Tập thơ “Lực Điền” với dáng vóc thi ngôn nhuần nhuyễn đậm chất nhân văn của người thơ Nguyễn Thành, đã trình làng từ quý 4 năm 2005. “Lực Điền” đến với tôi khoảng cuối đông 2012. Tôi say sưa đọc thơ anh, cảm nhận, trích dẫn ngay bên lề bài in về cách viết, cách diễn tả cảm xúc, kiệm chữ, ẩn dụ và đa nghĩa. Câu thơ dẫn làm đề từ cho cả tập thơ khiêm nhường ở góc trên bìa 4:
Là người yêu thơ đồng hành với từng trang thơ Nguyễn Thành, có chút ít hiểu biết về tính cách con người và thơ anh, nhưng vì bận bịu ôm đồm nhiều thứ việc, nên bài viết lẫn trên kệ sách quá chục năm trời. Thi thoảng đâu đó vẫn văng vẳng nhịp thơ anh, mỗi khi tôi nhớ đến.
Tập thơ Lực Điền của nhà thơ Nguyễn Thành.
Những bài thơ trong tập “Lực Điền” anh viết có cái tên vừa lạ vừa quen đều được đóng mác, dập khung một vài câu không thể không nhớ:
Nỗi buồn không lời diễn tả, ngấm sâu vào căn nguyên nào đó của thể tạng “Lực Điền” cũng đã được gọi tên:
Nhân cách đáng quý nhất mọi thời của con người phải được truyền đạt, tiếp thu từ nền tảng gia đình:
Bản lĩnh cuộc sống nếu đơn độc sẽ nhận lấy kết cục cô đơn. Điều đơn giản là môi trường sống (môi sinh) đều cần có sự tương tác trao đổi qua lại với nhau:
Với tình người, tình đời anh bỗng ngẩn ngơ khi biết rằng mình đã trao đi yêu thương, nhận về vô cảm:
Đáng lưu tâm hơn cả, là trong tập thơ “Lực Điền” của nhà thơ Nguyễn Thành còn có sự hiện diện một chùm ba bài thơ viết về chợ; Ngồi buồn giữa chợ, Về chợ, Chợ chiều: Hình ảnh chợ quê, đình làng là nơi vun đắp hành trình trải nghiệm nếp sống văn hóa đã bám rễ sâu vào tâm trí mọi người dân Việt; thân thuộc như cây tre, khóm chuối, như nương dâu, bãi mía quê mùa.Trong bài “Ngồi buồn giữa chợ” còn chuyển tải cụm từ lâu nay ít người nhắc đến “dân Kẻ Chợ” :
Kẻ Chợ là cách gọi Thăng Long xưa sầm uất, dành cho những người buôn bán đến từ tứ xứ. Thời nào cũng có những người giao thương, họ đều phải tìm cho mình nơi kiếm tiền thuận lợi, những địa danh lưu thông đắc địa “Nhất cận thị, nhị cận giang”.
Chỉ vài nét phác thảo đã hiện ra chân dung người xa xứ, tha hương mải chuyện mưu sinh:
Ngày ấy, cảnh ấy, người ấy buổi áo tơi nón lá, áo vá quần thâm hiển hiện giữa lằn ranh thuở trước. Vẫn là quán lá, mái tranh nghèo nhưng có khi vui vẻ hồn nhiên, thi sỹ Hoàng Cầm đã tạo tác và lưu giữ bức họa viên mãn cho không gian xưa:
Ngày nay khi đất nước chuyển mình, tất cả đều vận hành theo nhịp sống mới; có điều kiện hơn, chợ to hơn, đẹp hơn, kiên cố hơn, hiện đại hơn, sang chảnh hơn, toàn là những siêu thị, trung tâm thương mại tên Tây – Ta rủng rỉnh: Vincom, Lote… Người xa xứ đến đây là những nữ nhân viên, tiếp thị viên đẹp như người mẫu trưng bày, khách đến thì khoanh tay cúi chào, nhoay nháy tính tiền, quẹt thẻ. Rảnh thì tô son, điểm phấn, ghếch chân, uốn người, tay lướt phím, mắt đảo theo màn hình iphon tủm tỉm cười vô định. Còn đâu những người lam lũ, chân đất, tóc xù, quần nâu, áo vá lê la mà “Ngồi buồn giữa chợ”như trong cổ tích. Có chăng là một kiểu mặt nạ không cảm xúc công nghệ (AI) hình hài được mã hóa hợp gu thời thượng.
Dân gian có câu “Gái thương chồng đương đông buổi chợ” phụ nữ xưa hết mực thương chồng, dù ra ngoài đầy cám dỗ, nhiều lời tán tỉnh có cánh vẫn nguyện một lòng:“Chồng em áo rách em thương” không thứ gì làm khuất lấp và hao mòn ý chí son sắt, thủy chung:
Bài thơ “Về chợ” được tác giả cấp giấy chứng sinh từ thuở hàn vi:
Mong đấy nhưng cũng nghi ngờ đấy, ghen đấy:
Đọc đến đây ta như được gặp lại cái ghen kinh điển của tài thơ Nguyễn Bính:
Nhà thơ Nguyễn Thành cũng băn khoăn tiên đoán, trước biến hóa của những nơi phát triển giao thương. Góc chợ quê nghèo khó rồi sẽ biến mất, giấu nhẹm đi cái khí chất thật thà của những gái quê nhân hậu, lam làm:
Quê anh, làng Hành Lạc cách Kinh thành Thăng Long xưa chừng hơn mười cây số, nên rễ lắm khi người quê ra phố hóa thành người Kẻ Chợ, không may thất thế quay về bản quán; nơi làng trên, xóm dưới, bờ bãi, bến sông xưa nhưng tình quê có được vẹn đầy không nhỉ.
Lời thơ lắng đọng, thoát khỏi sự kể lể thời thế, nhân sinh trong “Về chợ” có chút quyết đoán bản thể. Ngặt một nỗi “Kim ngân phá luật lệ” đã lấn át lề thói tư duy và cách sống xưa. Bất ngờ gặp câu trách cứ:
Câu thơ tưởng như dớ dẩn này lật đi, dở lại thì việc nhớ quên như một chất gây nghiện nào đó; có vẻ khó lý giải, khi chậm dãi xem lại khung cảnh “Chợ chiều” mới thấy rõ uẩn khúc:
Thì ra đây là câu thơ tán gái siêu đẳng, nghĩa ẩn dụ bên trong thoáng trôi về cuối buổi “Chợ chiều” hàng vợi, người thưa chỉ còn lại cặp đôi nhân tình cũ ế ẩm gặp lại, gồng gánh thời gian, thủng thẳng mặc cả ngầm ý trăm năm:
Mặt hàng khó biểu cảm cuối phiên “Chợ chiều”ấy có thuận lòng đến mức linh nghiệm. Hay người ấy khoác thúng, treo nón, leo teo “Về chợ” bỏ lại người thơ lặng lẽ lạc vào ráng chiều bảng lảng. Bỏ quên câu thần chú của người Kẻ Chợ chỉ mình anh mới biết gọi tên – Vừng ơi! mở cửa, để:
Tiết mưa xuân, 2026
L.H.T





















