Thơ Phùng Văn Khai trong cảm hứng lịch sử, văn hóa qua tâm thức Á Đông [Kỳ 2] – Tác giả: Nhà thơ Nguyễn Thành Tuấn*

Thơ Phùng Văn Khai trong cảm hứng lịch sử, văn hóa qua tâm thức Á Đông [Kỳ 2] - Tác giả: Nhà thơ Nguyễn Thành Tuấn*

Nhà thơ Nguyễn Thành Tuấn – tác giả bài viết.

 

II. Cảm hứng trữ tình lịch sử – văn hóa

2.1. Từ ngàn lau hoang vu vô tri đến hình tượng NGƯỜI CHIẾN SĨ

Đồng-bằng-sông-Hồng quê Khai và tôi, như chính cái tên của nó, là máu thịt của con sông đỏ nặng phù sa. Cũng chính là máu thịt của những người con chân chất sống chết đắp bồi châu thổ:

Nhúm nhau ta hòa sắc phù sa đỏ
Vạt lau chiều lững thững sông đi
(Khúc sông Hồng)

Lau thì bạt ngàn khắp nơi – đầm hoang, dặm trường, quan ải… Nhưng lau sông Hồng đã thành một với người con hòa núm nhau ở đó:

Một sông Hồng một tôi lau sông thơm thắm
(Lau sông Hồng)

Hòa làm một, vì ở đó có em ta:

Cá tôm rì rầm lau sậy hồng hoang

Phơ phất lau khuya in bóng trăng suông
Em hẹn lời sông chín năm thắt ruột
(Khúc sông Hồng)

Hòa làm một, vì ở đó có mẹ ta:

Lau từng bông thơm tơ tóc
Những mẹ già móm mém bến sông
(Lau sông Hồng)

Hòa làm một với trăn trở lớn dần cùng không-thời-gian:

Mai rồi ta về với cỏ
Có còn chợ đêm Long Biên?
Sông Hồng ngoài kia còn đỏ?
Hoa lau còn bạc đêm đêm?
(Chợ đêm Long Biên)

Lớn dần cùng nỗi đau mất mát:

Lau ngàn lau trắng ngàn bông
Trắng lây sang cả người trông đợi người
Chiến tranh hai đận xa rồi
Xô nghiêng chiều chậm rối lời cỏ xưa
Năm nao giáp tết giao thừa
Chị tôi cũng thức nghe mưa một mình
(Mưa
Tặng các mẹ, vợ liệt sĩ Mậu Thân)

 

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội).Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội).

Núm nhau hòa nước sông Hồng đã nuôi lớn người chiến sĩ:

Mắt sáng giương đêm đen rét buốt
Vạt lau loang loáng lập lờ trôi
Thân chuối bập bềnh mìn du kích
Banh xác Tây đen thét rợn người
(Đối thoại cùng lô cốt bên sông)

Những chàng trai vượt sông lau im nhỏ máu
Những mắt lá giương soi nòng súng trận
(Lau sông Hồng)

Ta ao ước một bông lau trắng
Nơi biên cương vó ngựa trăng tà
(Ta từ nguồn cội)

Những hình-ảnh bông lau của Phùng Văn Khai đã “chín” dần thành hình-tượng tự lúc nào. Hóa thân vào hình-tượng-cha-già, vào hình-tượng-người-chiến-sĩ-cách-mạng:

Trăng sáng đêm đêm
Lau lặng lẽ chờ người chín năm bạc tóc
Đã òa nước dâng sao vàng bay phần phật
Bóng cha già in bóng lau sông
(Lau sông Hồng)

Và hình-tượng-lau của thơ Khai đã từng bước dấn sâu thêm vào cảm hứng lịch sử hào hùng dân tộc:

Tôi sợ mình không đến được trăm năm
Kính cẩn vái lau sông Hồng nghìn tuổi

Kính cẩn dọn mình chiêm bái lau sông
Ngày chim Lạc vút bay từ cỏ hoa thơm thảo

Vẫn là lau sông Hồng đấy thôi
Phần phật bay mừng Vạn Xuân – Trấn Quốc
Đinh – Lý – Trần – Lê… nối nền độc lập
Lau sông Hồng xanh mát suốt nghìn năm
(Lau sông Hồng)

2.2. Lịch sử hào hùng qua những hình tượng tiền nhân

Những người chiến sĩ cách mạng, những người lãnh tụ cách mạng – suy đến cùng cũng là hậu duệ của những tiền nhân Lạc Hồng. Những người con trai, con gái của mẹ Âu Cơ – cha Lạc Long Quân.

Phùng Văn Khai -h6

Những người đã ào lên quật cường cùng vị đế đầu tiên trong đêm trường Bắc thuộc:

Lửa rợp trời Hợp Phố
Vua Bắc phương rụng rời
Vạn luồng tên bão lốc
Tướng Lâm Ấp đầu rơi

Trăng lên Khai Quốc tự
Đầm Sương Mù khói giăng
Một đóa sen vừa nở
Đã tạc vào ngàn năm
(Lý Bí)

Hãy dừng lại một chút trước những hình ảnh đối lập: “lửa rợp trời”, “luồng tên bão lốc” với “trăng Khai Quốc tự”, “đóa sen vừa nở” để thấy Phùng Văn Khai đã “bắt” trúng hồn cốt bản lĩnh văn hóa dân tộc. Một dân tộc anh hùng mà nhân hậu. Và trong dòng cảm hứng lịch sử – văn hóa, Khai đã nhất quán, vững vàng, sâu sắc triển khai tâm thức đó.

Phùng Văn Khai -h7

Tiền nhân ta không chỉ anh hùng và nhân hậu. Bởi chỉ thế thôi chưa đủ. Phải có những bộ óc sâu sắc vượt tầm một vương triều, ngang tầm một thời đại:

Một vai khuông phò Lý thị
Một vai gánh vác Trần gia
Thân mình mưa nguồn chớp bể
Trăm năm gánh tiếng oan gia

Vương triều hưng rồi lại phế
Non sông mãi mãi gấm hoa
(Trước Lăng mộ Thái phó Phùng Tá Chu)

Ngang tầm thời đại mà vẫn dung dị hiền minh. Một dung dị tột cùng khiến ta có thể ứa nước mắt:

Đi trên ánh đao bóng kiếm
Tim thiêng giữ mối cương thường
Suốt một thân phò nghĩa lớn
Thác còn thơm thảo quê hương

Chiều mưa xuân mờ cay mắt
Cỏ cây đá sỏi cựa mình
Cửa đền lặng im trầm mặc
Lấm tấm chuông chùa hiền minh
(Trước đền Lý Thường Kiệt)

Khi dùng thủ pháp đối lập hình ảnh, Phùng Văn Khai đã dựng một hình tượng như mới hơn của một tướng quân lừng danh:

Người trong trẻo như sen
Người cương cường như nước
Người trầm mặc như mây
Từ bảy trăm năm trước.
(Trước đền Phạm Ngũ Lão)

Ta thấu cảm ông tướng đan sọt làng Phù Ủng hơn qua thơ Phùng Văn Khai. Ông là con dân của chúng ta, chứ đâu chỉ sừng sững cắp ngang ngọn giáo nuốt ngưu đẩu!

Là con dân, các bậc tiền nhân ắt biết thương dân. Một phận bang giao hòa hiếu dẹp binh đao, một phận lo cho cơm áo quê nhà. Hai đại sự được nhà thơ ghi lại qua hình tượng ông sứ/ tổ nghề hai vai trọn nghĩa:

Trời Trung Hoa mây phủ
Sứ đoàn vâng mệnh vua
Giữ mối giềng lân quốc
Giang sơn vẹn cõi bờ.

Sắc vóc gấm hoa kia
Mồ hôi dân thơm thảo
Võng tía lọng xanh kia
Đền thờ dân cơm áo.
(Trước mộ ông Tổ nghề thêu Lê Công Hành)

 

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội) trả lời phỏng vấn.Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội) trả lời phỏng vấn.

Giọng điệu sử thi của Phùng Văn Khai cũng khá đa dạng. Cũng bởi ông quá đủ trải đời để thấm những cung bậc đời. Trong khi người ta vẫn còn khua chân múa tay về “ông nhàn”, Phùng Văn Khai đã hạ một “nốt” rất trầm:

Vương quyền đảo điên sớm tối
Cỏ hoa liệu có thanh nhàn
(Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Và đây lại là một giọng điệu như tưng tửng:

Không ước ngai vàng mơ kiếm báu
Chỉ mong đầy đặn kiếp nông phu
Sớm nước chè xanh nơi thành cổ
Tối xếp bằng chân rượu nửa vò
(Thành Cổ Loa)

“Như tưng tửng” thôi. Bởi tâm thế Á Đông của nhà thơ, như nói trên, đã vững chãi trong văn phong về lịch sử của mình. Vững trãi như hình tượng bông sen nhân hậu thanh khiết. Như là bông sen dâng lên vị đại tướng đương đại – người con ưu tú Lạc Hồng:

Bức ảnh trên tường trầm mặc quá
Tiếng chim ríu rít nắng bên thềm
Vị tướng lừng danh nơi chiến trận
Thư phòng thong thả thoảng hương sen
(Tưởng niệm đại tướng Lê Trọng Tấn)

 

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội) nhận hoa chúc mừng.Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội) nhận hoa chúc mừng.

2.3. Nhịp cầu lục bát đưa tiền nhân về với hôm nay

2.3.1. Tôi muốn đôi lời về tập Dịch thơ Danh nhân văn hóa – lịch sử Phùng Khắc Khoan sang thể lục bát của Phùng Văn Khai – tập thơ ghi một biểu hiện vô cùng đậm đặc cho cảm hứng lịch sử – văn hóa của dịch giả.

Nhưng trước hết xin đôi chút lan man mà lại rất liên quan chuyện dịch – dịch thơ.

Về chuyện dịch thơ, đại loại “thiên hạ” cho rằng: 1/ Thơ không thể dịch được (vì một phần nó khác văn xuôi); 2/ Thơ có thể dịch được, tùy từng văn bản; 3/ Thơ hoàn toàn dịch được.

Mặt khác, dịch thuật cũng có thể chia ra làm ba “loại”:

1/ Dịch nội ngữ. Hàng ngày, người Nam ta gặp nhau, hỏi: “Bác ăn cơm chưa?”, “Bác đi đâu đấy?”, v.v… Liệu có ai hiểu là họ hỏi thật thế? Phải dịch ra, nó là một câu chào. Xin chào!

Từ điển (Tiếng Việt, chẳng hạn) cũng vậy thôi, đó là một loại dịch nội ngữ. Mỗi từ trong đó, dù được cố gắng giải thích, cũng chả bao quát được hết nghĩa “ngoài đời” của nó. Bạn có thể giải hết nghĩa từ “nhân ngãi” không? Nhất là khi nó lại được đưa vào văn bản thơ!

2/ Dịch ngoại ngữ. Khó hơn nhiều. Chỉ là nói riêng về thơ thôi. Bạn phải thông thuộc ngoại ngữ, đã đành, lại phải thâm hậu bầu “khí quyển” văn hóa- xã hội của thời đại, của truyền thống ngôn ngữ mình dịch.

3/ Dịch ký hiệu ra ký hiệu. Loại này “dễ chịu” hơn. Như Bùi Xuân Phái vẽ minh họa thơ Hồ Xuân Hương, chẳng hạn.

 

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội) trong chuyến đi điền dã.Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội) trong chuyến đi điền dã.

*

Dịch thơ Đường là một chuyện rất khả dĩ. Thứ nhất, văn hóa – thiên nhiên ta đồng văn với họ; thứ hai ngôn ngữ ta thừa âm thanh để chuyển tải âm thanh của họ; và thứ ba, chúng ta đã quá quen thuộc thể thơ này, đến nỗi thường xuyên dùng nó để sáng tác,…

Thực tế cho thấy, không hiếm bài thơ Đường đã được chuyển ngữ rất thành công (nhưng xin thưa, dịch lục bát ra tiếng Tàu lại khác đấy!). Cụ Tản Đà là một “kiện tướng” trong làng dịch thơ Đường. Cụ hay dịch ra thể lục bát.

Nhưng dịch những thơ khác thì sao? Tôi theo ý kiến là có thể dịch, tùy từng văn bản. Mặt khác, trong tình hình thơ Việt Nam đã “khác” (tôi không thích dùng chữ “lạc hậu”) quá xa thơ đương đại thế giới, việc dịch sẽ khó gấp bội phần. Đến văn xuôi còn thế nữa là. Bạn dịch Mạc Ngôn? Ok. Bạn dịch Linh Sơn (Cao Hành Kiện)? Coi chừng!

Mà nói xa xôi làm gì, bạn hãy vận dụng hết khả năng mà dịch “nội ngữ” những bài thơ “hậu hiện đại” nước Nam ta coi!

*

Nhớ một bài thơ chép sổ thủa sinh viên của H.W.Longfelow (không nhớ dịch giả và quên cả tên bài):

“Mũi tên tôi bắn lên trời
Tên rơi xuống đất biết rơi chỗ nào
Bởi tên vùn vụt bay mau
Đường bay tầm mắt làm sao kịp nhìn
Một bài ca tôi cất lên
Bài ca rơi xuống biết tìm nơi nao
Mắt người dù sáng dường bao
Cũng không theo kịp chỗ nào lời rơi
Về sau trên một gốc sồi
Mũi tên tôi thấy lại rồi vẫn nguyên
Bài ca thủa ấy tôi tìm
Lại nằm nguyên vẹn trong tim bạn mình”

 

Nhà thơ Nguyễn Thành Tuấn (bìa trái) – tác giả bài viếtNhà thơ Nguyễn Thành Tuấn (bìa trái) – tác giả bài viết.

Tôi cũng không dám chắc, ngày ấy, mình đã chép y nguyên bản dịch. Nhưng quan trọng gì đâu, giờ tôi hiểu rằng, bản dịch này chỉ là “hậu văn bản” của nguyên tác nhà thơ Mỹ mà thôi. Nếu tôi chép sai chút ít, thì cũng làm thành một “hậu văn bản” tiếp theo thôi mà. Cũng còn đó dấu hỏi: Liệu bài thơ nguyên tác, có phải là “hậu văn bản” của một văn bản trước không? Nhưng cái sờ sờ trước mắt, là: Đây không còn là một bài thơ “(cao bồi) Mỹ” nữa, khi nó trang hoàng trong trang phục “áo dài” lục bát Việt Nam. Và nữa, chẳng hạn, những biểu tượng “mũi tên” trong con mắt nông dân (chứ không phải dân săn bắn…), “cây sồi” trong con mắt cư dân nhiệt đới (nhiều tre pheo…), sẽ gây được hiệu quả thẩm mỹ đến đâu?

*

Tôi đang có trong tay hai bản dịch từ tiếng Nhật, mà nguyên tác (phiên âm Latinh) là Oku no hosomichi của Bashò.

Tên tác phẩm chuyển ngữ sang tiếng Việt đã khác nhau: 1/Con đường hẹp thiên lý (Bản dịch của Hàn Thủy Giang); 2/Con đường hẹp vào chiều sâu tâm thức (Bản dịch của Nguyễn Nam Trân).

Chưa nói, chẳng hạn, cùng một bài thơ Haiku, Bashò viết ở cánh đồng Nasu khi gặp bé gái Kasane, cũng ra hai bản dịch không trùng từ ngữ:

“Chính em, một bông
Cẩm chướng ven rừng hoang dã
Cánh hoa muôn vẻ”
(Hàn Thủy Giang dịch)

Và:

“Nếu tên em là Kép,
Phải hiểu: nhiều tầng cánh,
Như loài hoa nữ lang.”
(Nguyễn Nam Trân dịch)

Tôi không đủ “trình” để thẩm định hai bản dịch. Nhưng có sao đâu, tôi đọc, với tư cách nó là những hậu văn bản của thi hào Bashò.

*

Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, với bao danh tiếng và những lùm xùm. Lùm xùm thứ nhất, là có vẻ giới “học giả” Trung Quốc đánh giá thấp Nguyễn Du, vì không thể tự sáng tạo ra cốt truyện, mà phải đi vay mượn; lùm xùm thứ hai, là khi nó được dịch ra tiếng nước ngoài; những lùm xùm khác không trong phạm vi bài viết này.

Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du khi dịch ra nước ngoài, tôi (là người nước ấy) chẳng thà đọc bản dịch từ nguyên tác văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân. Tại vì đọc Longfelow ở thể lục bát, còn chấp nhận được, vì ý tưởng của ông ấy được chuyển tải sang tiếng Việt, thể thơ Việt (theo tôi) khá hoàn hảo (và đương nhiên, nó là một phóng tác). Trời ơi, lục bát dịch ra một thứ tiếng không hề biết lục bát là cái gì, và ngôn ngữ của họ không có “chế tài” cho thơ lục bát. Những dịch giả ấy có bị tâm thần chăng?

Tôi cũng thấy buồn cười, mấy ông nhà thơ ta, cứ hay đi khoe, được dịch thơ mình “băng” qua mấy ngoại ngữ. Từ Việt qua Nga, từ Nga qua Bồ,…

Trở lại “lùm xùm” thứ nhất. Tôi gặp không ít những ý kiến, rằng bản Kiều của Nguyễn Du chỉ là một bản dịch từ nguyên tác Trung Hoa. Họ đã không hiểu gì về dịch thuật đã đành, lại còn không biết tới phê bình văn học hiện đại – từ giữa thế kỷ XX, người ta đã thành thục phương pháp So sánh và Liên văn bản. Họ đã nhận thấy những “mô típ” của văn chương Châu Âu từ thủa dùng tiếng Latinh, đã luôn luôn được “nhắc lại” cho đến hôm nay, ở nhiều ngôn ngữ Ấn – Âu. Chắc chắn, chuyện đó cũng “vận hành” trong nền văn chương Hoa, Nhật, Triều, Hàn và Việt – những nền văn chương có nguồn gốc chữ Hán.

Thế nên, ta cứ ung dung thưởng thức lục bát Kiều, dù rằng nó có “Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh” đi chăng nữa. Dù rằng nó có điểm phát xuất: “Phương thảo liên thiên bích/ Lê chi sổ điểm hoa” đi chăng nữa. Thì Kiều vẫn: “Cỏ non xanh rợn chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” chứ sao.

2.3.2. Cụ Trạng Bùng viết rằng: (…) nếu chí mà ở đạo đức thì tất là phát ra lời lẽ hồn hậu, chí mà ở sự nghiệp thì tất là nhả ra khí phách hào hùng, chí ở rừng suối gò hang thì thích giọng thơ liêu tịch, chí ở gió mây trăng tuyết thì thích vẻ thơ thanh cao, chí ở nỗi uất ức thì làm ra lời thơ ưu tư, chí ở niềm cảm thương thì làm ra điệu thơ ai oán. Cứ xem thơ người xưa thì có thể thấy chí người xưa ngay vậy.

Tôi chắc rằng, khi dịch những bài thơ của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, hậu sinh Phùng Văn Khai cũng nhất mực học theo “chí” tổ tiên. Đó là một thuận lợi căn bản, mang đến sự giao thoa, đồng điệu giữa tâm hồn người viết nguyên tác và người dịch.

Như là chính thú nhận của dịch giả:

Càng tiến hành công việc dịch thơ Phùng Khắc Khoan sang thể lục bát, tôi càng cảm nhận được dường như có một luồng linh khí trợ tâm, đầu óc hanh thông, tinh thần sảng khoái, câu chữ ở đâu cứ thế ùa về (…)

Thơ đức Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan từ thuở thiếu niên 16, 17 tuổi đã khí phách cương cường, tầm mắt phong quang mạch lạc, đem khát vọng tung cánh chim bằng muôn dặm biển, lấy kiến văn thể hiện hoài bão giúp nước giúp đời không một chút phân vân.

Với khí chất của mình, Phùng Văn Khai hoàn toàn có thể theo đuổi hoài bão trong bản dịch sau:

Tự thuật
(Bài hai)

Việc đời sâu bọ bon chen
Giàu sang, cao thấp, chê khen mệnh trời
Thanh bần ta sẵn thảnh thơi
Đường mây nhẹ bước thang trời bắc lên
Sương vây tùng bách đêm đêm
Kình nghê tung sóng những miền biển khơi
Bể Nam vút cánh chim trời
Cao xanh vạn dặm trăng phơi Thiên Hà.

Cụ Trạng kiêu hãnh giữa đời, Phùng Văn Khai cũng có thể học theo, để nương theo cành mai nọ:

Quan tảo mai ngẫu thành

Muôn trùng vạn vật im hơi
Dậu nam bỗng hé một chồi rung rinh
Vươn trên muôn chủng biếc xanh
Mặc kia gió rét riêng mình xuân tươi.

Với một tinh thần công dân nồng nhiệt, Phùng Văn Khai đã dịch những câu thơ đầy tự hào:

Kính họa thơ mười vần của Chi Phong
(…)
Kìa trông Việt quốc mà coi
Chính trung trời đất, vật – người hanh thông
Rừng Chu hổ báo không cùng
Cá, diều trời vực nỗi mừng hiện ra
Thôn quê trẻ nhỏ vang ca
Kỳ đình thuyền rượu gần xa dập dìu
Voi còn in dấu chân rêu
Long diên hương ngát gió chiều đưa sang
Từ xưa nhẫn nhịn lân bang
Văn chương từ phú hàng hàng điểm tô
Muôn hoa đùa gió sắc phô
Chúng sinh thuần phác sông hồ biếc xanh
(…)

Đương nhiên, tư thế của cụ Trạng ngày ấy là tư thế của một thần dân. Nhưng là một thần dân đau đáu trách nhiệm “công dân” nòi giống Việt.

Chỉ một lòng làm ông sứ Tuổi tuy cao thân tuy gầy/ Mệnh vua cờ tiết cầm tay lên đường đem lại hòa hiếu cho hai dân tộc, đem lại thái bình cho dân chúng Bắc – Nam:

Tự xướng tự hoạ

Kinh Thi còn đọc chưa chăm
Biếng rèn biện luận biết làm sao đây
Tuổi tuy cao thân tuy gầy
Mệnh vua cờ tiết cầm tay lên đường
Cửu trùng quyến luyến niềm thương
Hoàng hoa thi phẩm tỏ tường vài ba
Dốc lòng trung nghĩa riêng ta
Bắc – Nam dân chúng thái hòa chung vui.

Là một phong cách năng động, quyết liệt, nhưng trong thơ, Phùng Văn Khai nhiều khi cũng bộc lộ khí chất phong vân thanh nhàn, nó giúp cho ra những bản dịch thanh thoát “thần tiên”:

Tây Hồ đề vịnh

Lợi danh một đám bụi trần
Hồ Tây dạo bước phong vân thanh nhàn
Bồng Lai, Phương Trượng sương tan
Mới hay Tiên cũng như Phàm khác chi.

Thế còn cái khí chất ngông rượu ngông thơ thì “gã” có thừa. Âu cũng là do “gen” tổ tiên truyền lại chăng? Nhưng dứt khoát, đó là một góc hồn quý báu, rất người của những nhân cách không tầm thường. Và giữa mênh mông kiếp người, Phùng Văn Khai ngất ngưởng dịch:

Đáp huề tửu khất thi

Câu thần cao vút hơi tiên
Bài hay hơn vạn chung men rượu hồng
Cuộc bày thơ – rượu muôn trùng
Thi tiên, tửu thánh mênh mông kiếp người.
Bài thơ trên có một bản dịch khác:
Còn hơn cả rượu, hứng thơ say
Ngang vò rượu quý bài thơ này
Thơ đã làm xong rượu uống hết
Trùm thơ, trùm rượu là ta đây
(Phùng Khắc Khoan hợp tuyển thơ văn – Nxb Hội Nhà văn, 2012)

Cái vẻ ngông của bản dịch này có sắc thái xù xì hơn, do một phần nó ở thể niêm luật. Nhưng bản lục bát của Phùng Văn Khai thì mềm mại hơn, mênh mang hơn. Thì đó cũng là một đóng góp.

Trong một mục viết ngắn này, tôi không thể nói hết những đóng góp của dịch giả, chỉ kể thêm một đóng góp thú vị trong bài:

Cây chuối

Vun trồng khoảnh đất tốt tươi
Yêu sao khóm chuối như người biếc xanh
Châu rơi lộp độp bên mành
Cửa nhà hé ngọn gió thanh đón chào
Giữ niềm nghĩa tín phong tao
Công danh tứ hải đạo cao muôn trùng
Kính trời đất hiếu tổ tông
Cháu con khang thịnh nối dòng danh gia.

Hình tượng cây chuối là một hình tượng đặc sắc trong văn chương Á Đông. Nó có ở nền văn học “mẫu” Trung Hoa, du nhập vào Triều Tiên. Rồi Nhật Bản, rất nổi tiếng bởi Bashò.

Ở đây, với thể lục bát dân tộc, Phùng Văn Khai đã thêm vào hình tượng chuối một dáng vẻ vừa “điển cố” Châu rơi lộp độp bên mành vừa dân giã Kính trời đất hiếu tổ tông/ Cháu con khang thịnh nối dòng danh gia.

Nhưng may mắn thay, những đóng góp của Phùng Văn Khai trong công trình dịch thơ Phùng Khắc Khoan đã được Tiến sĩ Hà Thanh Vân nói khá đầy đủ. Xin trích:

Quyết định chuyển dịch một phần mảng thơ chữ Hán đồ sộ của Phùng Khắc Khoan sang thể lục bát, vốn là thể thơ hồn cốt của dân tộc, là một lựa chọn dũng cảm và đầy dụng công. Nhà văn Phùng Văn Khai có lẽ muốn dùng thể thơ gần gũi nhất với tâm hồn người Việt để bắc nhịp cầu cho hậu thế bước vào cõi thơ uyên nguyên, bác học, nhưng cũng rất đỗi bình dị của Trạng Bùng.

Có thể nói, giá trị của tập thơ dịch này nằm ở ba phương diện.

Thứ nhất, những bản dịch đã góp phần đưa thơ Phùng Khắc Khoan đến gần hơn với những độc giả đại chúng bằng một hình thức thơ dân tộc quen thuộc.

Thứ hai, nó khơi lại một di sản văn chương lớn, giúp người đọc hôm nay nhận ra Phùng Khắc Khoan không chỉ là một nhân vật lịch sử đóng khung trong sách giáo khoa, mà còn là một thi nhân có đời sống nội tâm phong phú và cách hành xử đáng nêu gương sáng.

Thứ ba, nó thể hiện tấm lòng của người dịch đối với một bậc tiền nhân, với dòng họ, với văn hiến dân tộc. Một tập thơ dịch vì vậy cũng là một hành vi tưởng niệm.

2.4.Từ chân dung danh nhân đến chân dung văn nghệ sĩ

“Phổ” văn chương của Phùng Văn Khai khá rộng, nên đã nói mảng thơ viết về danh nhân xưa, không thể không nhắc mảng thơ chân dung văn nghệ sĩ – vốn được in trong tập thơ “Chân dung danh nhân, văn nghệ sĩ”.

Phát ngôn về người khác thì cũng chính là phát ngôn về mình, đặc biệt trong thơ.

Nói thế, để hãy ngẫm những phát ngôn của Phùng Văn Khai về nhà văn Phù Thăng:

Vua sướng cũng thế thôi
Cũng đình làng xem hội
Dân khổ cũng thế thôi
Khoai lang thơm nước vối.

Mặc ai bình công – tội
Mặc ai người công danh
Ông về cùng đồng bãi
Như cỏ thản nhiên xanh.

Chân dung văn nghệ sĩ với gần một trăm bài rất dễ rơi vào tình trạng nhàm chán. Nhưng Phùng Văn Khai đã đưa vào tập thơ nhiều gương mặt đa dạng với nhiều cách thể hiện – theo một nghĩa nào đó, có thể gọi là sự “đa thanh” trong thể hiện.

Đang hướng về sử thi:

Mãi nhớ lời mẹ dặn
(Tưởng nhớ nhà thơ Phùng Quán)

Mẹ dặn con viết trên giấy kẻ dòng
Tột cùng yêu thương, tột cùng ngay thẳng
Nhịp tim đầu cây bút là cây súng
Hơi thở cuối cùng xanh thắm đường văn.

Người làm xiếc đi dây
Người liệt sĩ lấy máu mình tô sắc cờ Tổ quốc
Con – người cầm bút
Mẹ dặn suốt đời chân thật với nhân dân.
Con xin về bên mẹ nghìn lần
Nghìn lần ghi lại lời mẹ dặn
Và đã suốt một đời con sống
Như đúng lời mẹ dặn, mẹ ơi!

Thì chỗ khác lại hoạt kê:

Thơ về Văn Thùy

Hưng Yên có một Văn Thùy
Hồn rơm, lá cỏ, cũng tùy đó đây
Muốn vào nhà phải chặt cây
Muốn đốt nhà phải hây hây má hồng?

Ban ngày ngẩn ngẩn, ngơ ngơ
Ban đêm thấy gái như cờ lông công

Nếu cần ta sẽ thí thân
Trăm năm bánh đúc rau cần mà chơi
Đã là thuyền phải ra khơi
Vì mỹ nhân phải coi trời bằng vung.
Rồi đem nhau đến Kỳ Cùng

Hãy nghe Phùng Văn Khai nói để hiểu thêm về “ca” dị biệt này: n Thùy mới thực vô cùng lạ lùng. Dù mùa hè nóng nực hay mùa đông giá buốt, hễ đi qua đất Như Quỳnh (Văn Lâm – Hưng Yên) nửa đêm Văn Thùy vẫn vào hè nhà tôi ngủ ngon lành. Ngày ấy con gái tôi mới 7, 8 tuổi đi học sớm thấy một ông râu ria quần áo xõa xượi như ăn mày nằm hè ngủ bên chú chó mực bé tưởng trộm vào nhà kêu ầm lên. Mãi sau thành quen, bé lẳng lặng dắt con chó buộc vào gốc cây bưởi trước nhà, múc một ca nước để bên “lão ăn mày”.

Ở một chân dung khác là chất bi-hài:

Thơ cùng Ngô Kim Đỉnh

“Khởi nghiệp – vua Hùng chọn núi”
Hai Bà Trưng chọn Hát Môn – thề
Ngô Kim Đỉnh chọn gì? Trời biết?
Tháng năm dài, hướng bão anh đi.

Họ Ngô kia tìm gì trong núi?
Tìm gì trong sông, suối, mây ngàn?
Tìm “núm ruột đất đai thăm thẳm”
Cây đã xanh vua đã mất ngai vàng.

Họ Ngô kia hỏi gì giun dế?
Hỏi Loa Thành đã đổ thế nào ư?

Mặc ai đã bán buôn tước lộc
Còn thêm người chót vót ngôi cao
Ta “đào giếng trồng cây chắn bão”
Mặc kệ người thì đã làm sao?

Với người bạn vong niên – nhà văn Đặng Văn Sinh – thì Phùng Văn Khai lại chọn một cảm hứng bi-hùng. Tôi coi đây là một thi phẩm xuất sắc nên xin đăng trọn vẹn:

Thư gửi Đặng Văn Sinh

Thưa anh,
Mùa “Vàng máu”; “Ga tàu”; “Hoa mận dại”
“Ký ức làng Cùa”; “Thanh kiếm Phù tang”
“Đêm trăng Tả Giàng”; “Khi thợ săn mất súng”
Ai trẫm mình “Bến Lở”; “Khúc Trương Chi”…
Văn anh đã một vì nghĩa nước
Một đã vì ai lỡ nguyện thề
Một đã chết đi từng tấc dạ
Một còn xanh cỏ với triền đê.

Anh đã sống tháng ngày nguội lạnh
Mặc lũ ruồi sôi sục, vo ve.
Tự làm bão, làm giông mùa chớp bể
Sen tàn còn trơ một cuống lá kia.

Và xanh thắm trơ gan thuyền bỏ bến
Cao ốc tầng tầng, rơm rác, văn bia
Anh như thỏ, như rùa thơm tay bụt
Đã mặc nhiên hoa súng nở bên hè.

Thưa anh,
Cơm ba bữa, ai ăn? Người mơ tưởng?
Sông Hồng chảy đã đành, xanh biển, xanh dâu
Ai đã khác? Ta từ lâu, đã khác?
Còn bàn gì gươm báu sẽ về đâu?

Nhắn về anh, trăng chưa tàn, kiếm gãy
Bút mực giang hồ đứt đoạn, khinh khi
Ta vâng mệnh phận rồng ao cạn
Cỏ nghìn đời xanh bước chân đi.

Thực ra, chân dung trên đã “vượt quá” tầm vóc Đặng Văn Sinh – ý tôi muốn nói, nó đã trở thành một hình tượng văn học, khái quát một dạng người văn nghệ sĩ.

Không thể nói, chân dung nào trong tập cũng đạt độ như vậy. Nhưng hãy nhìn những “thế cách”, những nẻo đời, nẻo tâm… mà Phùng Văn Khai đã biểu đạt ở những chân dung để thấy sự trải nghiệm, sự đồng cảm của “nòi” văn với nhau trong một thời buổi, mà nhà thơ Ngô Kim Đỉnh đã nói với Khai: Họ toàn dìm nhau, viết cho nhau được ý nào đều hay ý đấy!

Định dừng, trước mâm cơm đạm bạc mà tươm tất, lại nảy vài ý. Vợ giục: anh ăn đi giữ sức khỏe (chả là mới ốm dậy). “Cận diễn ngôn” là: (vì biết đang viết về Phùng Văn Khai) viết về cái tay khùng khùng hay rượu chè ngất ngưởng trong nhà (ngoài quê Bắc) thì lúc nào chả được (vì thiếu gì tư liệu).

Nhưng tôi biết, Phùng Văn Khai có thiếu gì “tư liệu” về vợ mình đâu, mà chả phải lúc nào cũng viết được:

Thơ tặng vợ

Vợ mình khác vợ người ta
Chân quê thuần hậu thì ra vợ mình

Vợ mình nuôi cá nuôi chim
Nuôi ong nuôi bướm in tiền chồng chơi

Vợ mình từng đã ăn gian
Mấy lần rút tuổi để toan thịt mình
Chưa cưa mình đổ ình ình
Môi vợ mình hé trái tim mình phồng

Rồi về mẹ anh nữa:

Thơ về mẹ

Tối muộn nằm
tinh sương chốt cửa khẽ khàng
sương mùa đông chưa tan

Con lấp xấp năm mươi
khù khờ, ngộ nhận
bị lừa tiền, tình, danh, phận…
toàn yêu mây, cỏ, trăng, hoa, bướm, đình, chùa…
toàn chơi với các nhà thơ

Hai mươi năm say toàn nói to
mẹ im cười sương đông mờ mịt
tóc đen, răng khít
im lặng con, im lặng chồng
lặng im cỏ ngải

Cuối những năm 80 thế kỉ trước, tôi viết khi là “lính thú” trảy nước non Cao Bằng:

Đất nước trăm trận mạc
muốn gặp người lính thường
hãy tìm trong dáng đá
vọng phu qua gió sương

Phùng Văn Khai (theo lời kể Đào Bá Đoàn) hay gầm ghè khen và đọc rống lên đoạn thơ ấy trong những trà dư tửu hậu sương sương.

Thôi thì, cứ theo đà sương sương, tôi cũng xin “phong” Phùng Văn Khai là trong dạng “sang Đông Đông nát sang Đoài Đoài tan”, “Phú Xuân đã trải Đồng Nai cũng từng”… Chứ chẳng bao giờ chịu “Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng”.

Thế thì, những người phụ nữ trong thơ Khai là thế nào?

Là qua cái “hoạt kê”, cái “tự trào” về vợ – về [mình qua] mẹ, ta thấy thấp thoáng bóng dáng Phùng Văn Khai. Cũng chả phải là cái bóng dáng – cái chân dung của một dạng “nòi” văn nghệ sĩ đó sao?

N.T.T

——————–

* Nguyên Phó Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Hưng Yên, Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Phố Hiến.

 

     


     

Bài trướcThủ tướng: Lào Cai phải phát triển trở thành trung tâm du lịch của vùng Tây Bắc và cả nước

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây