Phùng Văn Khai: Người ký thác ẩn ức vào thơ – Tác giả: Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Minh Bắc

Phùng Văn Khai: Người ký thác ẩn ức vào thơ - Tác giả: Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Minh Bắc

Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Minh Bắc.

Đọc “Thơ viết cho mình” của Phùng Văn Khai:

Phùng Văn Khai là gương mặt nổi bật của văn đàn đương đại với sức viết dồi dào và bền bỉ hiếm có. Ông ghi dấu ấn sâu đậm qua hàng loạt tiểu thuyết lịch sử đồ sộ, cùng nhiều tác phẩm văn xuôi và thơ ca giàu chiều sâu tư tưởng. Bạn đọc từng thán phục khi đón nhận những bộ tiểu thuyết viết về các nhân vật và triều đại lớn trong lịch sử dân tộc như “Ngô Vương”; “Phùng Vương”, Nam Đế Vạn Xuân; Lý Đào Lan Vương; bộ trường thiên “Vương Triều Tiền Lý” (4 tập); hay  “Trưng Nữ Vương” (2 tập)… Không chỉ tái hiện sinh động không khí lịch sử, các tác phẩm ấy còn cho thấy vốn tri thức phong phú, khả năng hư cấu mạnh mẽ và bút lực sung mãn của một trong những cây bút viết tiểu thuyết lịch sử hàng đầu Việt Nam hiện nay.

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (mặc quân phục) chụp ảnh lưu niệm tại buổi ra mắt tập thơ Thơ viết cho mình.

Trong hành trình sáng tác của mình, với 27 đầu sách đã xuất bản, nhà văn – đại tá Phùng Văn Khai dành một khoảng riêng đáng chú ý cho thơ ca với bốn tập thơ mang đậm dấu ấn cá nhân. Gần đây nhất, tập “Thơ viết cho mình” xuất hiện như một tiếng nói khác của ông: lắng sâu hơn, nhiều chiêm nghiệm hơn, nhưng vẫn giàu nội lực và cảm xúc. Tập thơ gây ấn tượng bởi sự chân thành, từng trải, nơi ký ức, lịch sử và những suy tư nhân sinh hòa quyện trong giọng điệu riêng, tạo nên nét độc đáo khó trộn lẫn của một nghệ sĩ đa tài và giàu trải nghiệm.

Bằng cái nhìn thế thái nhân sinh, trước hết là nhu cầu “giải phóng và thỏa mãn chính mình” trong sáng tạo nghệ thuật, tập “Thơ viết cho mình của Phùng Văn Khai đã mở ra một thế giới cảm xúc đa chiều, đậm chất suy tư và chiêm nghiệm. Những sự kiện lịch sử, những chứng nhân của một thời, cùng bao câu chuyện “mắt thấy tai nghe” qua năm tháng đã được nhà thơ chưng cất thành tư tưởng nghệ thuật giàu sức gợi, thể hiện mỹ cảm tinh tế của một nghệ sĩ đa tài. Xuyên suốt tập thơ là hai mạch cảm hứng chủ đạo: “thơ từ ký ức thơ viết cho mình”. Với Phùng Văn Khai, ký ức không chỉ để nhớ mà còn để đối thoại với chính mình; mỗi bài thơ như một câu chuyện đời được kể lại bằng tiếng lòng chân thực, nơi quá khứ và hiện tại đan xen, riêng tư hòa vào cộng đồng. Từ những điển tích dân gian, những pho lịch sử, đến điều mắt thấy tai nghe trong cuộc sống đời thường…, tất cả đều được nhà thơ nâng lên thành cảm xúc và suy tưởng nhân văn, giúp người đọc thêm trải nghiệm, bồi đắp trí tuệ và làm giàu tâm hồn. Đúng như lời tự bạch của nhà thơ: “những điều tai nghe, mắt thấy, chiêm nghiệm giấy bút, chứng nhân lịch sử, điển tích dân gian…” cuối cùng cũng đều bắt nguồn từ tiếng lòng riêng, nhưng luôn hướng tới sự đồng điệu với tiếng lòng chung của con người và cuộc đời.

1. Ký ức được chưng cất thành thơ

Mở đầu tập thơ, Phùng Văn Khai gợi nhắc về hình tượng sông Hồng như một miền cội nguồn lịch sử, nơi dấu vết của những cuộc thiên di vẫn còn vần vũ qua bao lớp thời gian, nhưng dòng sông ấy vẫn “trẻ như trăng lạ kỳ”. Cảm xúc về sông Hồng trong thơ ông như dồn nén đến vô tận, khiến nhà thơ không chỉ say mê trước vẻ đẹp của một dòng sông, mà còn suy tư về chiều sâu văn hóa và lịch sử lắng đọng giữa đôi bờ lau sậy huyền ảo, thấp thoáng đình, đền, cùng bao huyền sử, bao số phận con người. Từ những lớp trầm tích ấy, cảm thức về dòng sông cuối cùng lắng lại trong niềm chiêm nghiệm sâu xa về “phận ta – phận mình”, vừa riêng tư, vừa mang nỗi niềm của cả một cộng đồng, một dân tộc.

Ngược dòng lịch sử trở về với di tích thành Cổ Loa, nhà thơ gợi nhắc tới câu chuyện mất nước đầy đau xót của dân tộc. Bằng vốn tri thức sâu rộng và sự am hiểu tinh tế về lịch sử, ông không kể lại sự kiện như một trang sử khô cứng, mà chưng cất thành những vần thơ giàu suy tư và cảm xúc. Qua đó, nhà thơ bày tỏ niềm tri ân đối với tiền nhân, đồng thời cảm thông sâu sắc cho nỗi oan tình của những số phận bị cuốn vào bi kịch lịch sử trong cảnh “ngai vàng gãy đổ, nước tan hoang”. Những câu thơ vì thế không chỉ khơi dậy nỗi đau mất nước, mà còn gợi suy ngẫm về thân phận con người trước những biến động nghiệt ngã của thời cuộc.

Những dấu tích văn hóa, lịch sử như Cổ Pháp, Văn Miếu, Đường Lâm, Phủ Trịnh, Hành Cung Cổ Bi, cầu Long Biên, chùa Một Cột…, cùng bao đền chùa, vườn tược và cả những pho tượng La Hán, tượng Phật trong chùa… đều hiện lên trong thơ với vẻ đẹp sinh động, giàu hồn cốt. Không gian ấy như thấm đẫm hơi thở văn hóa truyền thống, thoang thoảng mùi hương bưởi, hương sen, hương huệ, hòa quyện cùng sắc thu cúc vàng dịu nhẹ và sắc hồng rực rỡ của hoa sen. Tất cả đã tạo nên một thế giới nghệ thuật vừa cổ kính, trầm mặc, vừa thanh tao, tinh khiết, làm nổi bật tình yêu tha thiết của nhà thơ đối với vẻ đẹp văn hóa và cảnh sắc quê hương.

2. Dấu lặng tâm hồn trong thơ

Phần thơ viết cho mình của Phùng Văn Khai thường không ồn ào bộc bạch mà lắng sâu trong những suy tư đầy chiêm nghiệm. Đó là những câu thơ mang theo nỗi day dứt về nghiệp văn, về lẽ đời và hành trình của người cầm bút. Câu hỏi: “ta dắt thơ đi, hay thơ dắt ta đi” như một sự tự vấn không có lời giải đáp cuối cùng. Nhà thơ dường như đặt mình trong mối quan hệ vừa chủ động, vừa bị dẫn dắt bởi thơ ca; con người làm ra thơ, nhưng cũng chính thơ ca dẫn con người đi qua những bể dâu, mất mát và trải nghiệm của đời sống.

Điều đáng chú ý là ông không áp đặt cách hiểu cho người đọc. Thay vì cắt nghĩa rạch ròi, ông dùng hàng loạt câu hỏi, những khoảng lặng và liên tưởng mở để mỗi người tự soi mình vào đó mà suy ngẫm. Ẩn sau cách viết ấy là niềm tin vào sự đồng cảm và đánh giá công bằng của bạn đọc đối với văn chương chân thành.

Trong bài “Thư gửi Hoàng Liên Sơn”, hình ảnh thơ hiện lên vừa gần gũi vừa giàu sức gợi: “Chiều nay gió thổi trong vườn tượng/ nắng chín vàng trong mỗi trái cam…”. Không gian thơ thanh bình, đượm sắc vàng của nắng và hương vị đời thường, nhưng phía sau vẻ yên ả ấy lại là một nội tâm đầy thao thức. Cách giãi bày: “Thơ viết mỗi dòng như náu ứa/ nào biết gì đâu đến chữ nhàn” gợi cảm giác mỗi dòng thơ đều được viết ra từ sự dồn nén của cảm xúc, như muốn trào ra khỏi lòng người viết. Với ông, làm văn chương chưa bao giờ là sự nhàn tản an nhiên, mà là một nghiệp mang nhiều ưu tư và trách nhiệm.

Nhắc đến Hoàng Liên Sơn – người gắn bó với tác giả trong văn chương chữ nghĩa – nhà thơ càng bộc lộ sự trân trọng đối với những người âm thầm đồng hành cùng văn học. Câu thơ:“Tùy bút phê bình ông đã viết/ Mở ra từng cánh cửa con người…” không chỉ nói về công việc phê bình, mà còn xem phê bình như hành trình khám phá chiều sâu tâm hồn con người. Và cuối cùng: “Văn chương suốt kiếp thân ai quản/ Ai vẫn đi về những bến sông” vang lên như một lời tự bạch về số phận người cầm bút: dẫu nhọc nhằn, cô đơn hay nhiều trăn trở, họ vẫn không thể rời xa văn chương, vẫn lặng lẽ đi về với những “bến sông” của ký ức, nghĩa tình và khát vọng sáng tạo.

Những uẩn khúc giữa trách nhiệm của người cầm bút và khát vọng sáng tạo nghệ thuật được Phùng Văn Khai đưa thẳng vào thơ như một sự đối diện không né tránh với chính mình và với bạn đọc. Những câu thơ: “Lịch sử nói gì đây hậu thế/ Sai? Đúng? Một lần có xong không/ nữa là văn bút, là chữ nghĩa/ cải đã vàng hoa trên bến sông” chất chứa nhiều day dứt, trăn trở về sự thật lịch sử, về trách nhiệm của người viết trước thời gian và hậu thế. Hàng loạt câu hỏi dồn dập “Sai? Đúng?” không nhằm tìm kiếm một lời phán xét đơn giản, mà gợi nên nỗi băn khoăn thường trực của người cầm bút trước những giới hạn của nhận thức và sự công bằng của lịch sử. Trong cảm thức ấy, văn chương không chỉ là cái đẹp của chữ nghĩa mà còn là nơi ký thác lương tri, trách nhiệm và cả những suy tư sâu kín của con người trước cuộc đời. Hình ảnh “Cải đã vàng hoa trên bến sông” khép lại câu thơ bằng một nét buồn lặng lẽ, gợi sự trôi chảy của thời gian và những đổi thay không thể níu giữ.

Trước những chuyển động dữ dội của đời sống hiện đại, nhà thơ không chọn cách lao theo những xô bồ bên ngoài, mà lặng lẽ trở về với nguồn cội để tìm lại chính mình, tìm một điểm tựa tinh thần cho tâm hồn người nghệ sỹ. Câu thơ: “Tổ tiên ta từ ngày thứ nhất/ đã chia nhau xuống biển lên rừng/ trang thơ ta viết dòng thứ nhất/ nỗi buồn thương chất chứa mênh mông” như một lời tự vấn sâu thẳm. Từ hành trình mở đất, dựng nước đầy nhọc nhằn của cha ông, nhà thơ soi chiếu vào hành trình sáng tạo của chính mình. Dòng thơ đầu tiên không đi từ sự hào nhoáng của ngôn từ, mà được cất lên từ ký ức dân tộc, từ những buồn thương, trăn trở lắng sâu trong tâm thức. Trở về nguồn cội cũng là trở về với phần chân thật nhất của tâm hồn, để giữa bao biến động, người nghệ sỹ vẫn giữ được sự an nhiên và căn cốt tinh thần của mình.

Những câu thơ: “Từ những cội nguồn dâu bể ấy/ lời ru, câu hát tổ tiên ta/ từ những đình, đền, chùa, miếu ấy/ thêm một ngày ta lớn ta khôn” là sự tri ân sâu nặng của nhà thơ đối với nguồn cội văn hóa dân tộc. Con người được lớn lên không chỉ bằng cơm áo, mà còn được nuôi dưỡng bởi lời ru của mẹ, câu hát của cha ông, bởi không gian văn hóa tâm linh của đình, đền, chùa, miếu quê hương. Chính những “cội nguồn dâu bể” ấy đã bồi đắp tâm hồn, nhân cách và căn cốt tinh thần cho người nghệ sỹ.

Trong mạch “Thơ viết cho mình”, bài thơ viết về cha lại mở ra một miền cảm xúc đặc biệt lắng sâu và day dứt. Hình ảnh người cha hiện lên vừa gần gũi, ấm áp, vừa xa vời trong khoảnh khắc sinh ly tử biệt: “cha mới vừa đây bàn tay ấm/ mẹ vẫn chung chăn ủ ấm người”. Cái đau đớn không nằm ở tiếng khóc bật thành lời, mà ở sự im lặng kéo dài đến nghẹn lòng: “mười tám ngày liền cha không nói/ đến lúc người đi chẳng biệt lời”.

Điệp ý “lặng im” trở thành ám ảnh xuyên suốt bài thơ. Đó không chỉ là sự câm lặng của một người trước phút cuối đời, mà còn là một thứ ngôn ngữ sâu thẳm hơn mọi lời nói. Trong im lặng ấy chứa đựng biết bao nhẫn nhịn, từng trải, bao oan khuất và cả những điều không thể gọi thành tên. “Bài học lặng im cha truyền lại” vì thế mang ý nghĩa như một di huấn tinh thần. Người cha không dạy con bằng giáo điều, mà bằng chính sự chịu đựng, bằng nhân cách và sự thấu hiểu lẽ đời sau bao “bãi bể nương dâu”.

Những câu nghi vấn liên tiếp: “oan khiên dễ gì đâu tháo cởi/ căn dặn gì đây với muôn sau…” tạo nên chiều sâu suy tưởng cho bài thơ. Nhà thơ không cố đi tìm một lời giải đáp rạch ròi. Những câu hỏi bỏ ngỏ ấy như còn vang vọng mãi giữa đời sống, gợi nỗi trăn trở về thân phận con người, về những oan khuất của kiếp đời mà thời gian chưa chắc đã hóa giải được. Chính sự không giải đáp ấy làm cho nỗi đau trở nên ám ảnh hơn, bởi có những điều chỉ có thể cảm nhận bằng trái tim chứ không thể cắt nghĩa bằng lý trí.

Khép lại bài thơ bằng câu: “cha nằm yên đó, trong im lặng/ trong dòng thơ con khóc riêng mình”, người đọc cảm nhận được một nỗi đau được nén sâu đến tận cùng. Không còn những tiếng khóc bật thành lời, chỉ còn dòng thơ như nơi người con lặng lẽ ký thác nước mắt và nỗi cô đơn của mình. Đó là tiếng khóc âm thầm nhưng có sức lay động sâu xa, bởi nó được cất lên từ tình phụ tử thiêng liêng và từ những mất mát không gì bù đắp nổi.

Bên cạnh những bài thơ nói với đường làng, cánh đồng làng, nói với tiếng đàn, với ông hề, chị đánh giày, hay những bài thơ viết về người vợ…, đi đến đâu nhà thơ cũng dừng chân đối thoại với cảnh vật, di tích và con người. Trước năm cửa ô, thành Cổng Bắc, lô cốt bên sông, hai pho tượng đá…, rồi đến trước thềm xuân, trò chuyện cùng hoa đào, hoa sen…, tất cả đều trở thành những đối tượng để nhà thơ giãi bày tâm tư, suy ngẫm về nhân tình và lịch sử.

Đặc biệt, trong mạch “Thơ viết cho mình”, nhà thơ mượn lời những nhân vật Trương Chi, Trọng Thủy để gửi gắm cái nhìn và nỗi niềm từ sâu thẳm nội tâm: “Đâu một Trương Chi ta ôm hận/ Mỹ nhân nàng như ngọc lặng im/ Miệng người sắc nhọn như dao nhọn/ Mấy trăm năm nào đã an yên”. Đó không chỉ là nỗi đau của một thân phận tài hoa mà còn là sự day dứt trước định kiến và sự nghiệt ngã của thế gian. Những “miệng người, sắc nhọn như dao nhọn” khiến oan khuất, tổn thương của con người kéo dài qua bao thế hệ, lịch sử vì thế chưa bao giờ thực sự bình yên.

Còn trong lời của Trọng Thủy: “Nàng hỡi ta sao mà biết được/ Giếng sâu kia thăm thẳm cha đào/ Và cũng chẳng bao giờ biết được/ Ta với nàng rồi sẽ về đâu”… lại chất chứa bi kịch của con người bị cuốn vào vòng xoáy lịch sử và định mệnh. Đó là tiếng nói của sự bất lực, của nỗi đau khi con người không thể tự quyết số phận mình giữa những mưu toan, biến động lớn lao của thời cuộc.

Đến những câu thơ: “Ta dù cam phận trong miệng thế/ Tuyệt chẳng cam tâm nỗi oan nàng/ Mặc kệ mưa nguồn cùng chớp bể/ Ta đành tự vẫn cuối trời oan”. Nhà thơ đã đẩy bi kịch lên tới tận cùng. Trọng Thủy hiện lên không chỉ như một nhân vật của truyền thuyết mà còn như biểu tượng cho thân phận con người luôn mang mặc cảm, dằn vặt và khát vọng được thấu hiểu. Qua việc hóa thân vào các nhân vật lịch sử, truyền thuyết, nhà thơ thực chất đang đối thoại với chính mình, với nhân thế và với những oan khuất chưa bao giờ thôi ám ảnh trong dòng chảy lịch sử.

3. Một giọng thơ riêng – rất quen mà độc lạ

Nét độc lạ của tập “Thơ viết cho mình” là ở mỗi bài thơ thường có một lời dẫn ngắn về hoàn cảnh, nguyên do hoặc cảm hứng sáng tác. Đây không phải kiểu “chú giải” khô cứng nhằm giải thích nội dung, mà giống như một lời tâm tình, một nhịp cầu đưa người đọc bước vào thế giới cảm xúc của bài thơ.

Thủ pháp này tạo nên nhiều ý nghĩa và hiệu quả nghệ thuật đặc biệt. Trước hết, nó giúp bài thơ có thêm chiều sâu đời sống và chiều sâu lịch sử, bởi phía sau câu chữ luôn hiện lên một câu chuyện, một ký ức, một cuộc gặp gỡ, hay một suy tư có thật. Người đọc vì thế không chỉ tiếp cận thơ bằng cảm xúc, mà còn bằng sự đồng cảm với hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.

Bên cạnh đó, những lời dẫn ấy còn tạo cảm giác chân thực, gần gũi, khiến thơ như một cuộc đối thoại giữa nhà thơ với bạn đọc. Từ “cái cớ” sáng tác ban đầu, người đọc được dẫn dắt tự nhiên vào mạch cảm xúc, dễ nắm bắt tầng nghĩa và tâm trạng ẩn phía sau câu thơ.

Đặc biệt, cách viết này còn cho thấy quan niệm nghệ thuật của nhà thơ: thơ không tách rời đời sống, mà nảy sinh trực tiếp từ những va đập của ký ức, lịch sử, con người và nội tâm. Vì thế, phần lời dẫn không đứng ngoài bài thơ mà trở thành một phần của cảm xúc, góp phần tạo nên giọng điệu riêng – vừa trầm tư, giàu suy tưởng, vừa đậm chất tự sự và đối thoại.

Phùng Văn Khai sử dụng hai lối thơ quen thuộc là lục bátthất ngôn. Mỗi bài thơ, thường chia thành nhiều đoạn, mỗi đoạn bốn dòng tương ứng với từng cung bậc cảm xúc và mạch suy tưởng khác nhau. Nhà thơ vận dụng khá nhuần nhuyễn thể lục bát với âm điệu mềm mại, mượt mà, giàu chất dân gian, tạo nên những khoảng lắng dịu nhẹ, sâu thẳm trong tâm hồn người đọc. Xen vào đó là những câu thơ thất ngôn cô đọng, hàm súc, mang sắc thái cổ kính và tăng chiều sâu suy tưởng, triết luận.

Điều đặc biệt là trong cùng một bài thơ, ông linh hoạt kết hợp cả lục bát và thất ngôn, khiến mạch thơ vừa uyển chuyển vừa biến hóa theo từng trạng thái cảm xúc. Khi trữ tình, câu thơ mềm như lời ru; khi suy tư về lịch sử, nhân thế, nhịp thơ lại trở nên trang trọng, cổ kính và giàu chất chiêm nghiệm.

Không ít đoạn, nhà thơ còn chủ động “phá cách”, kéo dài câu thơ tới mười, mười hai chữ, để mở rộng trường liên tưởng và tạo dư vang cảm xúc: “Ba vị Đại vương Trịnh Thao, Trịnh Thám, Trịnh Mon/ Dốc tâm dốc sức giúp vua Hùng Vương giữ bền quốc thống”; hay: “Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi”.

Từ trái sang: Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Minh Bắc (Tác giả bài viết); Nhà thơ Bùi Việt Mỹ; PGS.TS Trần Thị Trâm; Nhà thơ Nguyễn Thị Mai.Từ trái sang: Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Minh Bắc (Tác giả bài viết); Nhà thơ Bùi Việt Mỹ; PGS.TS Trần Thị Trâm; Nhà thơ Nguyễn Thị Mai.

Những câu thơ dài ấy không làm mất nhạc tính mà trái lại còn tạo cảm giác dồn dập, ngân vang như tiếng nói bật lên từ chiều sâu lịch sử và cảm xúc. Chính sự đan xen linh hoạt giữa các thể thơ cùng khả năng biến đổi nhịp điệu đã góp phần tạo nên giọng thơ riêng của ông: vừa dân tộc, mộc mạc, vừa giàu tính bác học và sức biểu cảm.

Tập “Thơ viết cho mình” của Phùng Văn Khai là tiếng nói giàu suy tư và tự vấn nội tâm, nơi nhà thơ ký thác những trăn trở về lịch sử, quê hương, gia đình và nghiệp văn. Thơ giàu chất văn hóa, đậm chiều sâu ký ức, kết hợp hài hòa giữa cảm xúc cá nhân với tinh thần dân tộc. Giọng điệu khi thiết tha, da diết; khi chiêm nghiệm, hàm súc, tạo nên giá trị nhân văn và sức gợi suy ngẫm bền lâu cho người đọc.

N.T.M.B

 

 

     


     

Bài trướcBão lớn tàn phá Tây Australia, gần 70.000 hộ dân mất điện
Bài tiếp theoCá heo cỡ lớn xuất hiện gần bờ ở khu vực đảo Cái Chiên

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây