Trong quá trình chuẩn bị tổ chức Hội thảo Khoa học “Danh nhân lịch sử Trịnh Văn Cấn (Đội Cấn) – Thân thế, cuộc đời và sự nghiệp” chúng tôi đã được tiếp cận nhiều nguồn tư liệu quý về danh nhân lịch sử Trịnh Văn Cấn và diễn biến của cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên trong đó có sáu bài thơ của cụ Ngô Đức Kế – một nhà yêu nước nổi tiếng. Cụ Ngô Đức Kế (1878-1929) quê ở Can Lộc – Hà Tĩnh xuất thân trong gia đình khoa bảng. Cha cụ là Thị lang Ngô Huệ Liên của triều đình Huế rất nghiêm khắc với các con. Ngô Đức Kế nổi tiếng học giỏi, thi đỗ Tiến sĩ khoa Tân Sửu (1901) khi mới 23 tuổi. Cụ đồng khoa với các cụ Phan Chu Trinh, Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh), đã sớm gặp nhau ở chí hướng yêu nước, thương dân. Thời kỳ thanh niên, mặc dầu đỗ đạt song Ngô Đức Kế không ra làm quan mà về quê dạy học, liên kết với các bạn đồng chí hướng chủ trương loại bỏ khoa cử, đề xướng tân học, hô hào thực nghiệp. Ngô Đức Kế cùng với Đặng Nguyên Cẩn, Lê Văn Huân thành lập Triêu dương thương điếm ở thành phố Vinh tạo tiếng vang lớn khiến thực dân Pháp rất tức giận. Đương thời, khi nhà yêu nước Phan Bội Châu trong các lần từ Nhật Bản về nước đều tới Triêu dương thương điếm gặp gỡ và hội đàm với các nhân vật chủ chốt ở đây. Đó cũng là tinh thần cách mạng của các vị chí sĩ thời kỳ đó.
Trước các hoạt động mạnh mẽ của các chí sĩ yêu nước mà tiêu biểu là nhóm Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Lê Văn Huân, thực dân Pháp và tay sai sử dụng đủ mọi biện pháp khủng bố, đe dọa và bắt Ngô Đức Kế cùng một số bạn đồng chí đày đi Côn Đảo năm 1908 với tội danh: “Âm tập khai trương, ám hành trợ nghịch, tiềm thông dị quốc” (Mở hội buôn kín, ngầm giúp bọn phiến loạn, tự ý giao thương với nước ngoài). Cụ Ngô Đức Kế và các bạn đồng chí đã phải chịu án lưu đày khi sự nghiệp còn dở dang, nhiều công việc đã đành phải gác lại.
Trong thời gian Ngô Đức Kế chịu án lưu đày ở Côn Đảo, khi biết tin cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên nổ ra và thất bại, cụ đã rất đớn đau và tâm huyết làm sáu bài thơ tứ tuyệt trong Thái Nguyên thất nhật quang phục ký nổi tiếng của cụ. Sáu bài thơ lập tức được lưu truyền sâu rộng trong các nhà yêu nước bị lưu đày ở Côn Đảo và khắp nơi trong cả nước. Đến hôm nay, khi đọc lại sáu bài thơ, chúng ta vẫn thấy được sự rung động lớn và khâm phục các cụ xiết bao.
Khi được tiếp xúc văn bản sáu bài thơ của cụ Ngô Đức Kế với phần nguyên tác và phiên âm mà chưa có được trong tay phần dịch thơ. Kẻ hậu sinh này (Phùng Văn Khai) cung kính đốt nén hương trầm, với tư duy và tình cảm của người hôm nay (2026) mạnh dạn dịch sáu bài thơ tứ tuyệt của cụ Ngô Đức Kế ra thể thơ lục bát và có đôi lời bình phẩm. Rất mong các vị cao nhân chia sẻ và chỉ bảo thêm cho.
Vợ chồng Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (bìa phải) chụp hình lưu niệm cùng các nhà văn, nhà nghiên cứu trong chuyến đi điền dã Đền thờ cụ Đội Cấn.
Trong tâm thế thân xác chịu cảnh tù đày, song khí phách và sự biểu đạt khí phách ấy của cụ Ngô Đức Kế với vị thủ lĩnh cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên họ Trịnh là hết sức trân trọng, khâm phục, anh hùng trọng anh hùng. Khí thơ ào ạt như sấm sét mà sự định danh với đất trời còn mãi tới muôn sau. Bài thơ như một bài hịch mà hơn trăm năm sau đọc lại vẫn còn vang vọng. Đó cũng phần khởi đầu cho các bài tứ tuyệt càng về sau càng chất chứa tâm can của cụ Ngô Đức Kế với thủ lĩnh Trịnh Văn Cấn và cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (mặc quân phục) chụp hình lưu niệm cùng các nhà văn, nhà nghiên cứu trong chuyến đi điền dã.
Bài thơ chỉ bằng bốn câu đã khái quát khá trọn vẹn bối cảnh và diễn biến của cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên. Trong tâm tư của cụ Ngô Đức Kế cùng các bạn đồng chí hướng trong tù ngục nơi đảo vắng đã rất quan tâm tới diễn biến của cuộc khởi nghĩa. Chắc chắn trong tâm can những người yêu nước đều khao khát có một cuộc khởi nghĩa của người Việt Nam vùng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm giành độc lập dân tộc. Lời thơ khảng khái, hùng tráng đã thể hiện rất rõ khí phách và tinh thần của cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (mặc quân phục) chụp hình lưu niệm cùng các nhà văn, nhà nghiên cứu trong chuyến đi điền dã Đền thờ cụ Đội Cấn.
Khung cảnh của cuộc khởi nghĩa như bày ra trước mặt. Người anh hùng nước Nam Trịnh Văn Cấn cùng vị quân sư Lương Ngọc Quyến quyết đứng lên làm chủ đất phương Nam. Công cuộc giành độc lập cho Thái Nguyên chỉ được bảy ngày song mãi mãi lưu danh trong sử sách. Điều này càng cho thấy sự đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu của giới sĩ phu cả nước trong đó có cụ Ngô Đức Kế với cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên.
Trong tâm tư của nhà yêu nước Ngô Đức Kế, lại nhằm đúng lúc cụ Ngô thân chịu cảnh tù đày, nên tấm lòng trung chính với đất nước, với nhân dân, với cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên là vô cùng sâu sắc. Cụ Ngô Đức Kế không chỉ đúc kết và nói thay tâm tư của nghĩa quân mà còn khẳng định và đưa ra những thông điệp lớn cho mai sau. Điều này đã làm nên sự rộng dài, trùng điệp và khả năng truyền tải tư tưởng rất cao qua các bài thơ của cụ với cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên.
Khẩu khí và âm điệu thơ dường như càng được mở rộng. Cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên không còn riêng của thủ lĩnh Trịnh Đội Cấn và binh tướng Thái Nguyên mà nó đã lan rộng, soi đường, kích hoạt đến nhiều nơi cũng là một tất yếu lịch sử. Hai câu Việc đời không nên lấy thành bại mà bàn luận/ Không riêng gì phải khen quân khởi nghĩa ở đất Ngạc của Trung Quốc chính là một thanh âm vang vọng dưới trời của những bậc chí sĩ anh hùng khắp nơi trong thiên hạ đều vì nghĩa nước quên thân. Bài thơ dường như dần dần đóng lại chắc chắn cũng là tâm tư rất đớn đau của cụ Ngô Đức Kế.
Bài thơ kết trong Thái Nguyên thất nhật quang phục ký đã không đóng lại mà mở ra những lời gửi gắm lớp hậu sinh những gì dang dở. Lời thơ thăm thẳm. Ý thơ trùng trùng. Tình thơ thành thực mà cao rộng. Hai câu Tuy thế vẫn còn khí tốt xanh tươi của non sông/ Đêm đêm đốt hương cầu chúc cho lớp người sau làm nên sự nghiệp mỗi khi đọc lên, hậu sinh chúng ta ai cũng rưng rưng xúc động và mong muốn phải bắt tay làm những việc hữu ích cho đất nước, cho nhân dân.
Có thể thấy rất rõ, sáu bài thơ tứ tuyệt khi hợp lại đã trở thành một tác phẩm hoàn chỉnh, khang trang, sâu sắc, thể hiện được cốt cách và tinh thần chính yếu của thủ lĩnh Trịnh Văn Cấn và cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên. Cụ Ngô Đức Kế, với tư cách một nhà nho, một chí sĩ đã trải rộng tấm lòng mình, dùng hết tâm huyết và tài năng của mình để đúc kết nên sáu bài thơ tứ tuyệt cũng là những dòng huyết lệ với vị thủ lĩnh Trịnh Văn Cấn và cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên. Chúng tôi, lớp hậu sinh trong ngày tháng hòa bình hôm nay vô cùng cảm phục và biết ơn tới các bậc tiền nhân đã dâng hiến trọn vẹn cuộc đời mình cho nhân dân, cho Tổ quốc. Xin được tạm kết bài viết này bằng một bài thơ dâng lên vị thủ lĩnh của cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên với tiêu đề Đội Cấn – mãi đền thiêng ghi sử sách:






















