Lý Phật Tử định quốc và hồi kết cho bộ tứ tiểu thuyết lịch sử – Tác giả: Phạm Minh Quân

Nếu có một sự ghi nhận nhất định, thì Phùng Văn Khai là một trong những cây bút có lao động sáng tạo miệt mài và hiệu quả nhất. Chỉ trong khoảng hai năm, nhà văn quân đội đã trình làng tới ba tác phẩm tiểu thuyết lịch sử với dung lượng dày dặn, đó là Nam Đế Vạn Xuân (Nxb Văn học, 2020), Triệu Vương phục quốc (Văn học, 2020), Lý Đào Lang Vương (Văn học, 2021). Và đáng nể hơn nữa, tác phẩm cuối cùng để tựu thành “bộ tứ tiểu thuyết” về triều đại tiền Lý – nhà nước Vạn Xuân, Lý Phật Tử định quốc, cũng đã được hoàn thiện và xuất bản.

Bộ sách của nhà văn Phùng Văn Khai biên soạn về các danh nhân lịch sửBộ sách của nhà văn Phùng Văn Khai biên soạn về các danh nhân lịch sử.

Nhìn về mặt cấu trúc của bộ bốn tiểu thuyết, có thể thấy rõ được dụng ý sắp đặt của Phùng Văn Khai. Các tiểu thuyết không đơn thuần chỉ nối tiếp nhau theo một trật tự logic tuyến tính, người đọc sau khi kết thúc cuốn này có thể “chốt hạ” và chuyển sang cuốn sau. Lý Phật Tử định quốc, về mặt tuyến tính lịch sử, nối tiếp tiểu thuyết thứ ba Lý Đào Lang Vương, nhưng lại song hành với tiểu thuyết thứ hai là Triệu Vương phục quốc, trình bày giai đoạn nửa sau của vương triều tiền Lý. Một chiến lược bài trí độc đáo của tác giả, nhưng không phải dễ, cho cả người viết lẫn người đọc. Khó khăn với người viết nằm ở chỗ, với một tiểu thuyết lịch sử với quy mô lớn, số lượng nhân vật khổng lồ, đan xen nhiều dữ kiện chi tiết về địa lý, lịch sử và văn hóa, thì phải làm cách nào để có thể kết nối các nhân vật lẫn tình tiết lại với nhau, mà vẫn đảm bảo được sự nhất quán của các tuyến nhân vật cũng như trật tự hợp lý của tác phẩm. Đặc biệt, đây không chỉ là sự liên hệ giữa hai cuốn tiểu thuyết với nhau, mà là giữa bốn cuốn trong một bộ tiểu thuyết, nên công việc của nhà văn không hề đơn giản. Còn cái khó với người đọc, mặc dù lối dẫn chuyện của Phùng Văn Khai rất trơn tru, uyển chuyển và trực diện, nhưng cũng cần phải có sự đối sánh, đối chiếu giữa các tác phẩm, để thay vì lạc, mở khóa và hóa giải “trận đồ” tác giả đã bày ra và tìm thấy sự thích khoái nghệ thuật cho riêng mình.   

Nhà văn Phùng Văn Khai và các bạn văn tại Hà NộiNhà văn Phùng Văn Khai và các bạn văn tại Hà Nội.

Một vấn đề thu hút đã được đặt ra ngay từ nhan đề cuốn sách – Lý Phật Tử định quốc. Bởi bản thân nhân vật Lý Phật Tử trong lịch sử đã gây nhiều tranh cãi và tồn hiện vô số hoài nghi. Những gì đại chúng phổ thông biết về ông, chủ yếu xoay quanh mối mâu thuẫn giữa ông và Triệu Việt Vương, với quan điểm đến từ lăng kính tội nhiều hơn công của những soạn giả Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (“Vua dùng thuật gian trá để gồm lấy nước, mới thấy bóng giặc đã hàng trước, việc làm trước sau đều phi nghĩa”), hay lời phê khắt khe đanh thép của Ngô Sĩ Liên (“Lấy bá thuật mà xét thì Hậu [Lý] Nam Đế đánh Triệu Việt Vương là đắc kế, lấy vương đạo mà xét thì việc ấy đã từng không bằng chó lợn. Sao thế? Là vì khi Tiền Lý Nam Đế ở động Khuất Lạo đem việc quân ủy cho Triệu Việt Vương, Việt Vương thu nhặt tàn quân giữ hiểm ở Dạ Trạch bùn lầy, đương đầu với Trần Bá Tiên là người hùng một đời, cuối cùng bắt được tướng của y là Dương Sàn. Tiên, người phương Bắc, phải lui quân. Bấy giờ vua [Hậu Nam Đế] trốn trong đất Di [Lạo], chỉ mong thoát khỏi miệng hùm mà thôi. May mà Bá Tiên về Bắc, [Lý] Thiên Bảo chết, mới đem quân đánh [Triệu] Việt Vương, dùng mưu gian trá xin hòa, kết làm thông gia. Việt Vương lấy lòng thành đối đãi, cắt đất cho ở, những việc làm của Việt Vương đều là chính nghĩa, giao hảo phải đạo, thăm viếng phải thời, há chẳng phải là đạo trị yên lâu dài hay sao? Thế mà [Hậu Nam Đế] lại dùng mưu gian của Nhã Lang, vứt bỏ chính đạo nhân luân, kíp tham công lợi mà diệt nhân nghĩa, đánh cướp lấy nước, tuy rằng lấy được, mà Nhã Lang thì chết trước, bản thân cũng không khỏi làm tù, có lợi gì đâu?”).  Như vậy, một hình ảnh Lý Nam Đế phản diện, cơ mưu đã hình thành và cuội kết trong tâm thức của đại chúng. Còn Tạ Chí Đại Trường trong Thần, người và đất Việt, đã lý giải cuộc xung đột giữa Lý Phật Tử và Triệu Quang Phục có hơi hướng như cuộc xung đột An Dương Vương – Cao Lỗ. Tên Lý Phật Tử có nghĩa là một đồ đệ của đức Phật họ Lý, một minh chứng cho sự lan tỏa của Phật giáo ở Việt Nam vào khoảng thế kỷ thứ VI – VII. Theo nhận định của sử gia người Pháp, Maurice Durand, Lý Phật Tử ở nơi mà năm 580, Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) sang truyền bá Phật giáo vào nước ta. Tạ Chí Đại Trường còn đi đến một kết luận táo bạo hơn, rằng thất bại của Triệu Quang Phục trước Lý Phật Tử là một câu chuyện về sự đàn áp “dâm từ” (nơi thờ không được tầng lớp trên thừa nhận). Từ đó, có thể đặt giả thuyết gốc rễ xung đột giữa Triệu Quang Phục và Lý Phật Tử, bên cạnh một cuộc tranh chấp về uy quyền chính trị thế tục, sâu xa còn là một mâu thuẫn về tín ngưỡng tôn giáo.

Vợ chồng Nhà văn (đứng) cùng bạn văn tại chùa Gia Thượng - Long Biên.Vợ chồng Nhà văn (đứng) cùng bạn văn tại chùa Gia Thượng – Long Biên.

Nhưng một hiện tượng lịch sử, càng gây tranh cãi bao nhiêu, thì càng gợi mở nhiều vấn đề bấy nhiêu. Và viết về một nhân vật lịch sử như vậy, người đọc càng tò mò cách tiếp cận của Phùng Văn Khai sẽ như thế nào? Liệu nhà văn sẽ trung thành với quan điểm đánh giá của lịch sử, và chỉ đơn thuần kể lại lịch sử trên một phương diện nhuốm màu lãng mạn hư cấu? Hay nhà văn sẽ mạo hiểm “viết lại” lịch sử, viết lại Lý Phật Tử từ một lăng kính khác? Cuộc xung đột nội chiến giữa Triệu Việt Vương và Lý Phật Tử sẽ được khắc họa và hóa giải ra sao? Người đọc không khỏi đón chờ cách giải quyết của Phùng Văn Khai trong Lý Phật Tử định quốc.

Một lần nữa, câu trả lời có thể được tóm gọn ở trong nhan đề tiểu thuyết. Nếu Triệu Vương phục quốc, thì Lý Phật Tử định quốc. Hai hành động gây cơ tạo nghiệp, như hai mảnh ghép tương hỗ lấp đầy vừa vặn bức tranh lịch sử. Phùng Văn Khai đã chọn cách tiếp cận công tâm, vị tha, khách quan hơn, nhận diện Lý Phật Tử từ góc độ con người thành tựu, có đóng góp cho lớn cho 30 năm thái bình của nhà nước Vạn Xuân. Tiểu thuyết, vì thế, có thể được chia làm hai phần chính.

Phần thứ nhất, Phùng Văn Khai triển khai và giải quyết cuộc xung đột đã trở thành tất yếu lịch sử giữa Triệu Quang Phục và Lý Phật Tử. Người đọc đã có thể thắc mắc, rằng tại sao Triệu Vương phục quốc chỉ tập trung vào quá trình kháng chiến chống lại giặc Lương xâm lược, mà dường như tác giả lại bỏ ngỏ, hay thậm chí bỏ sót cuộc chiến chia đôi bờ cõi. Hóa ra, đó là dụng ý để dành của nhà văn. Nếu như trong truyền thuyết được lưu truyền, Lý Phật Tử đã dùng mưu gửi rể, thu thập bí mật quân sự rồi đánh úp khiến cho Triệu Việt Vương mất nước và tự vẫn, nay đã được mặc nhận như là một sự thật lịch sử, thì Phùng Văn Khai đã viết lại lịch sử và lý giải theo một cách khác. Đằng sau hôn kết chính trị được dự báo như câu chuyện Mị Châu – Trọng Thủy thời hậu thế giữa Cảo Nương và Nhã Lang, ẩn chứa cả một khối mâu thuẫn nội tại giữa văn quan và võ tưỡng trong triều đình, mỗi một trong số họ đều có một lợi ích riêng, một mưu cầu riêng, thậm chí là cho bản thân, thậm chí là ngu trung, nhưng đứng dưới lá cờ quyền lực tập thể để tác động lên cá nhân cai trị, vô hình trung gây ngăn trở tiến trình hòa giải dân tộc. Khía cạnh quan trường, quan đấu, tưởng như mờ nhạt giữa mạch nguồn chống giặc ngoại xâm của bộ tứ tiểu thuyết, nay ở Lý Phật Tử định quốc đã hiện diện như một sắc thái mới, cố hữu. Cái kết của Triệu Quang Phục, cũng được Phùng Văn Khai viết lại với màu sắc huyền bí nhiệm màu của Phật giáo. Lựa chọn xử lý của nhà văn, tuy là trọn nhẽ và an toàn, nhưng không vì thế đánh mất tính chất bi kịch đau thương của hoàn cảnh lịch sử.

Tác giả Phạm Minh QuânTác giả Phạm Minh Quân.

Phần thứ hai bắt đầu khi Lý Phật Tử lên ngôi xưng Nam Việt Đế, tiếp tục công cuộc bình ổn đất nước, định rõ địa phận cương vực lãnh hải của quốc gia và chống lại các cuộc tiến công của giặc ngoại xâm. Đầu tiên là hậu duệ của Trần Bá Tiên – Trần Vũ Đế là Trần Tuyên Đế ở phương Bắc, vẫn hằng nung náu âm mưu thôn tính đất Nam, đã phái ba quân thủy bộ dưới sự thống lĩnh của Chiêu Chương Đạt, Ngô Minh Triệt và Dương Tiến tấn công nước Vạn Xuân. Với sự quả cảm, mưu lược của các thuộc tướng Trần Bá Thường, Trương Hống, Trương Hát, kế hoạch quân giặc đã bị phá sản và phải tháo chạy về nước. Nhưng để mang lại 30 năm thái bình cho đất nước, thì chỉ chặn đứng hiểm họa phương Bắc là không đủ. Một mặt, phải dẹp nạn hải tặc Hắc Long hoành hành cướp bóc quấy nhiễu để đem về bình yên cho xứ vạn đảo Trường Châu, xác lập hải phận và đảm bảo giao thương trên biển. Mặt khác, kế thừa di sản ngoại giao của Lý Đào Lang Vương, Lý Phật Tử tiếp tục thắt chặt tình giao hảo với tộc Kadai ở phía Tây, cho xây dựng bảy ngôi bảo tháp khắp thung lũng Dong Chuôm, trấn an và chấn hưng các thị tộc Dã Năng, Ái Châu, Cửu Đức, Hàm Hoan, Đô Lung bằng cách kiến thiết khơi thông thủy lợi. Đồng thời, dập tan mầm mống đe dọa nổi loạn của Miêu tộc ở nơi biên cương Tây Bắc. Ở đây cũng là một sáng tạo thú vị của nhà văn, khi tiếp nối khắc họa hình tượng Su Man Trinh, Tây cung hoàng hậu Vạn Xuân, vợ của Lý Phật Tử, vốn đã xuất hiện ở Lý Đào Lang Vương, là mũi tên thần đánh bại và bắt sống tướng Miêu Bưu. Hình tượng người phụ nữ dũng mãnh, trái ngược hẳn với hình tượng nữ tính truyền thống trong tiểu thuyết lịch sử luôn phải lùi về làm hậu cảnh cho các nhân vật nam, nay xuất hiện như một điểm nhấn mới mẻ trong tác phẩm.

Trong bộ tứ tiểu thuyết về triều đại tiền Lý – nhà nước Vạn Xuân, có lẽ Lý Phật Tử định quốc là thử thách khó nhất đối với Phùng Văn Khai, đồng thời cũng là tác phẩm nhà văn được “phóng tay” hư cấu nhất. Bởi, với một nhân vật lịch sử có thân phận đặc biệt nhiều tranh cãi như Lý Phật Tử, đòi hỏi người viết vừa phải khéo, vừa phải logic, để đưa ra một cái nhìn mới thấu suốt nhưng không phải là cái nhìn “tẩy trắng” thiếu sự phản tư lịch sử. Lý Phật Tử định quốc là một hồi kết viên mãn cho bộ bốn tiểu thuyết lịch sử đồ sộ của Phùng Văn Khai, dành cho một mảng lịch sử thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc chưa nhận được nhiều sự quan tâm của công chúng lẫn sự canh tác của các nhà văn. Và, chỉ bởi nếu xét riêng về công sức lao động sáng tạo thôi, cũng đã là một thành tựu xứng đáng trọn đời đối với một cây viết.

P.M.Q

 

 

 

 

     


     

Bài trướcPhát huy giá trị Hoàng thành Thăng Long
Bài tiếp theoTưởng niệm 906 năm ngày Hóa của Nguyên Phi Hoàng Thái hậu Ỷ Lan

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây