Sau Tết Nguyên đán 2026, tôi không khỏi ngạc nhiên khi cầm trong tay tập Thơ viết cho mình (NXB Hội Nhà văn, 2026) của nhà thơ Phùng Văn Khai. Đó là tiếng lòng tuôn trào của nhà thơ, nối kết hiện tại với thời gian và không gian dài rộng hàng ngàn năm trước của lịch sử và văn hóa dân tộc. Tập thơ khơi trúng mạch nguồn tâm thức của nhà thơ, giải phóng bản thân, khơi gợi lòng trắc ẩn và nỗi xót xa thân phận con người.
Nhà thơ kể chuyện những vùng đất anh đã đi qua, những con sông, ngọn núi, ngôi chùa, những nhân vật lịch sử cụ thể, với những tâm tư và số phận riêng. Những bài thơ trong tập thơ mang tính chất tượng trưng và hoài niệm, thể hiện cái thấp thoáng của cảnh vật, cái hoang hoải của lòng người, những phẩm đứcquốc hồn quốc túy của quê hương, cốt cách nhân phẩm của con người, chan hòa lắng đọng vào ngàn năm của đất nước, trở thành di sản văn hóa chung.
Tập Thơ viết cho mình (NXB Hội Nhà văn, 2026) của Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.
Những hình ảnh nhân vật người mẹ, người bà, người chị, người em hiện lên, hòa vào vào dòng chảy chung của tâm thức, không còn những định danh riêng, cho nên tập thơ trầm mặc và mang nhiều linh tính. Các nhân vật lịch sử nhiều khi không được nhắc tên, song cứ rạng rỡ như một điểm sáng, định hướng trí nhớ và thôi thúc tâm can, cùng sự cật vấn trong lương tâm sâu thẳm của nhà thơ.
Nhà thơ thông qua lịch sử để nói về tâm tình của mình và cảm nghĩ trước cội nguồn, dân tộc và thời cuộc. Chứng tỏ những giá trị cổ xưa ấy vẫn còn hiện diện đến hôm nay, và đã trở thành máu thịt trong tâm khảm chúng ta. Đôi khi nhà thơ thấy những cái nhỏ nhoi nhưng mang ý nghĩa lớn trong chiều dài cuộc sống. Những bài thơ mang kết cấu lạ, thường có một đoạn giới thiệu sau đó là những dòng thơ giãi bày tâm sự. Chính kết cấu này tạo cho người đọc sự thú vị, tò mò và đồng sáng tạo với nhà thơ. Những dòng thơ lục bát của Phùng Văn Khai rất nhuần nhuyễn và thênh thang, nói được cái hồn cốt của cảnh vật, con người. Chính khi đi cùng điệu nhạc của tâm hồn, Phùng Văn Khai đã tạo nên những vần lục bát hết sức tinh tế và phiêu du, trải dài theo không – thời gian và cung bậc cảm xúc của tâm hồn.
Phùng Văn Khai đã sống đúng với bản chất chân thực của tâm hồn mình và anh không đi quá xa điều đó. Thậm chí, anh còn rất thận trọng và nhẹ nhàng, trân trọng đối với cảm xúc của chính mình. Đó là phong cách thơ của anh, một thái độ tiếp cận với lịch sử và cuộc sống đầy dịu dàng, thận trọng, khiêm nhường. Một tâm hồn thơ đôi khi nhút nhát, nhạy cảm, song rất mạnh mẽ và tinh tế. Phùng Văn Khai đem tâm hồn “non nớt” để cảm nhận về tiền nhân, rút ra những bài học cho chính mình và thế hệ mới, tiếp nối dòng lịch sử của ông cha.
Tập thơ đã thể hiện những suy nghĩ khá sâu sắc, những suy tư tâm huyết đầy trách nhiệm, những vỉa tầng suy ngẫm rất sâu xa, bộc lộ lòng trắc ẩn của nhà thơ, nỗi xót xa cho cuộc thế và thân phận con người. Nhà thơ mượn lời người xưa để nói về cuộc sống hiện thời, với những suy tư trải dài theo thời gian bất tận. Nhà thơ hướng tới những dụ ngôn của hồn thiêng sông núi, miêu tả những nỗi nhớ thương bàng bạc đang phả vào cuộc sống bây giờ, khẳng định những giá trị văn hóa tâm linh lâu bền còn tồn tại mãi với dân tộc Việt Nam. Đọc thơ Phùng Văn Khai thấy cuộc sống yên ấm thanh bình của đất nước, như thừa hưởng và kế tục dòng lịch sử ngàn năm của ông cha, những công lao đánh giặc giữ nước, giữ gìn quốc thái dân an, nỗi hoài thương và những niềm hy vọng khôn nguôi của chúng ta đối với những con người trong quá khứ. Đó chính là những giá trị còn tồn tại mãi mãi, để con người và xã hội phát triển đến ngày nay.
Tập Thơ viết cho mình (NXB Hội Nhà văn, 2026) của Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.
Thơ Phùng Văn Khai rất hóm hỉnh và dường như muốn chọc ghẹo cùng mây nước, khiến người đọc không khỏi thú vị và ngạc nhiên. Ngàn năm con người vẫn giữ những cảm xúc bình yên và bàng hoàng trước những hiện hữu, con người muốn phát triển và tiến hóa lên thiết nghĩ cũng đi lên từ cái nền tâm thức của dân tộc. Mỗi bài thơ có sự chuyển động riêng, nhưng lại thể hiện được biển cả tâm thức mà tất cả mọi vật đều chìm trong nó, để suy tưởng và hòa điệu với những vẻ đẹp và sự hồi sinh quá khứ.
Các chiến tích lịch sử như đều khắc ghi vào hình sông dáng núi, có vẻ gì linh thiêng trầm mặc, khơi gợi tình cảm thương nhớ muôn đời. Phải chăng đó là niềm tin và lòng tự hào bất khuất của dân tộc ta gửi vào thế hệ đi trước, và những thế hệ con người tương lai không quên ơn tổ tiên. Nhà thơ dường như là một người có trí nhớ tinh tế, có những cảm giác rất kỳ lạ và luôn sống chậm, để cảm nhận chính mình và mọi vật xung quanh, có lẽ những giác quan và những cảm nhận tâm linh của anh đã được mài giũa, để có thể lắng nghe tiếng thời gian trôi chảy, tiếng nhân gian vọng lại muôn đời. Trước cuộc sống đô thị hóa ồn ào thời bấy giờ, anh cũng có thảng thốt chút ít, nhưng anh không sợ hãi, vì anh luôn tin tưởng và trân trọng những giá trị lịch sử đã qua.
Bài thơ viết về cầu Long Biên, Nhà số 4 và các di tích lịch sử của anh rất hay và sâu sắc. Có lẽ anh sống chậm nên đã suy nghĩ kĩ về những biến cố đến với mình và luôn trân trọng những điều đã xảy ra. Cuộc sống luôn luôn mới mẻ và nảy nở trên cái nền trầm lặng và những giá trị muôn đời. Phùng Văn Khai bộc lộ lòng trắc ẩn và tình thương yêu đối với số phận con người, và đôi khi anh chỉ im lặng để cảm nhận thôi. Cuộc sống xung quanh ta xiết bao hồn hậu và nhân ái, nơi cái tôi ít đi mà cái ta được nảy nở nhiều thêm. Dân là gốc, là cốt tủy văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam, bền vững và không bao giờ suy suyển.
Anh viết về các nhân vật lịch sử lớn như Trần Thủ Độ, Phùng Khắc Khoan, rồi các nhân vật hiện đại, nhưng với những nét giản dị và rất đời thường. Những vần thơ của anh thanh lịch, tiêu dao trước cuộc sống, nhưng cũng gợi mở các điểm sáng lịch sử, bộc lộ niềm suy tưởng rất sâu xa và lòng tự hào về truyền thống của dân tộc. Phùng Văn Khai, một tấm lòng và một hồn thơ chân thật, một nhà thơ đa tình nhưng rất chung tình. Các hình ảnh, cảm xúc được tập hợp trước khi triển khai tứ thơ. Anh ca ngợi những hy sinh mất mát để giữ cho cuộc sống thanh bình, ca ngợi vạn vật an nhiên bình dị, song cũng sâu sắc và độc đáo về bản sắc.
Những bài thơ của anh trước hoa và những con người dân dã có những tình cảm vị tha hòa quyện rất sâu lắng, thể hiện minh triết – mọi vật nương tựa vào nhau mà sống, không thể tách rời. Có những lúc nhà thơ trở về nguồn cội, thấy xúc động bởi vì có những thứ nhỏ bé vẫn đang chờ đợi mình ở đó. Phần Thơ viết cho mình có lẽ là phần thơ sâu sắc nhất, chạm đến chiều sâu tâm tưởng và gợi những xúc động khôn nguôi. Vì ở đây nhà thơ đã thoải mái bộc lộ cảm hứng và cá tính của mình. Ở phần này anh viết rất dạt dào về tình bạn, tình đời, tri âm tri kỷ.
Thơ Phùng Văn Khai có chí khí của người độc hành, luôn tự vấn và lột bỏ chính bản thân mình, có hùng tâm tráng chí của một người nghĩa sĩ sẵn lòng ra đi vì đất nước. Phần Thơ viết cho mình này có những tứ thơ vượt ngưỡng và đầy dũng cảm, không ngần ngại sống thật với chính mình, chấp nhận thực tại và cải biến thực tại. Ở sâu trong con người Phùng Văn Khai là một lòng khao khát tự do và khát khao tung hoành với bản thể của riêng mình, lần này anh đã bộc lộ rõ cá tính đó. Nhưng trong bất kỳ hoàn cảnh nào, hồn thơ anh cũng dịu dàng và không quên trách nhiệm công dân.
Bài thơ anh viết về cha rất sâu sắc. Người cha đã truyền cho con bài học vô ngôn, ông im lặng đón nhận mọi thứ vào mình để chuyển hóa chính mình, và lời dạy vô ngôn là lời dạy vô giá nhất của người cha đối với con. Cuộc sống ồn ào, những phận người bé nhỏ, và cái khoảng cách giữa hai thế hệ chỉ được nối bằng im lặng cô độc, và giọt nước mắt lâm chung làm cầu nối, để nhiều năm sau con khóc riêng mình. Bài thơ anh viết về người bác ruột tuy phải đi xa quê hương nhưng luôn muốn trở về bởi sợi dây ruột thịt và lòng trắc ẩn không bao giờ rời bỏ nơi chôn rau cắt rốn.
Phùng Văn Khai có nhiều bài viết rất hay về sự tha hóa hay là ánh mắt nhìn cái ác. Bài thơ về Thạch Sanh, hay bài thơ về ông Thiện ông Ác là một thí dụ. Anh cũng viết về những thân phận nhỏ nhoi ngoài xã hội, họ có lý do tồn tại riêng và những triết lý riêng. Người đi bỏ lại người thân, đồng loại, âm dương cách biệt rất đau lòng, vậy tại sao khi còn sống người ta đã không tốt với nhau?…
Phùng Văn Khai viết nhiều về phụ nữ, nhưng thơ tình yêu của anh… dường như không được hay cho lắm thì phải? Và anh cũng đã có bài thơ biện minh về điều đó, nhưng thật lòng anh rất trân trọng, yêu thương những người phụ nữ của đời mình nói riêng, và những người phụ nữ Việt Nam nói chung. Tập thơ còn có một phần nữa, thể hiện sự đồng cảm và bênh vực những thân phận con người nhỏ bé trong xã hội. Đó là những người mẹ đơn thân, những tấm gương mưu sinh mòn mỏi.
Ở bài thơ viết về sông Hồng, anh đã ví sông Hồng như một đời người, chạy mãi không ngừng và có hai cửa (cửa sinh và cửa tử), ở giữa dòng nghẹn lại vì bình đao, chiến trận. Bài thơ là một ẩn dụ làm người đọc rùng mình, cảm ngộ và thấm thía trước những giông bão, gian lao mình đã trải qua. Bài thơ viết về Mỵ Châu – Trọng Thủy bộc lộ được tâm tình oan khuất của Trọng Thủy, và cũng nói lên được trái tim son sắt của Mỵ Châu cùng những bài học lịch sử vẫn còn nguyên giá trị.
Thơ Phùng Văn Khai với âm hưởng hoài cổ, anh viết về đồng làng và đô thị hóa, với tâm tình cảm động rưng rưng. Anh thản nhiên lột tả chính mình trước tấm gương của đời sống, ở trong biên độ tiêu dao nhưng cũng rất hòa đồng với nhịp điệu của bản thân mình, nắm bắt những hơi thở của cộng đồng. Anh viết cho một người tình chung thủy với những lời thơ mênh mang, nhưng không giấu nổi vẻ chua xót. Mặc dù vậy thơ anh cũng rất nghiêm ngặt, chuẩn mực và nằm trong khuôn thuớc của phẩm chất con người.
Nói chung, qua tập thơ này Phùng Văn Khai đã viết ra nỗi lòng chân thật và vừa đủ với chân tâm, bản tính, cô đọng một tâm tình khiêm nhu và lắng dịu để giao hòa với cuộc đời. Cuộc đời im lặng mà xiết bao gần gũi, thân thương. Cuộc đời đôi khi bị tàn phá bởi những biến cố vô tình, như những lát cắt bão tố tuy thoáng qua, nhưng cũng đau đớn và sâu sắc nhất. Cuộc cật vấn lương tâm trước ông Thiện ông Ác thể hiện thế thái nhân tình, niềm xót xa cô độc, nhưng vẫn chọn tâm thế dung hòa, mặc dù đời có những tâm sự xót đau, nhưng cũng vị tha, bao dung và trầm lắng, thể hiện những cảm nhận sâu sắc của nhà thơ trước nghịch cảnh cuộc đời. Mỗi con người, mỗi cảnh vật được nhà thơ nhân cách hóa và mang tầm đối thoại. Những câu thơ giàu lòng nhân ái, nỗi trắc ẩn, bộc lộ tình yêu thương son sắt đối với con người.
Phùng Văn Khai luôn tràn ngập các ý tưởng và anh biết triển khai một cách tinh tế, hấp dẫn theo thế giới suy tưởng của con người. Thơ anh là sợi dây nối liền quá khứ với tương lai, để người nghe cảm thấy ấm lòng và đôn hậu. Những suy nghĩ của nhà thơ dè dặt nhưng sâu sắc, đã chạm đáy của tâm hồn và khơi dậy những cảm nhận mới mẻ. Cảnh vật thiên nhiên vẫn bình thản sau những biến cố của đời người, và thời gian trôi chảy với bao nuối tiếc xót xa. Có lúc nhà thơ đã hóa thân vào lô cốt để nói lời ăn năn trước lịch sử. Toàn tập thơ lảng bảng sương khói, chất chứa tính thiền và chứng ngộ. Bất cứ cái gì trong con mắt nhà thơ Phùng Văn Khai cũng trở thành đối tượng suy tưởng.
Qua tập Thơ viết cho mình của Phùng Văn Khai, ta thấy mọi vật và con người thật bi tráng nhưng cũng là ảo ảnh, như là anh đang nói chuyện với cái bóng của mình. Một nỗi cô đơn thuần khiết, cái bình yên sâu thẳm, nơi mà con người lặn xuống đáy sâu thì mới thấy được. Anh đã nhiều lần tự cật vấn chính mình, đối diện với chính mình, với đời người thẳm sâu trong lặng im. Cái bình yên sâu thẳm đó không thể nào xáo trộn được, hầu như là những câu hỏi cuối cùng của đời người. Những tình thơ, tứ thơ này mang tính chất biểu tượng. Phải chăng đó cũng là dòng sống của dân gian, những thăng trầm của đời người và lịch sử.





















