Buổi sáng, khi vừa thức giấc sau đêm dài mộng mị. Mở trang thông tin bạn bè trên factbook của nhà văn Sương Nguyệt Minh cho hay một tin khá bất ngờ, tiếc nhớ: Đại tá, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu sau chuyến hành trình dài trên xe buýt, đã đi về với “Gửi sư đoàn cũ”, về với miền mây trắng cùng đồng đội, để lại niềm tiếc thương cho bạn bè yêu mến văn chương cả nước.
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu sinh ngày 14 tháng 1 năm 1948. Ông sinh ra và lớn lên tại xã Nam Điền, huyện Nam Trực, Nam Định (nay là phường Vị Khê, tỉnh Ninh Bình). Năm 1966, ông gia nhập quân ngũ khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ vào thời kỳ ác liệt nhất. Với khí thế lúc đó “cả nước lên đường”, náo nức và hăm hở, những câu thơ trong bài Tháng ba:
Ông tham gia công tác thuộc đơn vị Sư đoàn 312 anh hùng tại chiến trường Lào. Qua thời gian huấn luyện rồi tham gia chiến dịch Mường Sủi, Phu San, đi qua Cánh đồng Chum (Xiêng Khoảng), Quảng Trị, Khe Sanh, Tây Nguyên, Đông rồi sang Tây Nam Bộ cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước. Vừa làm nhiệm vụ người lính chiến, vừa với vai trò chiến sĩ văn hoá ngoài mặt trận. Ông đã gieo những vần thơ, câu văn cổ vũ động viên cán bộ chiến sĩ Sư đoàn phát huy truyền thống, vượt mọi khó khăn, anh dũng tiến lên. Ông chứng kiến những sự hi sinh, những cái chết của đồng đội khi bị địch bao vây, giết hại. Những đôi hốc mắt trừng trừng không bao giờ khép nhắm mà thân thì cháy đen như những thân cây giữa bạt ngàn đồi núi. “Nấm mộ và cây trầm” là một trong những sáng tác đầy chiêm nghiệm và đau đớn của ông nhằm tri ân đồng đội trước những cái chết tức tưởi mà chính đôi mắt ông chứng kiến. Nói về Sư đoàn 312, tiền thân là Đại đoàn 312 nổi tiếng trong kháng Pháp tại Điện Biên Phủ, còn gọi là Sư đoàn chiến thắng. Mỗi người lính Sư đoàn như những tấm khiên chắn giữ vững chắc cho các thế hệ phiên hiệu đơn vị mang theo. Trước những hi sinh mất mát nhưng đầy kiêu hùng, bi tráng, ông viết bài thơ “Gửi Sư đoàn cũ” với những câu thơ chất chứa một đời:
Theo nhiều giai thoại văn chương, ông đã khóc, khóc rất nhiều khi viết nên bài thơ đầy chất tráng ca này. Và sau này, tập hợp những bài thơ viết về Sư đoàn anh hùng ấy, đã thành một tập Trường ca sư đoàn (1977 – 1980) dày dặn, hoành tráng và bề thế, như mốc son chói lọi khẳng định một sư đoàn chủ lực đủ quân đã chinh chiến trên mọi chiến trường từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến đế quốc Mỹ.
Cá nhân người viết bài này là người lính, tuy không đi qua cuộc chiến tranh nào và cũng chưa được đặt chân đến bảo tàng lịch sử của Sư đoàn 312 anh hùng, nhưng chứng kiến và hiểu sâu sắc về những mất mát hi sinh của bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ của Quân đội nói chung và các sư đoàn chủ lực đủ quân của Quân đội ta nói riêng. Ngày về thăm Sư đoàn 2, đơn vị chủ lực thuộc Quân khu 5, ngay trong bảo tàng truyền thống của Sư đoàn 2, ghi rõ danh sách của hơn năm mươi tư ngàn cán bộ, chiến sĩ anh dũng hi sinh trên các chiến trường. Những năm tháng công tác tại Sư đoàn 5, đơn vị chủ lực đủ quân cơ động của Quân khu 7, trong nhà bảo tàng và văn bia tưởng niệm cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn anh dũng hi sinh trên các chiến trường cũng hơn bốn mươi ba ngàn liệt sĩ. Theo khung biên chế thời bình, mỗi sư đoàn hiện tại chỉ trên dưới chục ngàn người. Từ đó suy ra, trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, số cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị chủ lực đã hi sinh trên các chiến trường thì “Nếu tất cả trở về đông đủ/ Sư đoàn tôi sẽ thành mấy sư đoàn…”. Đó là một câu kể, trần thuật, câu còn lại là ví von, so sánh mà người thời nay sẽ có người nghĩ nói quá, không tới. nhưng sự thật nó lại là điều sự thật hiển nhiên, hết sức dễ hiểu, thật bi tráng, xót xa.
Điểm đặc biệt ở ông là ngay từ ngày đầu vào quân ngũ, cũng là lúc ông dấn thân ngay vào sự nghiệp văn chương mà chính ông cũng không thể ngờ tới. Cho đến năm 1972, với chùm thơ ba bài “Ghi ở chiến trường”, “Đôi mắt”, “Đất” của ông đoạt giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ, sự nghiệp nhà binh của ông đã rẽ sang một lối khác, lối văn chương gắn bó trọn đời với nghiệp nhà binh. Sau khi tốt nghiệp Trường Viết văn Nguyễn Du, ông về gác cửa văn chương mà cụ thể là không gian thơ của ngôi nhà số 4 phố Lý Nam Đế. Những năm tháng sống và làm việc ở Tạp chí Văn nghệ quân đội, đã cho ông nhiều chiêm nghiệm và những thành tựu rực rỡ. Bạn bè, đồng đội quý mến ông bởi đức tính hiền lành, khiêm cung, nghiêm cẩn, luôn chỉn chu với chữ nghĩa và là người thầy của nhiều thế hệ học trò, nhất là các thế hệ học trò làm thơ. Thơ viết bằng cảm xúc, nhưng kiến thức và kỹ thuật lúc nào cũng phải chuẩn tác. Văn chương nói chung, thơ nói riêng, với ông không hề dễ dãi, ngược lại, đó là những “cơn đau đẻ kéo dài” mà người thơ không thể xem thường. Một chữ nói ra, có thể gió thoảng mây bay, có thể không ai để ý, nhưng mỗi lời thơ, mỗi chữ, mỗi khổ, mỗi tứ thơ thoát ra khỏi lồng ngực người thơ để đến với bạn bè yêu thơ và đậu lại với thời gian thì bất luận mọi lí do đều phải nghiêm ngắn, chỉnh tề.
Đại tá, nhà thơ Nguyễn Minh Đức.
Cuộc đời và sáng tác của ông không chỉ là những thi phẩm, những tập trường ca mang nặng tình non sông, yêu đến kiệt cùng quê hương đất nước, tình đồng chí đồng đội, những mất mát hi sinh của những người lính gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng giành độc lập dân tộc, tự do cho Tổ quốc. Không chỉ những bài thơ, tập trường ca mà còn những áng văn xuôi thấm đẫm nhân văn, cứu rỗi bao tâm hồn và khát vọng của cả dân tộc tiến lên. Trong số những bài thơ tri ân đồng đội đã ngã xuống vì Tổ quốc, gợi nhớ về một thời đạn bom khói lửa, thi phẩm Màu hoa đỏ của ông (sau đó được cố nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc) gây ấn tượng mạnh hơn cả, được nghệ sĩ nhân dân Thanh Lam thổi hồn tài tình và được nhiều thế hệ người yêu chuộng âm nhạc, thơ ca Việt Nam. Khi giọng ca sĩ cất lên, nhiều người thường chỉ nghĩ đến nhạc sĩ sáng tác, nhưng sự thật phía sau chính là tâm hồn của một nghệ sĩ tài ba đã viết nên những câu thơ chất chứa mang đầy nhạc tính. Cho nên, nhắc đến Thời hoa đỏ, không thể nào quên ba cái tên làm nên tên tuổi trong bầu trời thơ ca, âm nhạc Việt Nam: Đức Mậu, Thuận Yến, Thanh Lam.
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu có cả hệ thống tác phẩm đồ sộ. Ngoài tập Thơ người ra trận in chung với nhà thơ Vương Trọng năm 1971 ra, ông còn có các tập thơ và trường ca nổi tiếng như Cây xanh đất lửa (1973); Áo trận (1973); Mưa trong rừng cháy (1976); Trường ca sư đoàn (1977 – 1980); Trường ca Côn Đảo (1978 – 1991); Người đi tìm chân trời (1982); Khi bé Hoa ra đời (1984); Hoa đỏ nguồn sông (1987); Từ hạ vào thu (1992); Bão và sau bão (1994); Cánh rừng nhiều đom đóm bay (1998); Bầy chim màu lá vàng (2004); Thơ lục bát (2007); Mở bàn tay gặp núi (2008); Từ trong lòng cuộc chiến (tuyển tập, 2010).
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu thường quan niệm rằng trong cõi văn chương, nếu viết tốt một thể loại, hiểu biết sâu sắc về nó, làm cho nó neo được vào lòng bạn đọc đã là quá tốt, quá đủ cho một tài năng. Riêng ông, không những địa hạt thơ ca mà còn văn xuôi, nhất là mảng truyện ngắn cũng làm lay động không ít trái tim và tâm hồn nhạy cảm, đa đoan đa tình. Một số tác phẩm truyện ngắn tiêu biểu của ông có thể kể đến như: Con đường rừng không quên (Truyện ngắn, 1984); Ở phía rừng Lào (Truyện vừa, 1984); Tướng và lính (Tiểu thuyết, 1990); Chí Phèo mất tích (Tiểu thuyết, 1993); Con đường nhiều tơ nhện giăng (Tập truyện ngắn, 2001); Niềm say mê ban đầu (Tiểu luận phê bình, 2010)… Cũng bởi vậy mà từ giải thưởng chùm thơ đầu tiên làm nên tên tuổi của ông như kể trên, ông còn được Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001; Giải thưởng văn học Asean năm 2001; 03 giải hội nhà văn (1994, 1996, 1999); 03 giải bộ Quốc phòng (1989, 1994, 2004); Giải thưởng văn học nghệ thuật của Uỷ ban toàn quốc liên hiệp VHNT Việt Nam năm 2004; Giải thưởng cuộc vận động sáng tác “Vì mầm non xã hội chủ nghĩa” của Ủy ban thiếu niên nhi đồng Trung ương (1980) và nhiều phần thưởng cao quý khác về văn học của Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân trong cuộc vận động sáng tác tiểu thuyết, trường ca về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang nhân dân.
Đại tá, nhà thơ Nguyễn Minh Đức.
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam. Ông là một trong số những người đã nối tiếp truyền thống của cha anh. Thơ văn của ông đã trải dài trên con đường mặt trận, đi qua những thời kì từ chiến tranh bom đạn khốc liệt, rồi bước đến thời hòa bình. Xuyên suốt từng trang thơ của ông là những lời thơ nói lên tình yêu, và tinh thần gắn bó với quê hương, đất nước. Ông đã tự tạo dựng riêng cho mình một phong cách thơ riêng biệt và góp phần vào xây dựng nền thơ của thế hệ. Là một nhà văn phòng cách và là một thi sĩ nhạy cảm, lối viết của ông vừa tinh tế, vừa giản dị, tiếng thơ đi sâu vào lòng người đọc làm rung động nội tâm, đồng thời thể hiện cảm xúc nồng nàn, sâu lắng. Thơ ông thể hiện cuộc sống đời thường, không tô vẽ, ông đã mang đến những lời thơ vừa mộc mạc, vừa thành thực in sâu vào tâm hồn người đọc.
Những tình cảm quý mến của bạn đọc cả nước, nhất là những người yêu mến văn chương và đặc biệt là yêu mến thơ ông sẽ không nguôi tiếc nhớ. Thế giới người hiền năm tháng lặng lẽ rời bỏ chúng ta, thế giới người hiền trong thơ ca cách mạng nói chung, trong sự nghiệp xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nói riêng cũng dần rời bỏ chúng ta. Tuy vậy, nhân cách, trái tim, tầm hồn và những thi phẩm của họ để lại còn sống mãi với năm tháng thời gian, giúp nuôi dưỡng để kế tục những tâm hồn đẹp, những trái tim đa cảm, thương yêu con người và yêu mến cuộc sống mến yêu này. Nén nhang lòng xin tiễn biệt ông – Đại tá, nhà thơ tài năng, hiền lành Nguyễn Đức Mậu về miền mây trắng./.




















