2.1. Từ ngàn lau hoang vu vô tri đến hình tượng NGƯỜI CHIẾN SĨ
Đồng-bằng-sông-Hồng quê Khai và tôi, như chính cái tên của nó, là máu thịt của con sông đỏ nặng phù sa. Cũng chính là máu thịt của những người con chân chất sống chết đắp bồi châu thổ:
Lau thì bạt ngàn khắp nơi – đầm hoang, dặm trường, quan ải… Nhưng lau sông Hồng đã thành một với người con hòa núm nhau ở đó:
Hòa làm một, vì ở đó có em ta:
Hòa làm một, vì ở đó có mẹ ta:
Hòa làm một với trăn trở lớn dần cùng không-thời-gian:
Lớn dần cùng nỗi đau mất mát:
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội).
Núm nhau hòa nước sông Hồng đã nuôi lớn người chiến sĩ:
Những hình-ảnh bông lau của Phùng Văn Khai đã “chín” dần thành hình-tượng tự lúc nào. Hóa thân vào hình-tượng-cha-già, vào hình-tượng-người-chiến-sĩ-cách-mạng:
Và hình-tượng-lau của thơ Khai đã từng bước dấn sâu thêm vào cảm hứng lịch sử hào hùng dân tộc:
2.2. Lịch sử hào hùng qua những hình tượng tiền nhân
Những người chiến sĩ cách mạng, những người lãnh tụ cách mạng – suy đến cùng cũng là hậu duệ của những tiền nhân Lạc Hồng. Những người con trai, con gái của mẹ Âu Cơ – cha Lạc Long Quân.
Những người đã ào lên quật cường cùng vị đế đầu tiên trong đêm trường Bắc thuộc:
Hãy dừng lại một chút trước những hình ảnh đối lập: “lửa rợp trời”, “luồng tên bão lốc” với “trăng Khai Quốc tự”, “đóa sen vừa nở” để thấy Phùng Văn Khai đã “bắt” trúng hồn cốt bản lĩnh văn hóa dân tộc. Một dân tộc anh hùng mà nhân hậu. Và trong dòng cảm hứng lịch sử – văn hóa, Khai đã nhất quán, vững vàng, sâu sắc triển khai tâm thức đó.
Tiền nhân ta không chỉ anh hùng và nhân hậu. Bởi chỉ thế thôi chưa đủ. Phải có những bộ óc sâu sắc vượt tầm một vương triều, ngang tầm một thời đại:
Ngang tầm thời đại mà vẫn dung dị hiền minh. Một dung dị tột cùng khiến ta có thể ứa nước mắt:
Khi dùng thủ pháp đối lập hình ảnh, Phùng Văn Khai đã dựng một hình tượng như mới hơn của một tướng quân lừng danh:
Ta thấu cảm ông tướng đan sọt làng Phù Ủng hơn qua thơ Phùng Văn Khai. Ông là con dân của chúng ta, chứ đâu chỉ sừng sững cắp ngang ngọn giáo nuốt ngưu đẩu!
Là con dân, các bậc tiền nhân ắt biết thương dân. Một phận bang giao hòa hiếu dẹp binh đao, một phận lo cho cơm áo quê nhà. Hai đại sự được nhà thơ ghi lại qua hình tượng ông sứ/ tổ nghề hai vai trọn nghĩa:
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội) trả lời phỏng vấn.
Giọng điệu sử thi của Phùng Văn Khai cũng khá đa dạng. Cũng bởi ông quá đủ trải đời để thấm những cung bậc đời. Trong khi người ta vẫn còn khua chân múa tay về “ông nhàn”, Phùng Văn Khai đã hạ một “nốt” rất trầm:
Và đây lại là một giọng điệu như tưng tửng:
“Như tưng tửng” thôi. Bởi tâm thế Á Đông của nhà thơ, như nói trên, đã vững chãi trong văn phong về lịch sử của mình. Vững trãi như hình tượng bông sen nhân hậu thanh khiết. Như là bông sen dâng lên vị đại tướng đương đại – người con ưu tú Lạc Hồng:
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội) nhận hoa chúc mừng.
2.3. Nhịp cầu lục bát đưa tiền nhân về với hôm nay
2.3.1. Tôi muốn đôi lời về tập Dịch thơ Danh nhân văn hóa – lịch sử Phùng Khắc Khoan sang thể lục bát của Phùng Văn Khai – tập thơ ghi một biểu hiện vô cùng đậm đặc cho cảm hứng lịch sử – văn hóa của dịch giả.
Nhưng trước hết xin đôi chút lan man mà lại rất liên quan chuyện dịch – dịch thơ.
Về chuyện dịch thơ, đại loại “thiên hạ” cho rằng: 1/ Thơ không thể dịch được (vì một phần nó khác văn xuôi); 2/ Thơ có thể dịch được, tùy từng văn bản; 3/ Thơ hoàn toàn dịch được.
Mặt khác, dịch thuật cũng có thể chia ra làm ba “loại”:
1/ Dịch nội ngữ. Hàng ngày, người Nam ta gặp nhau, hỏi: “Bác ăn cơm chưa?”, “Bác đi đâu đấy?”, v.v… Liệu có ai hiểu là họ hỏi thật thế? Phải dịch ra, nó là một câu chào. Xin chào!
Từ điển (Tiếng Việt, chẳng hạn) cũng vậy thôi, đó là một loại dịch nội ngữ. Mỗi từ trong đó, dù được cố gắng giải thích, cũng chả bao quát được hết nghĩa “ngoài đời” của nó. Bạn có thể giải hết nghĩa từ “nhân ngãi” không? Nhất là khi nó lại được đưa vào văn bản thơ!
2/ Dịch ngoại ngữ. Khó hơn nhiều. Chỉ là nói riêng về thơ thôi. Bạn phải thông thuộc ngoại ngữ, đã đành, lại phải thâm hậu bầu “khí quyển” văn hóa- xã hội của thời đại, của truyền thống ngôn ngữ mình dịch.
3/ Dịch ký hiệu ra ký hiệu. Loại này “dễ chịu” hơn. Như Bùi Xuân Phái vẽ minh họa thơ Hồ Xuân Hương, chẳng hạn.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội) trong chuyến đi điền dã.
*
Dịch thơ Đường là một chuyện rất khả dĩ. Thứ nhất, văn hóa – thiên nhiên ta đồng văn với họ; thứ hai ngôn ngữ ta thừa âm thanh để chuyển tải âm thanh của họ; và thứ ba, chúng ta đã quá quen thuộc thể thơ này, đến nỗi thường xuyên dùng nó để sáng tác,…
Thực tế cho thấy, không hiếm bài thơ Đường đã được chuyển ngữ rất thành công (nhưng xin thưa, dịch lục bát ra tiếng Tàu lại khác đấy!). Cụ Tản Đà là một “kiện tướng” trong làng dịch thơ Đường. Cụ hay dịch ra thể lục bát.
Nhưng dịch những thơ khác thì sao? Tôi theo ý kiến là có thể dịch, tùy từng văn bản. Mặt khác, trong tình hình thơ Việt Nam đã “khác” (tôi không thích dùng chữ “lạc hậu”) quá xa thơ đương đại thế giới, việc dịch sẽ khó gấp bội phần. Đến văn xuôi còn thế nữa là. Bạn dịch Mạc Ngôn? Ok. Bạn dịch Linh Sơn (Cao Hành Kiện)? Coi chừng!
Mà nói xa xôi làm gì, bạn hãy vận dụng hết khả năng mà dịch “nội ngữ” những bài thơ “hậu hiện đại” nước Nam ta coi!
*
Nhớ một bài thơ chép sổ thủa sinh viên của H.W.Longfelow (không nhớ dịch giả và quên cả tên bài):
Nhà thơ Nguyễn Thành Tuấn (bìa trái) – tác giả bài viết.
Tôi cũng không dám chắc, ngày ấy, mình đã chép y nguyên bản dịch. Nhưng quan trọng gì đâu, giờ tôi hiểu rằng, bản dịch này chỉ là “hậu văn bản” của nguyên tác nhà thơ Mỹ mà thôi. Nếu tôi chép sai chút ít, thì cũng làm thành một “hậu văn bản” tiếp theo thôi mà. Cũng còn đó dấu hỏi: Liệu bài thơ nguyên tác, có phải là “hậu văn bản” của một văn bản trước không? Nhưng cái sờ sờ trước mắt, là: Đây không còn là một bài thơ “(cao bồi) Mỹ” nữa, khi nó trang hoàng trong trang phục “áo dài” lục bát Việt Nam. Và nữa, chẳng hạn, những biểu tượng “mũi tên” trong con mắt nông dân (chứ không phải dân săn bắn…), “cây sồi” trong con mắt cư dân nhiệt đới (nhiều tre pheo…), sẽ gây được hiệu quả thẩm mỹ đến đâu?
*
Tôi đang có trong tay hai bản dịch từ tiếng Nhật, mà nguyên tác (phiên âm Latinh) là Oku no hosomichi của Bashò.
Tên tác phẩm chuyển ngữ sang tiếng Việt đã khác nhau: 1/Con đường hẹp thiên lý (Bản dịch của Hàn Thủy Giang); 2/Con đường hẹp vào chiều sâu tâm thức (Bản dịch của Nguyễn Nam Trân).
Chưa nói, chẳng hạn, cùng một bài thơ Haiku, Bashò viết ở cánh đồng Nasu khi gặp bé gái Kasane, cũng ra hai bản dịch không trùng từ ngữ:
Và:
Tôi không đủ “trình” để thẩm định hai bản dịch. Nhưng có sao đâu, tôi đọc, với tư cách nó là những hậu văn bản của thi hào Bashò.
*
Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, với bao danh tiếng và những lùm xùm. Lùm xùm thứ nhất, là có vẻ giới “học giả” Trung Quốc đánh giá thấp Nguyễn Du, vì không thể tự sáng tạo ra cốt truyện, mà phải đi vay mượn; lùm xùm thứ hai, là khi nó được dịch ra tiếng nước ngoài; những lùm xùm khác không trong phạm vi bài viết này.
Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du khi dịch ra nước ngoài, tôi (là người nước ấy) chẳng thà đọc bản dịch từ nguyên tác văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân. Tại vì đọc Longfelow ở thể lục bát, còn chấp nhận được, vì ý tưởng của ông ấy được chuyển tải sang tiếng Việt, thể thơ Việt (theo tôi) khá hoàn hảo (và đương nhiên, nó là một phóng tác). Trời ơi, lục bát dịch ra một thứ tiếng không hề biết lục bát là cái gì, và ngôn ngữ của họ không có “chế tài” cho thơ lục bát. Những dịch giả ấy có bị tâm thần chăng?
Tôi cũng thấy buồn cười, mấy ông nhà thơ ta, cứ hay đi khoe, được dịch thơ mình “băng” qua mấy ngoại ngữ. Từ Việt qua Nga, từ Nga qua Bồ,…
Trở lại “lùm xùm” thứ nhất. Tôi gặp không ít những ý kiến, rằng bản Kiều của Nguyễn Du chỉ là một bản dịch từ nguyên tác Trung Hoa. Họ đã không hiểu gì về dịch thuật đã đành, lại còn không biết tới phê bình văn học hiện đại – từ giữa thế kỷ XX, người ta đã thành thục phương pháp So sánh và Liên văn bản. Họ đã nhận thấy những “mô típ” của văn chương Châu Âu từ thủa dùng tiếng Latinh, đã luôn luôn được “nhắc lại” cho đến hôm nay, ở nhiều ngôn ngữ Ấn – Âu. Chắc chắn, chuyện đó cũng “vận hành” trong nền văn chương Hoa, Nhật, Triều, Hàn và Việt – những nền văn chương có nguồn gốc chữ Hán.
Thế nên, ta cứ ung dung thưởng thức lục bát Kiều, dù rằng nó có “Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh” đi chăng nữa. Dù rằng nó có điểm phát xuất: “Phương thảo liên thiên bích/ Lê chi sổ điểm hoa” đi chăng nữa. Thì Kiều vẫn: “Cỏ non xanh rợn chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” chứ sao.
2.3.2. Cụ Trạng Bùng viết rằng: (…) nếu chí mà ở đạo đức thì tất là phát ra lời lẽ hồn hậu, chí mà ở sự nghiệp thì tất là nhả ra khí phách hào hùng, chí ở rừng suối gò hang thì thích giọng thơ liêu tịch, chí ở gió mây trăng tuyết thì thích vẻ thơ thanh cao, chí ở nỗi uất ức thì làm ra lời thơ ưu tư, chí ở niềm cảm thương thì làm ra điệu thơ ai oán. Cứ xem thơ người xưa thì có thể thấy chí người xưa ngay vậy.
Tôi chắc rằng, khi dịch những bài thơ của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, hậu sinh Phùng Văn Khai cũng nhất mực học theo “chí” tổ tiên. Đó là một thuận lợi căn bản, mang đến sự giao thoa, đồng điệu giữa tâm hồn người viết nguyên tác và người dịch.
Như là chính thú nhận của dịch giả:
Càng tiến hành công việc dịch thơ Phùng Khắc Khoan sang thể lục bát, tôi càng cảm nhận được dường như có một luồng linh khí trợ tâm, đầu óc hanh thông, tinh thần sảng khoái, câu chữ ở đâu cứ thế ùa về (…)
Thơ đức Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan từ thuở thiếu niên 16, 17 tuổi đã khí phách cương cường, tầm mắt phong quang mạch lạc, đem khát vọng tung cánh chim bằng muôn dặm biển, lấy kiến văn thể hiện hoài bão giúp nước giúp đời không một chút phân vân.
Với khí chất của mình, Phùng Văn Khai hoàn toàn có thể theo đuổi hoài bão trong bản dịch sau:
Cụ Trạng kiêu hãnh giữa đời, Phùng Văn Khai cũng có thể học theo, để nương theo cành mai nọ:
Với một tinh thần công dân nồng nhiệt, Phùng Văn Khai đã dịch những câu thơ đầy tự hào:
Đương nhiên, tư thế của cụ Trạng ngày ấy là tư thế của một thần dân. Nhưng là một thần dân đau đáu trách nhiệm “công dân” nòi giống Việt.
Chỉ một lòng làm ông sứ Tuổi tuy cao thân tuy gầy/ Mệnh vua cờ tiết cầm tay lên đường đem lại hòa hiếu cho hai dân tộc, đem lại thái bình cho dân chúng Bắc – Nam:
Là một phong cách năng động, quyết liệt, nhưng trong thơ, Phùng Văn Khai nhiều khi cũng bộc lộ khí chất phong vân thanh nhàn, nó giúp cho ra những bản dịch thanh thoát “thần tiên”:
Thế còn cái khí chất ngông rượu ngông thơ thì “gã” có thừa. Âu cũng là do “gen” tổ tiên truyền lại chăng? Nhưng dứt khoát, đó là một góc hồn quý báu, rất người của những nhân cách không tầm thường. Và giữa mênh mông kiếp người, Phùng Văn Khai ngất ngưởng dịch:
Cái vẻ ngông của bản dịch này có sắc thái xù xì hơn, do một phần nó ở thể niêm luật. Nhưng bản lục bát của Phùng Văn Khai thì mềm mại hơn, mênh mang hơn. Thì đó cũng là một đóng góp.
Trong một mục viết ngắn này, tôi không thể nói hết những đóng góp của dịch giả, chỉ kể thêm một đóng góp thú vị trong bài:
Hình tượng cây chuối là một hình tượng đặc sắc trong văn chương Á Đông. Nó có ở nền văn học “mẫu” Trung Hoa, du nhập vào Triều Tiên. Rồi Nhật Bản, rất nổi tiếng bởi Bashò.
Ở đây, với thể lục bát dân tộc, Phùng Văn Khai đã thêm vào hình tượng chuối một dáng vẻ vừa “điển cố” Châu rơi lộp độp bên mành vừa dân giã Kính trời đất hiếu tổ tông/ Cháu con khang thịnh nối dòng danh gia.
Nhưng may mắn thay, những đóng góp của Phùng Văn Khai trong công trình dịch thơ Phùng Khắc Khoan đã được Tiến sĩ Hà Thanh Vân nói khá đầy đủ. Xin trích:
Quyết định chuyển dịch một phần mảng thơ chữ Hán đồ sộ của Phùng Khắc Khoan sang thể lục bát, vốn là thể thơ hồn cốt của dân tộc, là một lựa chọn dũng cảm và đầy dụng công. Nhà văn Phùng Văn Khai có lẽ muốn dùng thể thơ gần gũi nhất với tâm hồn người Việt để bắc nhịp cầu cho hậu thế bước vào cõi thơ uyên nguyên, bác học, nhưng cũng rất đỗi bình dị của Trạng Bùng.
Có thể nói, giá trị của tập thơ dịch này nằm ở ba phương diện.
Thứ nhất, những bản dịch đã góp phần đưa thơ Phùng Khắc Khoan đến gần hơn với những độc giả đại chúng bằng một hình thức thơ dân tộc quen thuộc.
Thứ hai, nó khơi lại một di sản văn chương lớn, giúp người đọc hôm nay nhận ra Phùng Khắc Khoan không chỉ là một nhân vật lịch sử đóng khung trong sách giáo khoa, mà còn là một thi nhân có đời sống nội tâm phong phú và cách hành xử đáng nêu gương sáng.
Thứ ba, nó thể hiện tấm lòng của người dịch đối với một bậc tiền nhân, với dòng họ, với văn hiến dân tộc. Một tập thơ dịch vì vậy cũng là một hành vi tưởng niệm.
2.4.Từ chân dung danh nhân đến chân dung văn nghệ sĩ
“Phổ” văn chương của Phùng Văn Khai khá rộng, nên đã nói mảng thơ viết về danh nhân xưa, không thể không nhắc mảng thơ chân dung văn nghệ sĩ – vốn được in trong tập thơ “Chân dung danh nhân, văn nghệ sĩ”.
Phát ngôn về người khác thì cũng chính là phát ngôn về mình, đặc biệt trong thơ.
Nói thế, để hãy ngẫm những phát ngôn của Phùng Văn Khai về nhà văn Phù Thăng:
Chân dung văn nghệ sĩ với gần một trăm bài rất dễ rơi vào tình trạng nhàm chán. Nhưng Phùng Văn Khai đã đưa vào tập thơ nhiều gương mặt đa dạng với nhiều cách thể hiện – theo một nghĩa nào đó, có thể gọi là sự “đa thanh” trong thể hiện.
Đang hướng về sử thi:
Thì chỗ khác lại hoạt kê:
Hãy nghe Phùng Văn Khai nói để hiểu thêm về “ca” dị biệt này: Văn Thùy mới thực vô cùng lạ lùng. Dù mùa hè nóng nực hay mùa đông giá buốt, hễ đi qua đất Như Quỳnh (Văn Lâm – Hưng Yên) nửa đêm Văn Thùy vẫn vào hè nhà tôi ngủ ngon lành. Ngày ấy con gái tôi mới 7, 8 tuổi đi học sớm thấy một ông râu ria quần áo xõa xượi như ăn mày nằm hè ngủ bên chú chó mực bé tưởng trộm vào nhà kêu ầm lên. Mãi sau thành quen, bé lẳng lặng dắt con chó buộc vào gốc cây bưởi trước nhà, múc một ca nước để bên “lão ăn mày”.
Ở một chân dung khác là chất bi-hài:
Với người bạn vong niên – nhà văn Đặng Văn Sinh – thì Phùng Văn Khai lại chọn một cảm hứng bi-hùng. Tôi coi đây là một thi phẩm xuất sắc nên xin đăng trọn vẹn:
Thực ra, chân dung trên đã “vượt quá” tầm vóc Đặng Văn Sinh – ý tôi muốn nói, nó đã trở thành một hình tượng văn học, khái quát một dạng người văn nghệ sĩ.
Không thể nói, chân dung nào trong tập cũng đạt độ như vậy. Nhưng hãy nhìn những “thế cách”, những nẻo đời, nẻo tâm… mà Phùng Văn Khai đã biểu đạt ở những chân dung để thấy sự trải nghiệm, sự đồng cảm của “nòi” văn với nhau trong một thời buổi, mà nhà thơ Ngô Kim Đỉnh đã nói với Khai: Họ toàn dìm nhau, viết cho nhau được ý nào đều hay ý đấy!
Định dừng, trước mâm cơm đạm bạc mà tươm tất, lại nảy vài ý. Vợ giục: anh ăn đi giữ sức khỏe (chả là mới ốm dậy). “Cận diễn ngôn” là: (vì biết đang viết về Phùng Văn Khai) viết về cái tay khùng khùng hay rượu chè ngất ngưởng trong nhà (ngoài quê Bắc) thì lúc nào chả được (vì thiếu gì tư liệu).
Nhưng tôi biết, Phùng Văn Khai có thiếu gì “tư liệu” về vợ mình đâu, mà chả phải lúc nào cũng viết được:
Rồi về mẹ anh nữa:
Cuối những năm 80 thế kỉ trước, tôi viết khi là “lính thú” trảy nước non Cao Bằng:
Phùng Văn Khai (theo lời kể Đào Bá Đoàn) hay gầm ghè khen và đọc rống lên đoạn thơ ấy trong những trà dư tửu hậu sương sương.
Thôi thì, cứ theo đà sương sương, tôi cũng xin “phong” Phùng Văn Khai là trong dạng “sang Đông Đông nát sang Đoài Đoài tan”, “Phú Xuân đã trải Đồng Nai cũng từng”… Chứ chẳng bao giờ chịu “Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng”.
Thế thì, những người phụ nữ trong thơ Khai là thế nào?
Là qua cái “hoạt kê”, cái “tự trào” về vợ – về [mình qua] mẹ, ta thấy thấp thoáng bóng dáng Phùng Văn Khai. Cũng chả phải là cái bóng dáng – cái chân dung của một dạng “nòi” văn nghệ sĩ đó sao?
——————–
* Nguyên Phó Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Hưng Yên, Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Phố Hiến.
![Thơ Phùng Văn Khai trong cảm hứng lịch sử, văn hóa qua tâm thức Á Đông [Kỳ 2] - Tác giả: Nhà thơ Nguyễn Thành Tuấn* Thơ Phùng Văn Khai trong cảm hứng lịch sử, văn hóa qua tâm thức Á Đông [Kỳ 2] - Tác giả: Nhà thơ Nguyễn Thành Tuấn*](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/07/Nha-tho-Nguyen-Thanh-Tuan-h10-696x936.jpg)





![Thơ Phùng Văn Khai trong cảm hứng lịch sử, văn hóa qua tâm thức Á Đông [Kỳ 1] – Tác giả: Nhà thơ Nguyễn Thành Tuấn* Thơ Phùng Văn Khai trong cảm hứng lịch sử, văn hóa qua tâm thức Á Đông [Kỳ 1] - Tác giả: Nhà thơ Nguyễn Thành Tuấn*](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/07/Nha-tho-Nguyen-Thanh-Tuan-218x150.jpg)













![Thơ Phùng Văn Khai trong cảm hứng lịch sử, văn hóa qua tâm thức Á Đông [Kỳ 1] – Tác giả: Nhà thơ Nguyễn Thành Tuấn* Thơ Phùng Văn Khai trong cảm hứng lịch sử, văn hóa qua tâm thức Á Đông [Kỳ 1] - Tác giả: Nhà thơ Nguyễn Thành Tuấn*](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/07/Nha-tho-Nguyen-Thanh-Tuan-324x235.jpg)




