Thế giới muôn màu muôn vẻ mà ở đâu đó, chúng ta vẫn luôn bắt gặp những con người không sống trong ồn ào, náo nhiệt, chẳng cần hào quang, cũng chẳng cần được đứng trên bục vinh quang mới là đích đến cuối cùng của cuộc đời, họ lặng lẽ đi giữa đời như một dòng sông nhỏ, dù vẻ ngoài lặng lẽ, yên ả, nhưng tận sâu bên trong những mạch ngầm của lẽ sống, lý tưởng, tình yêu đang cuồn cuồn chảy, sục sôi, bền bỉ đến bất diệt. Họ âm thầm mang đến cho đời những di sản mang giá trị vượt thời gian, bất chấp giông tố cuộc đời vùi dập vẫn sừng sững đứng đó và ngày càng tỏa sáng hơn.

Trong dòng chảy văn học nghệ thuật hiện đại, họ là những người không sử dụng ngôn từ quá khoa trương, mỹ miều, ở nơi giao nhau giữa chủ nghĩa sự thật và bức tường hiện thực, họ chọn đứng về phía sự thật, bất chấp mọi rào cản, định kiến, thậm chí là trả giá bằng cả sự nghiệp cầm bút, họ viết bằng chính khí phách, bằng lý tưởng sống của chính mình để rồi tạo ra những tác phẩm khiến người đọc lặng người, thắt tim lại khi thấy trong đó là cả một đời người đã sống, đã yêu, đã đau khổ, đã đắng cay những vẫn khẳng khái giữ trọn nhân cách như một tường thành vững trãi đến tận cùng. Đó chính là nhà thơ Phùng Quán – một kẻ lãng du sáng tác không vì danh vọng, mà làm thơ để giữ vững Lời mẹ dặn – hãy sống cho ra một con người.
Phùng Quán sinh tháng 1 năm 1932, tại xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, (nay là phường Thủy Dương, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên – Huế), tuổi thơ của ông là những năm tháng sống trong nghèo đói và chiến tranh. Năm 1945, khi mới 13 tuổi Phùng Quán tham gia Vệ quốc quân, là chiến sĩ trinh sát Trung đoàn 101 (tiền thân là Trung đoàn Trần Cao Vân). Sau đó ông tham gia Thiếu sinh quân Liên khu IV, đoàn Văn công Liên khu IV. Đầu năm 1954, ông làm việc tại Cơ quan sinh hoạt Văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam (tiền thân của Tạp chí Văn nghệ Quân đội). Phùng Quán từ một người lính gan dạ, kiên trung đã dần bén duyên với văn học nghệ thuật bằng tác phẩm đầu tay Vượt Côn Đảo được giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1955.
Năng khiếu văn chương của Phùng Quán được bộc lộ từ rất sớm với khởi đầu là truyện ngắn và ký sự chiến trường, sau đó là tiểu thuyết, hồi ký,… nhưng thi ca mới thực sự là thế mạnh của ông. Hệ thống tác phẩm của Phùng Quán không nhiều, nhưng mỗi tác phẩm là một vết cắt sâu vào hiện thực, vào thời đại mà ông đang sống – một thời đại mà “ai cũng gù, mình thẳng lưng sẽ thành khuyết tật”, ông đã chọn nói và nói bằng ngòi bút của mình, để lại những di sản quý giá như một tượng đài về sự trung thực, không bị mua chuộc, không thỏa hiệp và văn chương không cúi đầu.
Sách Tuổi thơ dữ dội (tập 1,2,3) của nhà thơ Phùng Quán.
Có thể thấy, xuyên suốt các sáng tác của Phùng Quán, nhất mực là những khúc ca hùng tráng của người cầm bút chân chính một đời viết cho sự thật, cho niềm tin bất hủ vào chân lý, vào khát vọng tự do, cho trách nhiệm và cách sống đúng không hổ thẹn với lòng, với đời, với người. Thơ ông đơn giản nhưng không tầm thường, chỉ là những từ ngữ giản dị, không bóng bẩy, không hoa mỹ cũng chẳng cầu kỳ nhưng lại làm nên điều bất hủ, đó là thứ văn chương chảy ra từ máu thịt, từ những trải nghiệm thật nhất, đau đớn nhất, khắc khoải nhất, là tiếng kêu của một lương tri bị đẩy ra ngoài lề xã hội.
Lời mẹ dặn là một bài thơ vô cùng đặc biệt đã trải qua bao thăng trầm, giông tố cùng với nhà thơ Phùng Quán. Bài thơ không dài, lời thơ không cầu kỳ, hoa mỹ mà giản dị như tiếng ru êm quê nhà nhưng đã khắc họa thành công phẩm chất kiên trung, tôn trọng sự thật của tác giả. Bài thơ đã trở thành một bản tuyên ngôn sống như một lời thề về sự trung thực mà ông mang theo đến hết cuộc đời:
Lời thơ không cầu kỳ, không biện pháp tư từ mà mà sao trầm lắng chạm đến thẳm sâu trong lòng người đọc đến thế. Phùng Quán đã tìm về ký ức thiêng liêng với lời mẹ dạy trong gian nhà nghèo khó ngày xưa để neo đậu tâm hồn, để đủ sức chống đỡ những biến động của xã hội đương thời. Khi viết những dòng ấy, Phùng Quán không đơn giản đang làm thơ. Ông đang dằn vặt, đang oằn mình phản kháng lại hiện thực xã hội, ông đi qua tận cùng của gian khổ nhưng vẫn chọn ở lại với sự thật: Dù ai cầm dao dọa giết/ Cũng không nói ghét thành yêu. Câu thơ ấy vừa nhẹ tựa lông hồng mà vừa nặng tựa núi Thái Sơn, nói sự thật mà sau đau thế, nghẹn thế, như một vết cứa âm ỉ khiến ta nhìn thấy một tâm hồn rắn rỏi dù đã bị dồn đến tận cùng nhưng vẫn ngẩng cao đầu không chịu khuất phục. Ta không cần ai bênh vực, không cần ai tung hô, cũng chẳng cần danh hiệu, ta chỉ cần giữ Lời mẹ dặn.
Trung thực tuyệt đối chính là phong cách sáng tác của Phùng Quán. Văn chương của ông là thứ văn chương không cúi đầu, không sợ hãi, không ngụy tạo, không chạy theo đám đông hay theo những quy củ của xã hội. Nói như thế không có nghĩa những gì Phùng Quán viết là không đúng, chỉ là đối với thời đại ông đang sống, có những khuôn khổ, khuôn phép buộc người ta phải cúi đầu, phải lựa lời mà nói, lựa câu mà viết cho vừa lòng nhau, và những người dám nói, nói đúng, nói thật thì phải đổi lại cái giá bị cô lập, bị lên án, bị buộc tội và đẩy những tài năng ấy ra khỏi ranh giới của văn chương. Xót xa thay, sự thật khiến người ta phải trả giá bằng cả khoảng đời lưu vong trong im lặng, sống chui, nghĩ chui, viết chui, in chui, thậm chí để được in sáng tác của bản thân mà phải thay tên đổi họ. “Nhân văn giai phẩm” đã khiến nhà thơ Phùng Quán bị kiểm điểm, bị quy tội vì bài thơ Lời mẹ dặn và bài thơ Chống tham ô lãng phí đều được in trên báo Nhân văn, Phùng Quán đã bị cấm sáng tác, bị kìm hãm trong nhiều năm, chật vật gian khổ.
Nhà thơ Phùng Quán đã từng khẳng định: “Tôi không thể sống mà không viết”, thì có há gì những ngăn sông cấm chợ có thể cản bút đam mê, cản trở tâm hồn và lý tưởng nghệ thuật của ông. Dù có khó khăn, có gian khổ, ông vẫn sống, vẫn làm nhiều nghề khác nhau để nuôi vợ con và vẫn ngày đêm miệt mài với cây viết của mình, ông vẫn tiếp tục viết trong bóng tối, trong nghèo đói, trong cô đơn, dù trong âm thầm những nó cũng đủ để thỏa mãn tình yêu, niềm say mệ nghệ thuật của kẻ lãng du Phùng Quán. Sau nhiều năm khó nhằn, Phùng Quán được “phục hồi danh dự”, ông cho ra đời nhiều tác phẩm đặc sắc trong đó có tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội – một bản hùng ca bi tráng dành cho những thiếu niên ở độ tuổi 13, 14 trong hàng ngũ Đội thiếu niên trinh sát của Trung đoàn Trần Cao Vân đã chiến đấu, đã hy sinh và đã yêu nước bằng tất cả những gì mình có. Chúng ta sẽ bắt gặp những nhân vật như Mừng, Lượm, Quỳnh sơn ca,… đã tự nhiên đi vào tâm hồn độc giả như những người bạn thật sự, đầy cảm xúc, sống động và ám ảnh. Tuổi thơ dữ dội không chỉ là câu chuyện về những thiếu niên anh dũng đi làm cách mạng mà sâu xa đó là tuổi thơ đã bị cướp mất bởi khói lửa chiến tranh, mỗi nhân vật là một mảnh hồn ngây thơ, hồn nhiên đã vỡ vụn, đã rớm máu nhưng vẫn sáng lấp lánh bởi lý tưởng và khát vọng sống và công hiến cho Tổ Quốc. Là một chiến sĩ đã từng tham gia kháng chiến ngay tại Trung đoàn 101, Phùng Quán có cho mình những tư liệu và trải nghiệm đắt giá để viết nên những trang tiểu thuyết vô cùng chân thực, sâu lắng và xúc động. Hay đằng sau những trang văn dũng cảm ấy chính là những ám ảnh của Phùng Quán về chiến tranh, về mất mát, về cái giá mà con người phải trả để giữ trọn lý tưởng, niềm tin và tình yêu Tổ quốc. Tuổi thơ dữ dội đã làm dậy lên tinh thần yêu nước, yêu đồng bào, lòng biết ơn đối với các thế hệ đã anh dũng hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc.
Bìa 3 cuốn sách mới tái bản của Phùng Quán.
Ngoài hai tác phẩm tiêu biểu trên, Phùng Quán còn để lại những sáng tác tuy không nhiều về số lượng nhưng giá trị của những tác phẩm này là vô cùng to lớn như: Tôi muốn mời đến Tổ quốc tôi (thơ); Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo (trường ca); Trên bờ Hiền Lương (bút ký); Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào? (hồi ký), Ba phút sự thật (ký), Trăng hoàng cung (tiểu thuyết thơ), Phùng Quán còn đây (di cảo của Phùng Quán và Hồi ức của bạn bè) … đều là những lát cắt sâu sắc về một người không khuất phục, không thoả hiệp, dù bị vùi dập, của văn chương chân chính. Năm 2007, Phùng Quán được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật với các tác phẩm: Vượt Côn Đảo (tiểu thuyết), Tuổi thơ dữ dội (tiểu thuyết), Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo (trường ca).
Phùng Quán viết không chỉ là kể một câu chuyện, mà ông dùng ngòi bút như một vũ khí, đó là một phong cách văn học nghệ thuật vô cùng đặc sắc và hiếm hoi. Phùng Quán mất năm 1995, để lại một di sản văn học không lớn về số lượng nhưng giàu về chất lượng, chiều sâu tư tưởng và khí chất. Ông là hiện thân của một thời đại văn chương đau thương nhưng đầy nhiệt huyết, dằn vặt nhưng cũng đầy khí chất. Đối với độc giả, bạn bè và đồng nghiệp luôn lưu giữ hình ảnh nhà thơ Phùng Quán như một người chính trực, viết bằng tâm can, bằng niềm tin và sự thật, sống và chết với ngôn từ của mình. Hành trình sống và viết của ông đáng được tôn trọng và học hỏi không chỉ vì tài năng mà còn vì sự chính trực và lòng dũng cảm đã chống lại bất chấp sự cô đơn và trả giá. Sáng tác của ông sẽ sống mãi, không chỉ đơn giản vì nó hay, mà còn vì nó toát lên cá tính, lòng dũng cảm và một trái tim không nao núng trước thời cuộc. Có lẽ, cho đến cuối đời, Phùng Quán chưa có một vị trí xứng đáng trong thế giới văn chương như chúng ta hy vọng. Nhưng tôi tin rằng, nếu được lựa chọn lại, ông vẫn sẽ đi theo con đường cũ – con đường tôn trọng sự thật đến cuối cùng.
Đến nay, người đã về với đất mẹ, tên ông cũng hóa tên đất từ bao giờ. Tại quê nhà Thừa Thiên Huế đã có một con đường Phùng Quán rất đẹp. Khi tên người hóa thành tên đường phố cũng chính là cách mà xã hội thừa nhận, tôn vinh công lao, sự công hiến, đưa hình ảnh những con người tài hoa vào trái tim của không gian và thời gian.
Một người trẻ như tôi, luôn luôn khi viết về một nhân vật, một tác phẩm, một đề tài nào đó, tôi đều tìm thấy trong đấy những liên kết, những nhắc nhớ, những bài học giá trị cho thực tiễn hôm nay và mai sau. Tôi đang sống ở một thời đại rất phát triển, nơi mà cuộc sống vội vã khiến ta nhiều khi dễ bị cám dỗ, bị mất phương hướng rồi đánh mất mình giữa những toan tính thiệt hơn, giữa xa hoa phú quý, vì danh lợi tiền tài mà đấu đá tranh giành, thì Phùng Quán sẽ như một tượng để nhắc nhở chúng ta rằng sự trung thực, sống thật, sống vì bản thân được sống, được nói, được là chính mình, sống đúng với niềm tin và lương tâm của mình, đấy mới là giá trị cốt lõi của cuộc sống, của nhân cách.
Quả thật sự thành thật, kiên định, có chính kiến thật không dễ dàng. Chúng ta, ai rồi cũng đã từng, đang và sẽ trải qua những khoảnh khắc chông chênh giữa hai ngã rẽ, hoặc bước tiếp trên con đường trung thực sẽ cô đơn và đầy chông gai, hoặc chọn theo số đông bất chấp đúng sai, ngoảnh mặt làm ngơ, nhắm mắt cúi đầu chọn con đường an toàn. Tôi hy vọng, dù như thế nào chúng ta cũng nên khắc cốt ghi tâm rằng tiền tài, danh vọng luôn đi sau nhân cách. Tại sao Phùng Quán một đời không màng danh vọng nhưng tên ông lại sống mãi đến mãi về sau, đặc biệt là trong giới văn học nghệ thuật? Bởi vì ông là một người cầm bút chân chính, là người dám đứng về phía sự thật, dù điều đó khiến ông phải đi một mình nhưng ông đã giữ bản thân mình được “trọn vẹn”.




















