Yên Tử. Cái đỉnh thiêng chưa từng nhìn thấy, đôi khi, vẫn ẩn hiện qua những giấc mơ màng. Và giờ đây, lúc 15giờ 37 ngày 3.10.2008, khi chỉ mới đặt bước chân trên bậc cấp đầu tiên dẫn lên chùa Lân (xã Thượng Yên Công, thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh), sao lòng tự dưng bỗng như nghe những tiếng mơ hồ của ngày-trăm-năm lẩn khuất, đâu đây…
Núi Yên Tử ( Quảng Ninh).
Tiếp người khách xa và lạ với phong thái khoan hòa, giọng Huế nhẹ, thầy Kiến Viên nhắc lại những truyền thuyết và đôi nét về lịch sử chùa Lân từ trước khi vua Trần Nhân Tông rời cung vào núi; và sau khi Người đắc đạo, chùa có thêm tên gọi là Long Động Tự. Giờ đây, đến Yên Tử, khách du và Phật tử các nơi hầu như không thể không viếng chùa. Mấy năm trước, báo chí đã đưa tin về việc trùng tu ngôi chùa nhưng lúc này, đứng trước ngôi đại hùng bảo điện trang nghiêm bề thế, tôi không tưởng được tiến độ thi công lại có thể nhanh chóng đến vậy: hoàn thành trong ba tháng rưỡi. Thầy Kiến Viên – người đảm nhận việc xây dựng công trình – giải thích: Cho kịp kỷ niệm ngày Ngài đắc đạo: 1.11 âm lịch. Và đã sáu năm trôi qua từ cái bước đầu ấy, để hôm nay, Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử đã hoàn thành các hạng mục còn lại: nhà tăng nhà ni nhà khách nhà trù… Bên trái chùa, từ dãy nhà tăng nhìn xuống, là hồ phóng sinh khá rộng đang được thi công. Còn ở một nơi khác, 18 pho tượng La hán bằng gỗ hương, có kích thước tương tự như người thật, đang được những nghệ nhân làng nghề Đồng Kỵ nổi tiếng cố gắng hoàn thành trước ngày 1.11 âm lịch năm nay. Dịp này, hội thảo 700 năm ngày nhập diệt của sơ tổ thiền phái Trúc Lâm Yên Tử – vị vua anh hùng Trần Nhân Tông – cũng sẽ diễn ra. Để đời nay và đời sau nhận biết rõ hơn công lao và nét độc sáng của một danh nhân Việt: Trần Nhân Tông-Trúc Lâm đầu đà, bậc đạo sư khai sáng với yếu chỉ Đạo trong Đời.
Đêm đầu tiên dưới mái chùa Lân, phía sau hiên nhà, tiếng gió lào xào qua cây đa-cây thị đứng kề bên nhau như dịu dàng ru giấc. (Cái cây thị sắp bị cây đa 700 tuổi với những cánh tay rễ bủa vây “siết cổ” đến sắp chết, không hiểu sao, bỗng lại xanh lá?). Trong mơ, màu gió xanh cứ nhè nhẹ, mơ mơ. Những dòng viết tặng màu áo vàng ấm dưới mái chùa này chợt nhảy múa: “Thuyền Nam ngược sóng neo bờ Tổ / Cho thắm Việt thiền nét trúc mưa…”
Thiền viên Trúc Lâm Yên Tử ( Quảng Ninh).
5giờ 40 sáng. Đường từ chùa Lân vào chân núi khoảng gần ba cây số. Vắng ngắt. Thỉnh thoảng, lác đác một-hai chiếc xe gắn máy từ hướng núi ngược chiều ra, chở những súc gỗ to. Có lẽ thuộc loại danh mộc. Để tránh né nhân viên kiểm lâm chăng? Dường như ở đâu, gỗ cũng bị săn. Cái gì càng quí, càng bị truy đuổi! Phải chăng, chỉ có tiếng suối reo quanh và màu xanh kia (dù cũng bao phen bị tàn lụi) là bền lâu? Phải chăng, để sống được giữa thế giới vật chất đang “át giọng” này, thái độ của Lão Tử là đúng? Như để phi bác những suy nghĩ tiêu cực vừa chợt đến, một thanh niên đi xe máy dừng lại: Chú lên xe đi. Cháu đưa chân giúp một đoạn. À, thì ra, ở bất cứ nơi nào, tình người vẫn không thiếu! Lại thêm dịp nữa trong nhiều lần, hiểu được vì sao cuộc sống không bao giờ chịu dừng chân. Đó là Thiết, 37 tuổi, thuộc một đội xây dựng đang làm việc cạnh chân núi. Chào chàng trai tốt bụng, vui mà nói vui: Cứ giữ lòng như thiết, Thiết nhé.
Lại ghi tiếp, về chuyện tấm lòng. Năm 1993, ni sư Chân Đức ở Canada đã góp 100 triệu đồng để tu sửa Giải Oan thiền tự. Ông Tạ Mạnh Tấn và những người thợ Nam Trực (tỉnh Nam Định) đã góp công cho chùa được khánh thành vào tháng 11 năm Đinh Sửu-1997. Để những thế hệ kế tiếp còn biết chuyện các cung nữ, sau khi tiễn vị vua trẻ tuổi đến chân núi, đã trầm mình nơi dòng suối này cho trọn tiết thủy chung. Chùa Giải Oan, phải chăng là để… giải Tình, cái món nợ lớn nhất đời người, cái bi kịch muôn thuở của nhân loại! Còn người khách hôm nay, một chấm nhân sinh nhỏ bé lòng còn tràn đầy vọng tưởng thì giờ đây, đứng yên lặng, một mình giữa núi rừng u tịch lắng tai tiếng suối thì lại tin rằng, bao oan khiên một đời của những người cung nữ kia đã được hóa giải ngay từ lúc họ buông tấm thân tứ đại không thường xuống dòng nước mà không phải trôi lăn trong dòng hữu phần bất tuyệt. Bởi, họ đã sống hết lòng, đã đi trọn cuộc phù sinh ngắn ngủi này mà không hề luyến tiếc bao sắc hình cám dỗ của chốn trần gian. Không mang theo nhang thắp, xin đặt bên bờ suối lời chào an tĩnh trước cảnh giới không-thời-gian, gửi đến những gương mặt phấn hoa hơn 700 năm trước, đã tạc vào lịch sử một nét trinh. Và lại bước tiếp, thầm hình dung lối mòn khúc khuỷu mà vua Trần Nhân Tông đã đặt chân lên, bước theo con đường của nội tổ Trần Thái Tông (57 năm trước đó) để khai mở dòng thiền Việt.
Chùa Đồng Yên Tử.
Nhị tổ của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là Pháp Loa còn lưu lại câu kệ: “tâm bổn phi tâm / tâm tức thị Phật”. Tam tổ Huyền Quang thì hiển lộ: “tham thấu thị phi bình đẳng tướng”. Vua thứ nhất của nhà Trần thì một hôm bỗng buông sách mà hoát ngộ khi đọc Kinh Kim Cang đến câu “ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm”. Thì ra, cái thực tướng của đạo-đời, cái qui luật vĩnh cửu của vũ trụ, vốn là Một. Và là sự phủ định triệt để mọi định thức. Để đến với cái Là-Như-Thế, phải đi qua hết cuộc nhân sinh. Và làm xong những gì phải làm. Trước ngày nhường ngôi cho con trai Trần Thuyên để bước lên Yên Tử làm nhà sư lúc 35 tuổi (năm Quí Tỵ-1293), vua Trần Nhân Tông đã hai lần chỉ huy quân-dân Việt đánh tan đạo binh mạnh nhất thế giới lúc đó. Ba mươi lăm tuổi, ở đỉnh cao quyền uy và sự kính ngưỡng của toàn dân! Có sự buông bỏ nào lớn hơn? Để chọn một vách núi cheo leo làm nơi đọc sách-tham thiền. Đứng trước dấu tích của Chùa Một Mái, nơi ngụ ngày xưa của Người, càng ong kính ngưỡng tâm hồn và trí tuệ của vị vua trẻ. Bề ngang của “chùa” chỉ khoảng hơn một mét, dựa vào vách đá dựng đứng mà ngay trước “thềm” là vực sâu ngút. Nhìn ra, cảnh trí vừa hùng vĩ vừa nên thơ. Chợt hiểu rằng, hạnh phúc đối với Con Người Lớn này không phải là sơn hào hải vị hay những đệ nhất tửu-sắc của chốn vương triều mà chính là cảnh mưa tạnh, hoa rơi, non vắng lặng / chim kêu một tiếng lại xuân tàn (thơ Trần Nhân Tông, Hòa thượng Thích Thanh Từ dịch). Và, hạnh phúc đích thực cũng không chỉ là cảnh núi non tịch mịch, mà ở sự Nhìn-Thấy thực tướng của sự sống nằm ngay trong “nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn” kia. Xuân tàn, để rồi trở lại xuân mới. Mới như hai lối cúc-tùng dẫn lên tháp Tổ 700 năm trước vẫn biếc tơ. Và mới, bây giờ, đối với người đến Yên Tử lần đầu, một mình trong buổi sáng nay, rũ tấm ong bụi bặm trước tháp Tổ để hiểu rằng, hạnh phúc hiện ra tự nhiên như ngọn gió mát lạnh khí núi đang thổi vào lưng áo đẫm mồ hôi. Tháp được xây năm Kỷ Dậu (1309, niên hiệu Hưng Long thứ 17, gần một năm sau đêm mùng 3.11.1308, khi nhà vua hiển Phật lúc 50 tuổi), gọi là Huệ Quang kim tháp, ghi nhớ công đức của Đại thánh Trần triều Trúc Lâm đầu đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật. Khu tháp Tổ còn có nhiều tháp khác, chỉ tiếc là một số tháp không thấy ghi tên tuổi-pháp hiệu của người viên tịch!
Phía sau, đường cúc-đường tùng thoảng nhẹ tiếng gió ngàn năm.
Đoạn đường từ tháp Tổ trở lên bị sạt lở nhiều. Và khá dốc. Không còn tiếng suối gần xa, như để “dọn lòng” cho khách tiến gần hơn với sự yên tĩnh trước khi lên đến đỉnh thiêng. Và núi và rừng, như để bày tỏ sự thật về những điều gọi là Đúng-Sai, Tốt-Xấu… vẫn chìm trong mù, nơi mọi đường nét bị xóa mờ. Trong cảnh trí này, trên độ cao này, bỗng dưng trực cảm được hồn cốt của tranh thủy mặc: tính chất mơ hồ của bên ngoài chính là cây cầu dẫn về sự yên tĩnh. Và như thế, đi du lịch là mượn cảnh-bên-ngoài để hiểu rõ hơn cái-bên-trong? Điều ấy không chỉ dành cho riêng ai: trên khoảng đường lên chùa Đồng, gương mặt giọng nói tiếng cười của nhiều khách du đều có nét vui nhẹ nhàng, dù mồ hôi thấm đẫm.
Chùa Đồng (Thiên Trúc Tự) ở độ cao 1068m so với mặt biển, đã được trùng tu nhiều lần, lần gần nhất vào hai năm trước, từ đóng góp của Phật tử nhiều nơi. Việc kiến tạo chùa do các nghệ nhân nổi tiếng của làng đúc đồng Ý Yên (Nam Định) thực hiện, đúc theo nguyên mẫu của chùa Dâu Keo (Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Chùa có diện tích 4,6m x 3,6m; chiều cao từ cột nền tới mái là 3,35m, nặng 70 tấn; trong đó, mỗi viên ngói nặng khoảng 4 kg, 4 cột chùa mỗi cột nặng 1 tấn. Trong chùa, có một pho tượng Phật Thích Ca và ba pho tượng Tam Tổ Trúc Lâm, kích thước cao trung bình từ 0,45 – 0,87m.
Chỉ hơi tíếc, những câu thơ đề “non” quá, không cân xứng với công trình. Vị tu sĩ Khai Nguyên 37 tuổi “trấn thủ” nơi này là người khái tính, hơi “nóng” một tí nhưng rất nồng nhiệt với khách phương xa; sau khi trò chuyện, đã dặn đệ tử thu xếp chỗ ở cho khách (cách chùa vài trăm mét, vì theo nội qui, khách không thể lưu lại trong chùa). Tiếc thay, cái dự định qua đêm trên đỉnh núi để được “thấm tận” khí vị chốn non thiêng đã không thành: tin thời tiết báo, ngày mai sẽ mưa to gió lớn! Để bù lại, trên đường xuống núi, bằng cáp treo, lại được hòa vào niềm vui cùng với nhiều người khác, những người mà trên đường về, dù ý thức hay không, dù ít hoặc nhiều, dường như đều có sự thay đổi nào đó, trong sâu xa cảm nhận. Thiên nhiên đã làm cái công việc lặng thầm mà hiệu quả: rót vào lòng trần đôi ánh trong sạch của dòng sống bất tuyệt.
Phía sau, dáng chùa vẫn tạc vào khoảng xa xanh phóng khoáng kia một nét nghiêm mà dịu, theo ngọn gió chiều rộng rãi, gửi vào hư không những tiếng không lời…
*
Sân chùa Lân. Buổi sáng sớm yên tĩnh. Đảnh lễ trước đại hùng bảo điện trong niềm vui từ giã pha chút bùi ngùi: lại trở về với chốn bụi bay.
Anh Thiện, một cư sĩ tại chùa tiễn xuống núi. Tôi giữ bàn tay anh, nghe hơi ấm của tình người. Như một điều có thực.
Và phút chốc Yên Tử đã trở thành dài lâu…
Yên Tử – Hội An, tháng 10.2008



















