, từng tổ trực dọn dẹp, có chìa khóa hẳn hoi.
Tôi hỏi lớp, sao cầu hỏng mà không báo cho trường sửa chữa, các em đi cầu ở đâu, có em trả lời là các bạn về quê nghỉ hè, số ít ở lại đi chung ạ. Tôi nghi nên đến gần đập vào cửa, nghe bên trong có những tiếng động rất lạ, tôi hỏi ai giữ chìa khóa, thì được trả lời là chìa khóa mất rồi. Tôi nói: “Anh sẽ gọi cờ đỏ phá cửa ra xem bên trong có gì” thì có mấy em nét mặt lo lắng sợ sệt, biểu hiện có vẻ lúng túng. Tôi bảo hai em đi với tôi về phòng ở, đến nơi tôi nói, anh biết hết cả rồi, các em nói thật đi để anh còn tìm cách xử lý chứ họ mà báo với công an là rắc rối cho các em và nhà trường, đương nhiên năm học tới lớp em sẽ không được xét thi đua gì hết.
Tôi nghĩ là doạ thử xem sao chứ cũng không chắc chắn lắm, không ngờ các em khai thật là có bắt của hợp tác xã số vịt đó, nhưng vịt còn nhỏ quá, mới làm thịt ba con nhưng lông tơ nhiều quá, làm khó khăn lắm, ít thịt, ăn không ra gì, tôi la: “Vịt người ta nuôi đã bắt trộm còn chê ăn không ra gì, các em quá quắt lắm!”. Rồi tôi bảo thôi các em về lớp đi, anh sẽ tìm cách xử lý sau.
Tôi lên báo cáo với thầy hiệu trưởng là em đã tìm ra rồi, bây giờ xin trả lại cho Hợp tác xã số vịt đã mất nhưng các em làm thịt hết ba con, các em nói sẽ trả với điều kiện là Hợp tác xã không làm to chuyện, Nhà trường không có hình thức kỷ luật gì các em vì đã lỡ bắt số vịt đó.
Thầy bảo, việc đó xử lý sau, bây giờ em đưa hai đứa đã bắt vịt ra Hợp tác xã xin nhận lỗi và bàn cách trả vịt cho họ. Tôi thấy hơi xấu hổ nhưng vì các em còn nhỏ mình lớn hơn đành chịu khổ vì các em chứ biết làm sao giờ, ông bà ta đã dặn “làm chị lành, làm anh khó” nhưng việc này vừa khó vừa xấu hổ.
Chiều muộn tôi cùng hai em ra Hợp tác xã gặp bác chủ nhiệm, tôi thay mặt các em xin lỗi bác và Hợp tác xã là các em còn nhỏ ham chơi, thấy vịt nghịch bắt vậy chứ không có ý gì xấu, mấy ngày nay các em vẫn cho vịt ăn bằng bo bo và sắn lát là thức ăn hàng ngày của chúng cháu và cho uống nước đầy đủ ạ.
Các em đã làm thịt hết ba con, số còn lại các em xin trả lại cho Hợp tác xã, mong Hợp tác xã bỏ qua cho các em. Ông không nói gì cứ ờ ờ. Ông gọi anh thư ký bảo ra chỗ các anh giữ vịt ngoài đồng gọi một anh về gấp, có việc. Trong lúc chờ, bác nói thôi các cháu tự giác trả lại cho hợp tác xã là tốt rồi, nhưng bác hỏi làm sao mà các cháu bắt được những hai mươi con mà vịt không kêu. Nói cho bác cách bắt để Hợp tác xã còn biết cách giữ chứ hiện nay Hợp tác xã đang nuôi rất nhiều vịt .
Em đó nói, tối tối các cháu hay đi ra bờ sông ra đồng soi cá ếch, khi đi ngang qua lều giữ vịt thấy mấy chú giữ vịt ngủ say quá các cháu định vào lượm trứng nhưng vịt còn nhỏ chưa đẻ, sẵn mấy cái bao đem theo thế là bắt luôn. Lúc đầu chỉ định bắt mấy con về làm thịt nấu cháo thôi nhưng có bạn nói một lần bắt một lần khó nên làm luôn hai bao cũng không đếm nên không biết bao nhiêu con. Khi đem về đến trường lại bí không có chỗ nhốt nên đành đem nhốt trong cầu tiêu của lớp. Còn vì sao vịt không kêu thì các cháu cầm lấy dọc mùng (là một loại môn nước) quơ quơ vịt tưởng rắn nên nằm im không dám kêu.
Anh giữ vịt đã đứng ngoài cửa, bác chủ nhiệm bảo anh giữ vịt đi theo các cháu vô trường mang vịt về, trời cũng vừa tối, tôi bảo một em chạy về trước lấy chìa khóa, khi chúng tôi về đến nơi thì em đã có mặt. Khi mở cửa thì mấy chục con vịt nằm rạp không kêu một tiếng, phía trên treo lủng lẳng mấy cái dọc mùng đưa qua đưa lại, dưới nền có cái thau chia cơm của lớp và một cái nồi đựng nước cho vịt ăn uống. Sẵn hai cái bao hôm trước các em lại lùa vịt vào và cột miệng lại, anh giữ vịt choàng qua vai mang về chứ không đếm vì vịt còn nhỏ nên nhẹ chứ mỗi con một ký thì mình anh sao vác nổi.
Vì trời tối anh em chúng tôi làm lặng lẽ, mọi việc cũng chấm dứt ở đó, ít người biết vì để giữ thể diện cho các em khỏi mang tiếng là ăn cắp xấu hổ với bạn bè. Hợp tác xã cũng giữ lời hứa không làm to chuyện vì vịt họ đã nhận lại gần đủ chỉ mất ba con. Thầy hiệu trưởng cũng chỉ nhắc chung chung khi chào cờ đầu tuần chứ không gọi đích danh các em bắt vịt. Còn hai em bắt vịt càng thương và quý tôi hơn, từ đó tập trung vào học không la cà ăn cắp vặt.
Sau này các em cũng trưởng thành có gia đình con cái nhưng mỗi khi gặp nhau không ai còn nhắc lại chuyện xưa, coi đó như là một kỷ niệm, một giao ước khó quên của thời thơ ấu. Bây giờ về lại xã Tam Thạnh xưa không còn dấu tích gì của Hợp tác xã. Khu lều trại chăn vịt và Hợp tác xã nay là khu phố thuộc phường Tân Thạnh thành phố Tam Kỳ, nhà nhà san sát.
Đất nước đổi thay theo thời gian, anh em chúng tôi cũng có nhiều thay đổi song tình cảm và những kỷ niệm ngày nào luôn khắc sâu trong tâm trí mỗi người.
Tam Kỳ tháng 11/2022.
TIẾNG NỔ GIỮA TRƯA
Khoảng tháng tư năm 1979, lúc đó tôi học lớp 11/12 trường cấp ba Trần Cao Vân Tam Kỳ nhưng ăn ở tại trường Nội trú, vì tôi học lớp lớn hơn nên được thầy hiệu trưởng Nội trú giao theo dõi giúp đỡ các em học cấp một, hai. Bù lại tôi được Nhà trường cho ở trong khu của các thầy cô để tiện gọi các em dậy sớm tập thể dục buổi sáng, còn các anh chị em cấp ba khác đều phải ở ngoài nhà dân, ăn thì được trường Nội trú nấu giúp ngày hai bữa.
Các em còn nhỏ quá ham chơi, đặc biệt là nghịch súng đạn, bom bi, cối… chưa nổ. Sau giải phóng nơi này Mỹ ngụy bỏ lại nhiều vũ khí nên các em thường nhặt về cải tiến để đánh cá cải thiện thêm bữa ăn. Một bữa trưa vừa ăn cơm xong, tôi đang nằm nghỉ để chiều đi học thì nghe một tiếng nổ chát chúa phía sau nhà bếp cấp một, giật mình chồm dậy chạy nhanh ra thì thấy một cảnh tượng kinh hoàng.
Hai em học sinh cấp một nằm ngửa thoi thóp thở, một em bụng hở ra tim còn đập giựt giựt, máu trào ra vì do sức công phá của quả đạn cối 81, hai ba em bị nhẹ đã chạy vào các phòng ở nhờ băng bó.
Tôi la lên và trong khoảnh khắc không biết làm sao để cứu các em, lúc này có một số em cũng chạy đến, một em nào đó nhanh trí lật các tấm cửa sổ đặt từng em nằm lên trên và khiêng chạy gấp xuống bệnh viện Tam Kỳ cách trường khoảng hơn trăm mét.
Trên đường đi em phều phào: “Cứu em, em không muốn chết, em không muốn chết…” Tiếng nói yếu dần đi rồi tắt lịm.
Trưa hôm đó có hai em bị chết, hai ba em bị thương nhưng không nguy hiểm đến tính mạng.
Hôm ấy thầy Hiệu trưởng Trường lại về Ty Giáo dục ở Đà Nẵng họp.
Tôi chạy lên phòng thầy điện thoại ra Ty xin gặp và nói thầy về gấp ở nhà đang có sự cố, thầy được Ty Giáo dục cho xe ô tô đưa gấp về.
Hai giờ sau thầy có mặt tại trường, thầy chủ nhiệm báo cáo sự việc xảy ra xong cùng các thầy cô và một số em đến bệnh viện Tam Kỳ làm thủ tục đưa các em về quê an táng.
Cả trường buồn trong mấy ngày rồi mọi việc lại đâu vào đấy, các em vốn nhanh quên, chỉ thời gian ngắn lại đi tìm bom bi đạn về nghịch phá.
Số là hôm đó đang chuẩn bị nghỉ hè, trời nắng nóng, suất ăn của trường không thấm vào đâu với lứa tuổi mươi, mười lăm đang sức ăn sức lớn.
Thời gian này được nghỉ học các em rủ nhau đi tìm bom bi và đạn các loại về cải tiến, làm thủ pháo đánh cá.
Không biết em nào xúi mà các em để quả cối 81 đã được mở đầu nổ nằm nghiêng trên hai thân cây gỗ rồi bắt đầu đốt ở giữa cho thuốc nóng và chảy vào cái lon cá hộp, khi thuốc gần đầy các em cắm vào một chiếc đũa để có cái lỗ sau này gắn kíp vào.
Quá trình đốt do bị nóng chảy ở giữa mà hai đầu chưa kịp nóng chảy nên quả đạn phát nổ mà trong lúc đốt một số em lại xúm vào xem nên mới bị nhiều .
Các thầy cô và đội cờ đỏ của trường luôn kiểm tra súng đạn, bom bi nhưng các em luôn biết cách giấu ở những nơi không ai biết.
Thật tội nghiệp là hai em chết cũng mồ côi cha mẹ nên địa phương mới gửi vào trường, khi đưa về quê cũng chỉ có bà con làng xóm và ủy ban xã làm đám tang .
Mấy chục năm đã qua, bây giờ nhớ lại tôi không thể nào quên được ánh mắt của các em vừa cầu cứu vừa thất thần ân hận hối tiếc.
Không biết có bạn nào ở trường Nội trú có mặt trong lúc đó không vì lúc đó tôi vừa la vừa ôm các em mà thương không chịu được.
Chỉ vì nghịch ngợm không nghe lời thầy và các anh chị lớn hơn mà ra nông nỗi này.
Đà Nẵng ngày 1/11/2022.
CHUYỆN VỀ CON GÀ TRỐNG
Tôi vừa đi học về thì được thầy hiệu trưởng gọi lên phòng thầy có việc. Bụng đói lại mệt nhưng không biết có việc gì mà thầy gọi, dặn các bạn để phần cơm tí Kỳ về ăn sau, xong lên khu hành chính của trường. Vừa vào phòng tôi đã thấy có một ông ngồi sẵn dáng chững chạc, tôi cúi chào thầy và chào bác, ông gật đầu nhưng không mở miệng. Thầy rót ly nước bảo tôi uống rồi giới thiệu: “Đây là bác lãnh đạo huyện Trà My, bác nhờ em việc gì đó, em cố gắng giúp bác”, nói rồi thầy đi ra ngoài không quên khép cửa phòng lại. Tôi không biết có việc gì quan trọng mà thầy để tôi ở lại với một người xa lạ nên lòng thấy lo lắng.
Ông nhìn tôi và nói:“Tối hôm qua nhà bác có mất một con gà trống, con gà chỉ đáng giá 2-3 đồng, nhưng cháu xem trong số các cháu học ở trường có ai bắt nói với bác cách bắt bác sẽ thưởng 5 đồng”. (Lúc này vừa mới đổi tiền nên 5 đồng rất có giá trị, vì học bổng của học sinh ở trường cả tháng Nhà nước chỉ cấp có 9 đồng cả ăn mặc học hành).
Tôi thấy lạ nên hỏi lại vì sao lại vậy ạ, vì sao bác nghĩ là chỉ có học sinh trong trường bắt mà không phải là người khác. Bác nói chỉ có học sinh Nội trú mới làm được việc này chứ ở đây không ai đủ khả năng làm được. Lẽ ra sáng nay bác phải lên cơ quan nhưng vì mất con gà nên bác mới phải nán lại tìm hiểu cụ thể (nói thêm là sau giải phóng thời gian này rất phức tạp, biên giới phía Bắc, phía Nam đều có chiến sự nên cán bộ rất cảnh giác, đặc biệt là các cán bộ lãnh đạo).
Bác nói nhà bác ở đường Tiểu La, có tường rào bao quanh cổng ngõ rất cẩn thận, đặt biệt ban đêm bác thả con chó béc – giê to nằm trước hiên nhưng không hiểu sao vẫn mất con gà. Mọi hôm sáng nào nó cũng gáy nhưng sáng nay mọi thứ vẫn như cũ chỉ có con gà là không gáy. Bác lo là lo cho sự an nguy của bác chứ không phải vì mất con gà, nên bác cần biết nguồn cơn, đâu là điểm yếu, cần phải khắc phục.
Tôi thưa với bác là chiều cháu sẽ tìm hiểu mấy em nghịch nhất và hỏi cụ thể, khoảng 3-4 giờ chiều bác vào lại trường có được không ạ, bác bảo được. Tôi về ăn cơm chứ bụng đói cồn cào, khi sáng ngủ dậy đi học đâu có gì ăn đâu, giờ trể lắm nên muốn nhanh về ăn cơm.
Ăn trưa xong lăn vô học bài làm bài nên quên mất là mình đã hứa khi trưa. Đúng 4 giờ tôi thấy có em học sinh vào gọi là anh Kỳ có người gặp ngoài cổng, khi ra đã thấy ông đứng bên chiếc xe Honda Dame, hồi đó mà có chiếc xe này là quá ngon luôn, tôi còn chưa biết đi xe đạp. Sực nhớ việc khi trưa bác nhờ, tôi xin lỗi bác và mời bác dắt xe vào để bên gốc cây phượng khóa lại rồi cùng đi với cháu, bác cháu ta cùng nhau đi tìm xem em nào làm việc này. Trong lòng tôi cũng nghĩ đến hai em rất nghịch nhưng rất thông minh, dám làm dám chịu chứ không chối, hễ không làm thì nhất quyết không chịu nhận.
Hai bác cháu dạo loanh quanh một chặp thấy mấy đứa đang đánh bi tôi gọi hai đứa lại và hỏi các em có bắt con gà của bác ở đường Tiểu La không? Con gà chỉ đáng giá 2- 3 đồng nhưng nói cách bắt bác không những không bắt đền mà còn thưởng 5 đồng. Một trong hai em nói bắt dễ ẹt. Tôi không hiểu nguồn cơn cụ thể nên không biểu hiện gì nhưng khi nghe trả lời vậy thì bác sững sờ dán chặt mắt vào thằng bé vừa trả lời là bắt dễ ẹt. Bác nói làm sao bác cháu ta gặp riêng nhau tí, hồi đó làm gì có quán nước để vào ngồi, vậy là bác đèo ba anh em tôi về phòng tôi ở để em trình bày cho bác nghe cách bắt gà.
Để tạo lòng tin bác lấy ra 2 tờ 2 đồng và 1 tờ 1 đồng đưa cho em trước. Khi bác đưa tiền em không dám nhận mà cứ nói thôi thôi cháu không dám lấy đâu vì con gà của bác mấy đứa làm thịt nấu cháo hồi hôm rồi, béo lắm ạ. Thật ra tôi không hiểu như thế nào bởi là người ngoài cuộc, còn có lẽ người mất gà và người trộm gà mỗi người theo đuổi một dòng ý nghĩ khác nhau. Sau một hồi thuyết phục với sự đồng ý của tôi, cuối cùng em cũng dè dặt cầm tiền rồi em bắt đầu trình bày về việc bắt con gà thế nào.
Bác và tôi ngồi nghe em nói mà cứ tưởng em là một đặc công được huấn luyện bài bản. Em sinh 1968 lúc này khoảng mười hoặc hơn mười tuổi một chút, dáng người nhỏ bé nhưng ánh mắt cực kỳ thông minh.
Em nói: Nhà bác ở đường Tiểu La góc ngã ba gần chùa, các cháu thường hay đi ngang qua để vào chùa hái trộm trái cây ăn cho đỡ đói. Một lần đi qua thấy nhà bác có con gà trống ngon quá nên các cháu bàn nhau bắt về làm thịt cải thiện. Vậy là mấy ngày sau các cháu qua lại nghiên cứu cụ thể.
Tường rào nhà bác cao 2,5 mét, trên có gắn mảnh chai, từ tường rào vào đến chuồng chim bồ câu khoảng 3 mét, chuồng chim bồ câu cao 2,5 mét (tương đương với tường rào) con gà tối nào cũng ngủ trên chuồng chim bồ câu, phía đông nhà bác có con hẻm mà từ con hẻm đến chuồng chim bồ câu cũng khoảng 2-3 mét. Sợ nhất là con chó béc – giê đêm bác thả ra, sơ suất là nó sủa thì hỏng việc nên phải nghiên cứu hướng gió.
Nghiên cứu kỹ đâu vào đó tối hôm kia các cháu hành động vì mùng 2 âm lịch nên chưa có trăng trời tối dễ bắt, lúc 1 hoặc 2 giờ khuya ít gió các cháu đã mượn sẵn một cái thang cao hơn 2,5 mét, cây sào tre dài 3 mét, cột cây sào theo cái thang, đứa đi trước cảnh giới đứa đi sau vác thang.
Đến trước nhà bác sau khi thử hướng gió thì bắt thang cuối hướng gió, trèo lên gần nấc thang cuối đưa cây sào vào chân con gà. Lúc này con gà đang ngủ vì có cái cây thọc vào chân nên đạp chân và đứng lên cây sào, cháu từ từ rút cây sào lại, khi gần đến kẹp cây sào vào nách vò hai bàn tay cho ấm mới bợ dưới bụng con gà để nó không kêu, xong từ từ xuống đường, đứa vác thang đứa ôm con gà về không gặp khó khăn gì. Vừa nghe đến đây bác bảo tuyệt diệu, bác từng ở lính đặc công, từng nghiên cứu đánh đồn giặc nhưng bác không nghĩ đứa bé hơn mười tuổi mà đã có sáng tạo cụ thể thông minh đến vậy. Bác nói giờ bác nghĩ cho cháu 5 đồng là hơi thiệt cho cháu.
Bác tạm biệt anh em tôi lên gặp thầy hiệu trưởng, không biết bác nói gì với thầy mà từ đó trở đi thầy có vẻ quý anh em tôi hơn và đặc biệt không còn la mắng học sinh như trước.
Còn về phần em đã bắt gà sẽ còn nhiều chuyện nói về sau.
CÂU CHUYỆN KHÔNG QUÊN
Khoảng cuối tháng Ba năm 1981, sau khi đi Hội trại do Đoàn Thanh niên tổ chức về ăn cơm tối xong cùng các bạn ngồi tán chuyện tầm phào trước phòng ở tập thể, trường Cao đẳng sư phạm Đà Nẵng thì có anh bảo vệ đến nói: “Em nào là Trần Sỹ Kỳ xuống phòng hiệu trưởng có việc”. Tôi vội đi theo anh. Đến nơi anh gõ cửa và nói “Báo cáo thầy em Kỳ có mặt ạ”, rồi anh ra khỏi phòng, đóng cửa. Thầy bảo tôi ngồi xuống và hỏi “Em có biết ai đây không?”. Với tinh thần cảnh giác tôi thưa “Dạ em đã thấy bác mấy lần khi bác về trường dự tổng kết năm học nhưng không rõ lắm ạ”. Thầy giới thiệu: “Đây là bác Phạm Đình Hảo, Phó Ty giáo dục, bác muốn gặp em có việc gì đó”. Tôi dạ, cảm ơn thầy. Bác hỏi “Cháu ăn cơm tối chưa, đi dạo với bác một lát được không, bác có việc này muốn trao đổi với cháu”. Tôi thưa “Dạ cháu ăn rồi ạ”. Bác và tôi chào thầy hiệu trưởng xong ra xe ô tô đậu trước sân trường. Khi lên xe bác mới nói “Trong trường các em đánh nhau với dân bên ngoài, một em học lớp Năm bị đánh, thương tích nặng lắm, bệnh viện Tam Kỳ đã chuyển ra Đà Nẵng nhưng em một mực không cho băng bó chữa trị mà cứ la hét đòi trả thù, bác nhờ cháu xuống bệnh viện động viên em cho bác sĩ băng bó ăn uống chứ không thì nguy hiểm đến tính mạng, máu không cầm được”. Nghe bác nói vậy là tôi hiểu ngay, các em học cấp một, hai ngày chủ nhật nghỉ học và tối tối hay đi dạo vào các xóm tìm hái ổi mít chuối dừa bắt con gà con vịt… nên dân chung quanh rất ghét. Mấy nhất là thanh niên hơi căng thẳng, có nhiều lúc xảy ra xung đột, chính quyền và nhà trường phải can thiệp hòa giải. Khi xe đến bệnh viện, bác bảo “Cháu vào động viên nó, bác sang phòng bác sỹ trực gửi gắm để họ chăm sóc chu đáo”. Tôi dạ rồi vào phòng em đang điều trị, thấy một bên mặt bầm tím, con mắt bên phải sưng vù còn vết thương nơi tay máu vẫn rỉ. Khi thấy tôi em oà khóc và mếu máo “Bọn nó muốn giết em anh ơi, một thằng ném trái bom bi vào mặt em, còn mấy thằng cố đâm em cho chết, em mà về lại là bọn nó chết với em”.
Tôi bình tĩnh hỏi “Em đã ăn gì chưa?” Rồi lấy cái bánh mì vừa mua trên đường đến đây bảo em ăn đi, anh em mình nói chuyện nhưng em phải cho bác sĩ băng vết thương đã chứ anh thấy máu là anh sợ lắm. Vậy là em đồng ý cho rửa vết thương, băng bó. Em có bà nội, cha mẹ và một chị là liệt sĩ, ở vùng quê nghèo có truyền thống Cách mạng nhưng do mồ côi thiếu người chăm sóc nên mặc cảm, học trễ, lại hay nghịch ngợm bướng bỉnh, các thầy cô ngại tiếp xúc nhưng các bạn cùng trang lứa thậm chí lớn tuổi hơn cũng nghe theo em. Thấy em tay bị thương để bác sĩ băng bó còn tay kia cầm cái bánh mì tôi vừa đưa ăn ngon lành mà lòng tôi xốn xang khôn tả. Phải chi đừng có chiến tranh ba mẹ em không hy sinh thì em đâu đến nỗi. Không cầm được nước mắt, tôi ra ngoài đứng đợi, khi các cô y tá và bác sĩ làm xong việc ra khỏi phòng tôi mới vào lại, lau nước mắt để em không nhìn thấy. Mắt và tay em đã được băng bó và vừa ăn cái bánh mì nên thần sắc bây giờ thấy đỡ hơn lúc trước. Tôi dặn em: “Phải nghe lời bác sĩ, y tá và uống thuốc, ăn đầy đủ chứ em mà la hét quậy phá không cho băng bó rửa vết thương làm sao mà lành và về đi học được. Em không được làm ảnh hưởng đến các bệnh nhân khác vì họ cũng nghèo khó và cực chẳng đã mới vào viện chữa trị bệnh tật. Đừng làm họ mất ngủ và khó chịu, anh sẽ đến thăm em khi hết học”. Vì là con mồ côi cha mẹ nên mọi chi phí chữa trị ăn uống đều được miễn phí. Do được tiêm thuốc và băng bó nên chắc thuốc ngấm thấy mắt em lim dim tôi bảo thôi em nằm xuống nghỉ, anh về hôm sau anh lại xuống thăm em. Nhìn em nằm lọt thỏm trong chiếc ra trắng mà lòng không cầm được, nước mắt cứ chực trào ra, tôi định ngồi xuống bên em dặn dò thêm một vài điều nhưng chắc em đang chìm vào giấc ngủ do thuốc đã ngấm. Tạm biệt em, tôi qua phòng bác sỹ trực gặp bác Hảo và hai bác cháu cùng về lại trường. Trên đường về bác dặn “cháu cố gắng học tập khi có điều kiện xuống thăm và động viên nó”, rồi bác lục ví cho tôi năm đồng, tôi cảm ơn bác trong lòng mừng thầm vậy là khi xuống thăm em có tiền đi xe buýt không phải mượn bạn bè vì nếu mượn thì phải cắt cơm một vài bữa ăn nhờ với các bạn lấy phần gạo ra bán mới có tiền trả nợ”.
Khi em ra viện Ty Giáo dục lại đem xe lên đón tôi xuống làm thủ tục và dặn dò em không được đánh nhau trả thù những người đã đánh mình mà chú tâm vào học tập để đủ điều kiện lên cấp hai. Bây giờ bác Hảo đã đi xa còn em cũng trưởng thành như những bạn bình thường và luôn thương anh Kỳ như khi còn đi học.
Tam Kỳ, những ngày vui thống nhất đất nước.
TRƯỜNG NỘI TRÚ TAM KỲ: MỘT THỜI ĐỂ NHỚ
Mỗi người có một tuổi thơ, ở đó có không ít những kỷ niệm vui buồn sướng khổ của một thời học sinh hay dỗi hờn.
Với các bạn là học sinh trường Nội trú Tam Kỳ khoảng lặng dường như quá dài nhưng dòng sông thời gian vẫn khó cuốn trôi mọi kỷ niệm về thời quá khứ.
Nó gói gọn đâu đó trong tâm khảm mỗi người khi có dịp là bùng dậy mãnh liệt hơn, cháy bỏng hơn, sâu sắc hơn… mọi điều mỗi người đã có. Cũng đúng thôi, trường Nội trú Tam Kỳ tồn tại từ tháng 11/1975 đến tháng 8/1982 tại số 15 đường Nguyễn Du xã Tam Thạnh thị xã Tam Kỳ (nay là phường Tân Thạnh, thành phố Tam Kỳ), là khoảng thời gian đủ dài để anh chị em chúng tôi trải nghiệm qua dòng đời lắng đọng.
Làm sao có thể quên được những đêm học bài khuya đói bụng rủ nhau ra ruộng rau muống hái trộm về luộc chấm muối sống ăn cho đỡ đói lòng để còn học tiếp.
Làm sao có thể quên được những đêm trăng sáng vằng vặc trước sân trường bên nhau quây quần múa hát nhưng bụng đói meo đành uống nước suông đánh lừa cái đói.
Làm sao có thể quên được những ngày lao động làm thủy lợi Phú Ninh, bụng đói cồn cào vẫn quyết tâm đạt chỉ tiêu Tổng đội giao cho.
Làm sao có thể quên những ngày đêm lao động ở nông trường Đức Phú trồng thơm, trồng chè với các anh chị em công nhân khổ mà vui để đời vô tư trong ngày tháng.
Làm sao có thể quên những ngày ở Đức Bố Tam Anh nuôi bò trồng sắn trồng khoai để cải thiện thêm bữa ăn cho các em nhỏ.
Làm sao có thể quên một thời ở trường Nội trú…
Những kỷ niệm ào về như dòng sông cuộn chảy, chảy mãi theo thời gian trong huyết quản mỗi học sinh trường Nội trú chúng tôi.
Bây giờ ai cũng đã già, thời gian đủ để cho ta trải nghiệm mọi sướng khổ buồn vui trên cuộc đời này, nhiều ham muốn đam mê chỉ còn là cái gì đó thuộc về quá khứ xa xưa để chỉ còn lại ký ức khó quên của một thời ấu thơ khờ dại.
Thầy cô bè bạn ai mất ai còn qua một vòng xoáy mưu sinh đầy trắc trở? Bây giờ làm sao để thỉnh thoảng ta còn gặp nhau để ôn lại thời ấu thơ gian khó?
Cái giá cho sự bình yên cuộc sống hôm nay là sự hy sinh của ba mẹ chúng mình và hàng triệu người đã ngã xuống, là sự mất mát không gì có thể bù đắp được cho từng đêm từng đêm nằm mơ về ba mẹ, vùi mặt trong chăn khóc thầm ba mẹ con đâu!
Cuộc sống của trường Nội trú là vậy đó. Sự thiếu thốn ngoài xã hội luôn dội từng cơn từng cơn vào ngôi trường và khoét sâu thêm nỗi mất mát đau thương của mỗi con người nhỏ bé, làm cho chúng tôi càng thấy thiệt thòi mất mát hơn lên.
Có người nói thôi hãy quên đi quá khứ, đừng nhắc lại mà đau lòng. Điều này chỉ đúng cho một số anh chị em thôi, số còn lại luôn có một niềm khao khát, khao khát cháy bỏng là làm sao chúng ta gặp mặt nhau tại nơi ta từng sống học tập thời gian dài, nơi đong đầy kỷ niệm buồn vui hờn giận thương nhớ cùng bè bạn thầy cô… Khi gặp nhau ta sẽ nói với nhau không những bằng lời nói mà còn bằng cả cái ôm thật chặt, bằng ánh mắt, bằng tình thương và bằng cả tấm lòng dồn nén trong những năm tháng cách xa.
Ý nghĩa là vậy, niềm sâu xa là vậy còn mọi việc khác bỏ đi. Dẫu rằng cuộc sống bộn bề lo toan cho cuộc mưu sinh đầy gian khó song mỗi người chúng ta chắc chắn không ai quên một thời bên bạn bên thầy.
Bây giờ phần lớn các thầy cô các chú cán bộ viên chức của trường và một số các bạn học sinh đã về nơi Thiên cổ, nhưng các bạn còn được sống những ngày trên quê hương đất nước an bình luôn hướng lòng mình đến thời thơ ấu đã qua mỗi khi có điều kiện gặp nhau.
Điều đó thật ngọt ngào sâu lắng, âu cũng là cái lẽ ở đời của mỗi người nặng lòng về quá khứ.
Hy vọng và ước muốn có một lần chúng ta gặp lại nhau ngay trên mảnh đất con đường ngôi trường chúng ta từng học từng đi qua.
Tam Kỳ đêm trở gió.
Tháng 11/2022
RƯỚC ĐUỐC BÁC HỒ
Ngày 22 tháng 12 năm 1977, nhận chỉ đạo từ cấp trên, thầy và trò trường Nội trú Tam Kỳ chuẩn bị cho một sự kiện quan trọng: RƯỚC ĐUỐC BÁC HỒ.
Đây là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong điều kiện kinh tế, xã hội đang vô cùng khó khăn thiếu thốn.
Việc đầu tiên là lãnh đạo Nhà trường mang phiếu được cấp sẵn đến cửa hàng xăng dầu Tam Kỳ nhận gần trăm lít dầu lửa về chuẩn bị trước. Một cán bộ được Nhà trường cắt cử vào vùng quê lùng mua một trăm ngọn tre tươi dài từ 1,5 đến 2 mét để sẵn.
Một cán bộ khác mua vải thô chuẩn bị làm tim đèn, khi có lệnh là nhúng các ngọn đèn vào dầu rồi đốt lên.
Đội Cờ đỏ của trường phân công các đội viên đứng thành hai hàng hai bên đường Nguyễn Du cách nhau 2 mét một người từ Quảng trường 24/3 thị xã Tam Kỳ về đến trường Nội trú tay cầm cờ đỏ sao vàng chào đón Đoàn rước đuốc Trung ương từ phía Bắc vào.
Mục đích là truyền ngọn lửa nhiệt huyết, tư tưởng vĩ đại của Bác Hồ đến cơ quan chính quyền từ Trung ương đến địa phương, các trường học, các đoàn thể chính trị – xã hội nhằm thắp lên ngọn lửa nhiệt tình Cách mạng trong lúc đất nước đang rất khó khăn.
Do đi đường bị trục trặc hay vì sự đón tiếp nhiệt tình nồng thắm ở các nơi Đoàn đã đi qua mà thị xã Tam Kỳ chờ từ 12 giờ trưa đến 19 giờ đêm vẫn chưa thấy Đoàn vào đến nơi, trời lạnh cắt da cắt thịt song các Đội viên Đội Cờ đỏ vẫn không ai bỏ vị trí, một vài người mệt quá do đói, lạnh mà xỉu thì nhanh chóng được đổi người khác.
Đúng 19 giờ 30 phút Đoàn hai xe hú còi từ từ tiến vào Quảng trường. Đi đầu là xe cảnh sát dẫn đường, sau là hai xe lãnh đạo trong đó một xe Trung ương còn một xe của tỉnh liền kề đưa Đoàn vào, kế đến xe để Đuốc Bác Hồ, tiếp sau là hơn mười xe ô tô đủ các loại lớn nhỏ, thể hiện sự hùng hậu của đội quân sẵn sàng làm theo lời di huấn của Người.
Quảng trường 24/3 được trang hoàng lộng lẫy: phía trên khán đài phông màn rực rỡ sân khấu cờ hoa hai bên từ trong ra đến ngoài đường. Hàng trăm em thiếu nhi cấp hai cầm cờ đỏ sao vàng vẫy vẫy cùng với nhân dân ngồi kín các dãy ghế trước khán đài. Nét mặt ai cũng trang nghiêm chứa trong đó niềm khát khao hy vọng rồi đây đất nước sẽ có nhiều thay đổi, người ta hy vọng cuộc Rước đuốc Bác Hồ sẽ làm cháy lên ngọn lửa yêu nước vốn có của người dân Việt Nam có thể đốt cháy mọi khó khăn thiếu thốn trong cuộc sống hiện tại của nền kinh tế từ thời chiến chuyển sang thời bình.
Thầy trò trường Nội trú phấn khởi nhận ngọn đuốc từ thùng đuốc to của Đoàn Trung ương, trân trọng tách Đoàn đưa về trường để trước khán đài có tượng Bác Hồ, hoa tươi cờ Tổ quốc… đã được xây dựng từ hôm qua và phân công Đội Cờ đỏ thay phiên nhau túc trực không được để tắt lửa.
Băng nhạc mở nhè nhẹ những bài ca Cách mạng có từ trong kháng chiến phát trên loa làm náo nức lòng những người yêu nước, gợi nhớ một thời hào hùng của dân tộc
“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai”
(Tố Hữu)
Đoàn rước đuốc Trung ương tiếp tục cuộc hành trình vào các tỉnh phía Nam, còn ở thị xã Tam Kỳ tất cả các cơ quan đều thực hiện theo chỉ đạo chung như trường Nội trú.
Bàn thờ và ngọn đuốc cháy liên tục đến gần một tuần và mỗi ngày đêm đều có các Đội viên Cờ đỏ túc trực 24/24.
Để thích ứng với thực tế và tận dụng thời gian không bỏ trống, thầy Hiệu trưởng yêu cầu có bộ bàn ghế bên cạnh để các em vừa túc trực vừa học bài, đến giờ ăn trưa, ăn tối có người đến thay, Ban Giám hiệu và giáo viên chỉ kiểm tra đột xuất không báo trước.
Các anh chị cấp hai, cấp ba bây giờ gặp lại nhau mọi người khi nhắc đến đợt RƯỚC ĐUỐC BÁC HỒ lần đó như là một kỷ niệm khó quên ở một giai đoạn đáng nhớ về quê hương đất nước.
![Trường Nội trú Tam Kỳ Một thời thương nhớ [Kỳ 2] - Tác giả Nhà thơ Trần Sỹ Kỳ Trường Nội trú Tam Kỳ Một thời thương nhớ [Kỳ 2] - Tác giả Nhà thơ Trần Sỹ Kỳ](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2025/07/Truong-Noi-tru-Tam-Ky-Mot-thoi-thuong-nho-Ky-2-Tac-gia-Nha-tho-Tran-Sy-Ky-1068x1083.jpg)



















