Từ các chủ nghĩa nhìn về thơ Phùng Văn Khai [Kỳ cuối] – Tác giả: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn

Từ các chủ nghĩa nhìn về thơ Phùng Văn Khai [Kỳ cuối] - Tác giả: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn

Nhà thơ Hoàng Liên Sơn.

Khi Phùng Văn Khai gửi tôi bài Thư gửi Hoàng Liên Sơn, tôi bèn chuyển cho CHATGPT bình và chỉ tích tắc sau đã có kết quả. Còn tôi ngồi với bức thư này đã gần 2h mà cũng chỉ mới làm được một việc là bôi vàng những câu nổi bật, cùng những suy nghĩ tản mạn. Để xem cuộc “thi” của tôi với AI kết quả sẽ thế nào.

Đã nhiều năm hầu như tôi làm thơ tự do, câu cực ngắn xen lẫn câu dài, bởi cái điệu hồn đòi hỏi thế. Nên những câu thơ nhịp nhàng đều chằn chặn như này ngay cả đọc tôi cũng ít chứ đừng nói là viết. Nhưng đọc kỹ rồi tôi nhận ra nội dung nào hình thức ấy, khi tác giả dồn nén quá nhiều dông bão vào mấy chục dòng thơ thì buộc phải tự tiết chế trong luồng khí quyển có quy hoạch để cơn bão đi được hết hành trình dự kiến của mình, không thình lình tan loãng đâu đó giữa biển Đông khi mà mắt bão còn đang sắc nét.

 Nhà thơ Hoàng Liên Sơn (bìa phải) và nhà thơ Nguyễn Hữu Quý.Nhà thơ Hoàng Liên Sơn (bìa phải) và nhà thơ Nguyễn Hữu Quý.

Lại nữa, tôi vốn tối kị việc lặp từ không có chủ đích ở hai câu cạnh nhau, nhưng ngay hai câu đầu tiên của bài thơ đã lặp từ “trong”. Nhưng ngẫm kỹ tôi thấy để tránh lặp từ trong thì có thể phải thay cả ý, mà hẳn thi sĩ trọng cái ý biết bao. Nên lại nhớ tới các từ lặp không có chủ đích nghệ thuật trong truyện Kiều và tin rằng giải pháp cho lặp từ là hợp lý.

Khai có một điều khác nữa là thẳng thắn, quyết liệt hơn tôi về việc viết. Tôi thì có xu hướng làm nhẹ bớt, hoặc chính xác ra là giữ ảo tưởng về cái nhẹ của việc viết, nhưng rút cục tự nghiệm đời viết của mình thì mới thấy đúng như ông nói:

Thơ viết mỗi dòng như máu ứa
Nào biết gì đâu đến chữ nhàn?

Tất nhiên không phải tôi không ý thức được sự khắc nghiệt của việc viết, nhưng thường chọn lối nói khác: Nàng thơ vốn khó tính, hiến dâng trọn thân tâm mình có khi nàng còn chả đoái hoài huống hồ cho nàng ăn cơm thừa canh cặn rồi đòi thơ hay.

Lý luận văn học phương Tây có nói: Làm thơ là biến thế giới của mình thành thế giới của người khác. Còn Khai viết:

Tùy bút phê bình ông đã viết
Mở ra từng cánh cửa con người
Những con người chúng ta đã biết

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (bìa phải) tại Lễ kết nạp hội viên mới của Hội Nhà văn Việt Nam.Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (bìa phải) tại Lễ kết nạp hội viên mới của Hội Nhà văn Việt Nam.

Đọc tới đây tôi khoái thú lắm, bởi ông đọc ra sự tình nguyện và tự giác sống sâu mấy chục thế giới mà mấy chục thi sĩ đã tạo ra của tôi. Nhưng mà, thành quả thì bất chấp chuyện “như máu ứa” của người viết, thực tế vẫn luôn khắc nghiệt là:

Được bao nhiêu dòng nước chảy xuôi?

Nói cách khác, quả xem ra tương phản khắc nghiệt với nhân!

Phùng Văn Khai là tác giả của hàng chục cuốn tiểu thuyết lịch sử. Và liên văn bản đã xuất hiện ở đây:

Quân vương xuống tóc nhường thiên hạ
Muôn nỗi riêng – chung mấy góc trời.

Ông đã chắt lọc từ cả quyển Lý Phật Tử định quốc ra hai câu thơ quan trọng ấy, khi mà ông gửi gắm khát vọng hòa bình, tránh nội chiến vào chi tiết khác hẳn với chính sử là để nhân vật Triệu Việt Vương xuống tóc đi tu. Câu sau là sự cắt nghĩa cho khát vọng ấy, bởi thấy nhiều phen cái riêng cần phải hy sinh cho cái chung được tồn tại. Ở đây ông không hẹn mà gặp nhà thơ quá cố Dương Kỳ Anh với hai câu: “Đất nước không thể lùi – Ta phải lùi một bước”.

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (bìa phải) tại văn phòng làm việc.Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (bìa phải) tại văn phòng làm việc.

Trùng hợp ngẫu nhiên, hai nhà thơ đã cùng thể hiện sự tâm đắc với tập Tùy bút phê bình của tôi bằng hai bài viết bề thế công phu. Và dẫu nó ra đời đã ba năm thì cũng mới có người thứ ba là nhà thơ Hoàng Hưng có ý kiến tương đối kỹ về nó.

Văn chương suốt kiếp thân ai quản

Câu thơ này về mặt nội dung nghệ thuật không có gì bừng sáng, nhưng khiến tôi nhìn trân trân vào đó. Đúng vậy, không ai quản nổi dù chuyên nghiệp là ông hay nghiệp dư là tôi! Vẫn đi miên man ngút ngàn, vẫn uống như thuồng luồng và viết như thổ huyết bất chấp vợ con tìm đủ cách dọa nạt cấm đoán ngăn ngừa, hay như bà vợ ông có nói: Khi đầy sinh lực thì anh của thiên hạ, lúc say khướt mềm oặt anh mới của gia đình.

Từng cơ phận của văn sĩ chỉ còn biết trông vào khả năng tự quản của anh ta, mà khả năng ấy thì thường xuyên bị thao túng bởi sự thăng hoa của cảm hứng sáng tác, nên là, rút cục cũng được chăng hay chớ mà thôi. Đành phận!

Cuốn sách "Thơ chân dung danh nhân văn nghệ sĩ" của đại tá, nhà văn Phùng Văn KhaiCuốn sách “Thơ chân dung danh nhân văn nghệ sĩ” của đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.

 

Trăng đã lặn, mặt trời thăm thẳm
Những muốn nói gì với riêng ông?

Ông hỏi thì tôi xin trả lời. Tôi có duyên may làm đệ của nhà thơ cách tân tiên phong Nguyễn Lương Ngọc từ khi còn là sinh viên. Và rất nhớ điều ông tâm sự: “Cứ đi, nhưng thỉnh thoảng hãy nhìn lên bầu trời quá cao một tí, và nhớ là thỉnh thoảng thôi”. Và mặc dù chỉ thỉnh thoảng, cũng đủ để tôi ý thức về sự cực kỳ hữu hạn của bản thân mình. Ở câu thơ của ông có tới hai biểu tượng của “gần như” vĩnh cửu thay nhau “huấn đạo”, thì tôi hẳn càng thấm thía cái hữu hạn ấy lắm lắm.

Nhưng Phùng Văn Khai, quả đúng là tri âm khi hiểu tôi dẫu nghe tiếng của mặt trời mặt trăng vẫn không vì thế mà sa vào hư vô chủ nghĩa, một dạ dâng hiến những gì mình có (bất kể thế là may hay rủi, là trời cho hay trời đày) được:

Ông như một nén hương thơm đỏ
Đã cháy lên rồi cứ cháy thôi.

Suy cho cùng, kiếp người nào mà chả na ná một nén, tỏa ra cái thơm thì cũng đến lúc mãn, mà tỏa ra cái ô uế cũng phải tới lúc tàn. Nên tôi gắng chọn cái thơm thôi. Thành tới đâu xin để tùy duyên!

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (vest đen) nhận hoa chúc mừng.Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (vest đen) nhận hoa chúc mừng.

Tôi từng có nhiều thắc mắc về hành trình từ cuộc đời sang trang viết của văn sĩ họ Phùng, cũng hay đem mình ra mà đối sánh rồi tự nhủ nếu là mình sẽ thế này thế nọ, chẳng hạn sẽ thay vì viết 10 cuốn tiểu thuyết thì sẽ viết vài ba thôi, nhưng sâu hơn và cao hơn. Tuy nhiên đọc kỹ các khổ thơ tiếp sau sẽ thấy rất khó có cái “nếu” ở con người ông, bởi sự đa mang sẵn trong máu, lại cộng hưởng với tính chất công việc của một người ở cơ quan quản lý văn nghệ như đầu mối tiếp xúc với văn nhân nghệ sĩ hàng ngày thậm chí hàng giờ. Những dòng thơ ông cũng dang rộng biên độ ôm vào mình từ các vị La Hán, đến người thợ, bạn viết, thức giả, hành giả, trăng rồi sông, đúng như ông miêu tả:

Đám người đông quá, ồn ã quá
Để lại gì đây những mai sau.

Có điều, tôi hơi tiếc rằng dường như đám đông ấy đã ngăn ông tiếp cận có chiều sâu hơn với các vị La Hán, hay đúng hơn là với tàng kinh các của Phật pháp nhiệm màu. Đó là những giáo lý cung cấp cho tôi khả năng nói không, để dồn tâm huyết và sức lực cho số ít những điều xứng đáng nói có. Bởi vì đến cả Đức Phật ngày tại thế cũng không trả lời nhiều câu hỏi của các vị Bà La Môn đến hỏi, bất chấp vị thị giả A Nan thắc mắc sao Phật biết mà không trả lời.

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (bìa phải) và các bạn văn.Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (bìa phải) và các bạn văn.

Bởi vì thực tế thì dù đám người đông, hầu như càng nhìn kỹ sẽ càng thấy họ giống nhau, và từ người này mà suy ra kẻ khác. Bởi vì như thi sĩ đàn anh Nguyễn Quang Thiều đã dành nhiều trang trong trường ca Lò mổ chỉ để in nhõn chữ ruồi. Tôi tự cắt nghĩa rằng dù đông thế nhưng giống nhau đến nỗi nhìn vào chỉ thấy như ruồi giống ruồi, chả ai bảo con này đẹp hay xấu hơn, gầy hay béo hơn con kia.

Ôm đám đông cùng thời đã đủ rã cánh tay, đằng này ông còn ôm cả tiền nhân tiền sự, lại còn trăn trở với thông điệp – bài học, với lẽ đúng sai tới mức này thì bảo sao thân tâm thường nghiêng về phía nặng:

Lịch sử nói gì đây hậu thế?
Sai? Đúng? Một lần có xong không?

Nhưng ông cũng nổi máu phản tư rồi đây, thấy cái hài hước gây cười trong sự yêng hùng rồi đây:

Ông biết đấy, cuộc người dâu bể
Gan vàng, dạ sắt cái chi chi
Tuổi cao sẽ thấy mình ngốc nghếch
Chớ quay đầu cứ thế đi đi.

Bạn tôi khéo khuyên nhau lắm, bởi như người phương Tây có nói về cuối đời người ta sẽ chỉ hối tiếc về những việc đã không làm chứ ít hối tiếc về những việc đã làm. Tôi cũng tán đồng tư tưởng dấn thân thôi, nhưng trong sự tỉnh thức sẽ tốt hơn, như tôi thường chia sẻ với bạn hữu: tham thôi, đừng tham đắm.

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (mặc quân phục) trả lời phỏng vấn.Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (mặc quân phục) trả lời phỏng vấn.

Là người viết, tôi có nhiều dịp đối thoại với các vị tiền bối tuổi cao. Họ chẳng bảo tôi nên khôn sớm, nhưng có những điều rất giá trị, chẳng hạn nhà văn quá cố Hòa Vang bảo: “Rồi em sẽ còn được chứng kiến rất nhiều”. Vâng, đúng vậy, hiện thực đa dạng của cuộc sống mênh mông ngoài kia chẳng bao giờ cạn, không nắm bắt được mẩu này ta sẽ tóm được đoạn khác.

Dù sao, thấy cái hài trong “gan vàng, dạ sắt” tức là đã có cái vị thế của Đôn-Ki-Hô-Tê sau hành trình dài hành hiệp rồi. Vả lại, sự ngây ngô nhưng đem lại vô vàn trải nghiệm, với nhiều phen cười khóc chả đáng quí hơn sự vô cảm (hoặc lãnh cảm) hay sao?

Và tôi thoáng mừng khi bạn mình bắt đầu khởi tâm mong như hạc gỗ, thành thân chó đá, mỹ nhân Facebach (tên nhóm thơ mà tôi là phó chủ tịch)… nhưng rồi thành mừng hụt khi đọc những dòng này:

Ông biết đấy, trường văn trận bút
Rửa tay gác kiếm có xong đâu?

Nhưng rồi tôi liên tưởng tới những câu thơ nhiều vẻ từ ngông ngạo đến gây sự, đến thắm thiết trong bài Còn chơi của tiên sinh Tản Đà, sau khi người nhất thời tỏ ra biết điều: “Chơi cho thật chán, cho đời chán – Đời chán chơi rồi tớ sẽ thôi” thì lập tức lại “Nói thế can gì tớ đã thôi – Muốn thôi trời cũng chửa cho thôi”. Sự sám hối rất nửa vời, rất “đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên”.

Và Phùng Văn Khai giải trình cho cái rửa tay gác kiếm nửa vời của mình, lại cũng hợp thức luôn sự trả giá và đánh đổi, là vì:

Câu thơ bùn đất, người rơm rác
Những muốn trèo cao phải ngã đau.

Khi tôi đang gõ những dòng này thì Khai gọi điện cho tôi, tranh thủ lúc đang chờ gặp bác sĩ vì lý do sức khỏe cá nhân. Tôi vừa thương (vì y ham văn ham việc quá) vừa mừng cho bạn (vì y có cái để “vịn câu thơ mà đứng dậy”). Chúc ông may mắn và khỏe mạnh để tôi còn có đối thủ ngang tâm bằng cơ mà tranh hay chốn trường văn này.

Ở đoạn tiếp theo, ông đã triển khai một kỹ thuật hoàn toàn mới, đem cái tôi của chính nhân vật trữ tình với đủ thói xấu trưng ra thiên hạ, theo kiểu:

Mình tôi chống lại một mình tôi.

Đó là cái dũng mà cũng là cái khéo: Thành thật với chính mình nhưng cũng là để đánh động, đòi hỏi điều tương tự ở kẻ khác, đòi họ thừa nhận tham danh, tranh công bỏ tội, thậm chí chẳng chối bỏ phẩm chất ruồi!

Và đó cũng là nơi ông xứng đáng là hậu nhân của thiên tài Nguyễn Du khi viết:

Mười lăm năm bấy nhiêu lần
Làm gương cho khách hồng quần thử soi

Không có cái xả thân “làm gương” ấy của thi nhân, hậu thế lấy đâu ra kiệt tác Truyện Kiều để mà tổ chức thi đọc thuộc xuôi ngược, để ru nhau ngủ.

Sau khi tự “vạch áo cho người xem lưng”, ông đồ đoán về bạn mình:

Đục nước béo cò xong vỗ cánh?
Còn hơn cam phận đợi xáo măng.

Than ôi, những mưu cao kế sâu này phải kín đáo thì may ra mới phát huy tác dụng, chứ bô bô rồi lại còn mong thiên hệ biết thật nhiều, thì sao mà thành được? Chưa nói, từ cái bệ phóng (béo) đến cái đích (thoát chết) của thân cò đều khiêm nhường và thảm làm sao! Nhưng chính ở những dòng “biết điều” ấy, tôi lại mừng cho ông, bởi đó chính là điểm thắt nút giác ngộ vừa được cởi.

Phải nhạy cảm lắm, óc liên tưởng tinh tường lắm thì mới đọc ra được cái chất “Một trà, một rượu, một đàn bà” trong câu thơ này:

Một phòng, một đệm, một ông tướng

Và, tôi không ngượng miệng mà tán dương ông hết tầm ở câu thơ kế thừa điển tích này:

Quyết há miệng ra chờ sung rụng
Sung rụng về đâu chuyện của trời.

Đó không phải là sự cố chấp, là giọng cùn, đó là cái sáng suốt của người biết rằng những thành quả thực sự đáng để người viết mãn nguyện, đóng đinh được vào lịch sử văn học và neo ở đó mươi năm, rồi lan tỏa tới nghìn vạn người vốn hiếm tới mức như quả sung khó rụng trúng mồm kẻ nằm, dù thực chất anh ta không hề lười biếng!

Nhưng ông bạn dũng mãnh dấn thân ơi, “sung rụng về đâu” chẳng đến nỗi mãi là “việc của trời”. Những gì là chân giá trị có thể bị che lấp một hai, dăm bảy năm, nhưng mãi rồi cũng lộ diện; không lâu đến mức 160 năm sau như nước Anh nhận diện nhà thơ John Donne đâu.

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (bìa trái) và nhà thơ Bùi Xuân Mẫn.Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (bìa trái) và nhà thơ Bùi Xuân Mẫn.

Khai giao tiếp rộng, nên hôm rồi tôi thử đố ông nhớ được tôi gặp ông lần đầu là khi nào thì ông chịu. Thực chất là đã hơn 20 năm ở trại viết Đại Lải khi tôi lên thăm nhà văn Hòa Vang đang làm trại viên ở đó. Tôi thấy ngồ ngộ cái tay gặp tôi lần đầu mà lúc nằm giường cứ sờ cái vành tai của tôi như là thân nhau lắm rồi ấy. Và giờ thì tôi hiểu cái khí chất của bạn tôi, quí ai sẽ bộc lộ cho được, bằng cả thân tâm mình:

Lòng sung lòng vả cũng thương nhau

Riêng điều sau này thì thực chất phải là tôi hẹn ông mới đúng, bởi tôi đã trở về với bản lai diện mục và an định ở cái đích đó lâu rồi:

Hẹn khúc cuối đời nơi xó chợ
Ta hiện nguyên hình nỗi nông sâu.

H.L.S

—————–

Từ các chủ nghĩa nhìn về thơ Phùng Văn Khai [Kỳ I] – Tác giả: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn

 

 

 

 

     


     

Bài trướcTừ các chủ nghĩa nhìn về thơ Phùng Văn Khai [Kỳ I] – Tác giả: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn
Bài tiếp theoChùm thơ Nguyên tiêu của Phùng Văn Khai

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây