Đất văn hiến bảng đồng, bia đá
Xứ nhãn lồng cây thắm thiên thu
Kim Động mùa sen thơm bát ngát
Tạ gia yêu nước sớm bôn ba
Tràng Định – Lạng Sơn vun chí lớn
Quân trường Hoàng Phố khúc quân ca.
Tên như người, Bác Hồ chọn đặt [1]
Chí mài sâu, thơm thảo muôn hoa
Khu trưởng[2] khi vừa hai tư tuổi
Việc quân, việc nước vạn trùng xa.
Khi đất Khu ba đêm sương lạnh
Khu bốn vang lừng tiếng quân reo
Cờ hàng trắng nóc hầm Đờ Cát
Năm cửa ô phấp phới ngôi sao.
Bác Hồ dặn miền Nam ruột thịt
Mong cháy lòng nắm đất miền Nam
Hoàng Minh Thảo cái tên người đặt
Mỗi đêm đêm sáng đỏ ngọn đèn.
Từng chiến sĩ nơi đầu mặt trận
Mỗi chiến trường biết mấy cam go
Làm sao sớm miền Nam thống nhất
Như ước mong cháy bỏng Bác Hồ.
Bác mất rồi! Còn đây lời dặn
Bao núi sông là bấy nghĩa tình
Vị tướng đã nhiều đêm thức trắng
Việc quân, việc nước nỗi riêng mình.

“Mưu sinh ra kế” từng đúc kết
“Thế đẻ ra thời” tự xưa nay
“Đánh bằng mưu kế” đà chắc thắng
“Thắng bằng thời thế” chẳng cầu may.
Tây Nguyên rung chuyển đòn điểm huyệt
Tướng giặc sa cơ chửi quan thầy
Hoàng tướng quân bày liên hoàn kế
Nguỵ quyền rung chuyển gốc lung lay.
Địch cùng đường hoang mang, hỗn loạn
Giải phóng quân bốn phía hợp vây
Năm cánh quân triều dâng thác đổ
Sài Gòn ơi! Ta đã về đây!

Vị tướng trận sạm màu khói súng
Đôi vai rung trên Bến Nhà Rồng
Nơi Bác Hồ ra đi cứu nước
Nước liền cành nhớ Bác rưng rưng.
Nào đã ngưng đâu, kìa tiếng súng
Hai đầu đất nước lại vang lên
Nào đã yên đâu, đây vị tướng
Phòng nhỏ đêm đêm vẫn sáng đèn.
Từng trận đánh, thêm từng chiến dịch
Vì đâu người chiến sĩ hi sinh?
Từng kế sách trường kỳ đánh giặc
Phải làm sao bộ đội trưởng thành?

“Người trước – súng sau” lời Bác dặn
Phải làm gì trong buổi hôm nay
Ta giữ nước phải bằng kế sách
Tường đồng, vách sắt nhẹ như mây.
Đèn sáng đêm đêm phòng vị tướng
Đôi lông mày vút bạc tiên ông
Từng trang sách hồng trong đêm rạng
Như tấc lòng, như tấc non sông.
“Khoan thư sức dân” còn văng vẳng
Sức lính sao đây? Buổi thương trường
Người lính cũng mẹ già, con nhỏ
Cũng miếng cơm, manh áo đời thường.

Vị tướng chưa một ngày ngơi nghỉ
Tám mươi niên vóc hạc tóc mây
Từng trang sách công trình tổng kết
Đều thêm sâu trí óc, đôi tay.
Tám sáu tuổi ông về tiên tổ
Chẳng mang theo một chút riêng mình
Mà bát ngát cội nguồn gốc rễ
Thơm thảo trong lòng chục vạn binh.
——————
[1] Hoàng Minh Thảo tên thật là Tạ Thái An sinh ngày 25 tháng 10 năm 1921 tại Bảo Khê – Kim Động – Hưng Yên. Cha ông là Tạ Quang Khai tham gia phong trào yêu nước bị thực dân Pháp lùng bắt đã đem gia đình rời bỏ quê hương lên sinh sống tại đất Tràng Bị – Lạng Sơn. Năm 1941, Tạ Thái An tham gia Việt Minh được cử đi học quân sự tại trường Hoàng Phố, được Bác Hồ đặt tên mới là Hoàng Minh Thảo.
[2] Tháng 10 năm 1945, khi mới 24 tuổi Hoàng Minh Thảo được giao làm Khu trưởng Chiến Khu 3 thay tướng Nguyễn Bình vào Nam làm Tư lệnh Nam bộ. Năm 1948, Hoàng Minh Thảo được cử vào Chiến khu 4 thay tướng Nguyễn Sơn.