Về xứ Thủ dự lễ vía Huyền Thiên Thượng đế – Tác giả: Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng

1. Kể từ lần đầu đến chùa Ông Phước Võ Điện ở Bà Lụa để hỏi han về múa hẩu cho biết…múa Hẩu là gì đến mãi ba bốn năm sau, càng xuống lên lên xuống cứ cái xứ “Thổ Long Mộc” (âm Hán của Thủ Dầu Một) càng có được nhiều thông tin thì tôi càng bị tẩu hỏa nhập ma. Hôm đó, trò chuyện hết sạch hai gói thuốc rê mà kẻ nói người nghe hồn ai nấy giữ. Cuối cùng ông chủ lò gốm cạnh chùa Ông vì “không rành tiếng Việt” viết vào cuốn sổ ghi chép cho tôi hai tên chữ Hán to đùng cái tên chính thức của con vật gọi là “hẩu” . Thế là mù luôn tại chỗ. Đem về nhà nhờ các bậc Hán học tra cứu giùm vị thì bảo đó là “loài chó dũng mãnh” (Từ điển Trung Văn), vị thì bảo tự điển Hán Việt của Génibrel giải thích: đó là “loại chó sói ở miền Nam Trung Quốc hay tấn công cả người” và có vị bảo đó là con “giải trải”: con vật được lấy hình tướng để thêu ở ngực áo quanNgự sử vì bản tính của nó đi thẳng và luôn bênh vực điều phải, kẻ nào tà vy thì nó lấy đầu táng vào chết ngay lập tức Ngự sử là quan chuyên phản biện, lại có cây giản để “tiền đả hôn quân, hậu đã loạn thần” nên thêu con “giải trải” này là đúng rồi.

Dịp khác ở Tân Phước Khánh (tức Tân Khánh – Bà Trà) một ông đội trưởng đội múa hẩu bảo đó là con “hổ” nói trại ra là con “hẩu”. Đem chuyện này vào chùa hỏi thì các thiền sư giải thích từ “hẩu” đọc theo âm Hán Việt là “hống” (Khẩu + Khổng) có nghĩa là tiếng rống của loài thú mà trong từ vựng nhà Phật, có cụm từ “Sư tử hống” biểu thị cho sự thuyết pháp/chuyển pháp luân của Phật. Sư tử là vua của loài thú và “sư tử vương” là tôn danh của Phật – theo nghĩa Phật là Pháp vương (vua của pháp) của loài người…

2. Nói nhiều thứ như vậy tưởng là đã đủ đã đúng nào ngờ đâu hôm đến Vía Ông ở Tân Phước Khánh sau tiếng “tùng, teng! Teng!!” rộn ràng, tôi ào ra nhìn tận nhãn thì hỡi ôi: Trên tấm chấn thêu tên đội hẩu đê rõ là đội múa “Kim Sư”. Đến nước này thì thua: Con sư tử lông vàng như vàng mười là cái con sư tử gì?

Cầu cứu đến sách vở, con “sư tử chúa lông vàng” (Kim mao Sư Vương). theo truyền thống Đại Thừa Phật giáo là thú toà /vật cưỡi của Bồ Tát Văn Thù ( Manjuri/Wênshu), theo đó, hiểu nó là linh vật hỗ trợ cho Phật pháp. Trong thực tế ở xứ Nam Bộ này, các loài vật làm thú tọa cho bộ tượng Ngũ Hiền (4 vị Bồ Tát và một Phật) thậm chí cả con Thanh sư/Đề Thính của Bồ Tát Địa Tạng, cũng được nhà chùa gọi là hẩu hoặc sư tử hẩu; ở đây hẩu là linh vật khác với con sư tử thường. Truy cứu theo hướng này thì trong kho tàng linh vật nhà Phật chúng ta có con Kim tì la có hình tướng và lai lịch đáng lưu ý. Đây là con vật mà ngoại dạng là vị là sự tổng hợp của rắn và cá sấu; dòng dõi của nó là chúa quỷ Dạ xoa (Yasha/chằn). Kim Tì la vốn có tính hung ác, tài phép siêu việt sau đã cải tà quy chánh thành kẻ bảo hộ cho Phật (theo A dictionary of Chinene Buddhist terms, p.283). Đến đây thì chúng ta đồ rằng nguồn gốc xa xôi của múa hầu là hình thức diễn xướng nghi lễ sư tử du hí tam muội, theo đó hẩu/Dạ xoa Kim tì la biểu thị oai lực thù thắng phá bỏ tất cả chướng ngại.

3. Đó là “lý lịch xuất thân” ở Ấn Độ của con hẩu. Còn hành trạng của nó ở đất Trung Quốc ra sao và duyên cớ gì nó đến Thổ Long Mộc lại là chuyện dài nhiều tập.

Tập một, theo truyện Phong thần thì hẩu vốn là Kim Hoa tiên: một vị tiên thuộc phe Triệt giáo đã bị Từ Hàng đạo nhân (Bồ Tát Quan Âm được Đạo giáo hóa) thành con Kim Mao hẩu để làm vật cỡi (hiểu là đài tọa).

Tập hai, theo tín lý dân gian chịu ảnh hưởng Đạo giáo, thì hẩu là loại quỷ xấu chuyên phá hoại hàng xóm lại có oai lực dữ dằn nên Thổ Địa rất hãi khi phải chạm trán. Thần Tử Vi (vốn là một tinh quân) hạ thế, dùng bát quái bắt hẩu làm vật cỡi. Đó là cốt truyện mà thợ vẽ tranh kiếng vẽ sơn màu mè để bán cho thề nhân treo ở cửa gọi là tranh Tử vi trấn trạch.

Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc TrảngNhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng.

Tập 3, có liên quan trực tiếp đến việc đang bàn, gốc từ du truyện Bắc Chơn , tức ông Huyền Thiên thượng đế – đối tượng chính của lễ hội hàng năm (25 tháng 2 âm lịch) ở xứ Thủ.

Chơn Võ/ Chân Vũ thuộc hệ thống thần linh đạo giáo với công năng chính là chịu trách nhiệm là đi tuần du để diệt tà trừ quỷ nhằm phục hồi việc trị an ở hướng Bắc. Các hướng khác thuộc trách nhiệm các vị tiên thánh khác: Huê Quang (Nam du), Bát tiên (Đông du) và Tôn Ngộ Không (Tây du). Quan niệm phổ biến cho rằng phương Bắc là nơi chốn của ma quỷ, yêu tinh và do đó, Chơn Võ (Chân Vũ/ Trấn Vũ) trở thành đối tượng thờ tự thịnh hành hơn hết so với các tiên thánh khác.

4. Tập tục thờ Huyền Thiên thượng đế Chơn Vũ, theo truyền thuyết đã từng giúp vua An Dương Vương trừ yêu tinh khi xây thành Cổ Loa và được lập đền thờ ở phía Bắc Thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Khi Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long (1010) đã cho rước bài vị thần về thờ ở mé tây hoàng thành – theo Chơn Vũ quán lục, thì nơi thờ này gọi là Trấn Vũ quán. Tuy nhiên cho đến nay lời tục truyền ấy chưa tìm thấy tư liệu, di vật nào cho biết Trấn Vũ quán thời Lý, Trần và Lê Sơ. Năm 1677, Chúa Trịnh Tạc sai đình thần Nguyễn Đình Luân trùng tu Quán Trấn Vũ ở địa điểm hiện nay. Từ đó trải qua các triều Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức thời nào cũng tôn tạo. Qua hơn 300 năm quán Trấn Vũ và đặc biệt pho tượng đồng Trấn Vũ và tiếng chuông Trấn Vũ ở phía Bắc Thành Thăng Long là cơ sở tín ngưỡng danh tiếng ở Hà Nội. Tuy nhiên tập tục, tín ngưỡng này không “di chuyển” vào đất Thủ ở phương Nam mà được du nhập trực tiếp từ các tập đoàn di dân Phước Kiến vào đây hồi cuối thế kỉ XIX đến những năm 40 của thế kỷ XX. Cộng đồng người Hoa Phúc Kiến này chủ yếu làm nghề gốm (chén, bát, lu, khạp, siêu, lọ, tay cầm, bình hoa và một số gốm trang trí đình chùa gọi chung là công nghệ miếu vũ). Họ quần tụ ở bốn vùng Tân Phước Khánh, Lái Thiêu (Thuận An), Búng (xã Hưng Định) và Bà Lụa (thị xã Thủ Dầu Một). Đây là bốn nhóm lập đền thờ Huyền Thiên Thượng đế và luân phiên nhau, 4 năm một lần,một nơi tổ chức lễ vía Ông trọng thể và 3 nơi kia cùng đến dự lễ cúng rất trọng thể.

5. Cộng đồng nào đến phiên thực hiện lễ hội thì chọn ngày tốt trong tháng Giêng tổ chức lễ rước các tượng thờ gồm Huyền Thiên Thượng Đế, Nam Triều Đại đế, Quan Thánh Đế quân và Cửu Thiên Huyền nữ) từ “chùa ông” đã tổ chức lễ hội hồi năm qua về “chùa Ông” của mình để an vị đâu vào đó và ngày 24 tháng 2 âm lịch thì bắt đầu vào lễ.

Tất cả các lò gốm trong xứ Thủ đều nghỉ, các người Hoa làm nghề gì cũng chuẩn bị cho lễ hội. Khoảng quá trưa thì các đoàn hẩu, mỗi đoàn một cặp, các nơi lần lượt kéo về. Đoàn hẩu của cộng đồng sở tại chực sẵn ngoài cổng để nghênh tiếp. Hết hẩu là các đội múa lân, đội múa rồng… Quả là một đại hội múa lốt:trống hẩu cũng tùng beng, múa lân, múa rồng cũng gõ trống, gõ kẻng inh hỏi trời đất.

Các đội hẩu thi tài nhau từng cặp. Đội trưởng của đội này đến trao cái danh thiếp đỏ để gọi là giao hữu, đội hẩu kia thuận tình thì gửi lại danh thiếp của đội mình. Thế là trống kẻng nổi lên và hai bên quần nhau: hoặc cặp đôi, hoặc cập tư không chừng.

Cái lốt con hẩu gồm hai phần: Đầu là chiếc mặt nạ dữ dằn đắp nổi bằng giấy bồi trên một cái nia, đường kính chừng 60 phân. Đuôi là một khúc vải dài chừng 3,4m: một đầu kết vào nửa trên vành nia và đầu kia do một vũ công kéo dài ra phía sau phủ qua đầu và cột gài vào giữa chân.

Múa hẩu có bốn động tác cơ bản: 1/Người cầm đầu hẩu dở chân lên cao, tay xoay mặt hẩu qua trái; 2/ Lách chân xuống bước dài tới trước – tay xoay mặt hẩu qua phải; 3/ Bước trụ lại nguyên bộ – xoay mặt hẩu qua lại với biên độ nhỏ từ 2, 4 hoặc 6 lần; 4/ Nhón chân rướn người lên cao – hai tay nâng mặt hẩu từ thấp lên cao dần đến mức tối đa có thể được, rồi từ từ hạ xuống và bước tới. Người múa đuôi thì hai tay nắm hai mép tấm vải hoặc tung lên giật xuống sao cho thân con hẩu như đang uốn lượn mà trườn tới, nhanh chậm theo tiết tấu tiếng trống nhạc thúc; chân thì lúc bước tới theo đầu hẩu, lúc nhảy sang bên trái lúc qua bên… cốt sao cho nhịp nhàng và sinh động.

Lại có hai điều cấm kỵ: Một là không được phép ngửa mặt hẩu lên trời (điều này có nghĩa là hẩu dám thách thức với trời với chư vị thần thánh ở trên cao) và hai là múa hẩu không được leo trèo như múa lân (điều này xác định hẩu là loài vật chẳng biết leo). Ngoài hai điều cấm kỵ đó, các sáng tạo khác đều được phép “chế” đặc biệt là trong lúc múa giao hữu giữa hai đội hẩu. Gọi là giao hữu là nói vậy chứ lúc đó thì tay nào cũng hăng… Có trời mà can. Có lẽ có bao nhiêu tuyệt chiêu đều đem ra chơi. Thấy bồ nhà yếu yếu là phe ta “thay cầu thủ” ngay, thay ra đổi vô liền liền vì múa hẩu nói là có bốn động tác vậy chứ múa chừng 5,7 phút là xuất hạn. Tôi hỏi cốt cổ động: “Mệt hông?”. Một vũ công gân cốt cỡ Mike Tyson vừa thở vừa phán: “Cỡ thi võ đài vậy! Chơi một bữa bọn em được nghỉ ba ngày mới … ăn cơm được!”

6. Sau khi vào điện thờ thực hành nghi lễ ra mắt, pháp sư và phụ tế cấp bùa, đóng ấn làm phép cho từng con hẩu, thì tất cả chuẩn bị việc rước kiệu các thần đi tuần du: Các tượng thần và bộ hạ trói chặt vào một kiệu, tất cả có 4 kiệu. Mỗi kiệu do một đội phu kiệu của một cộng đồng khiêng đi.

Năm nọ lễ mở ở Bà Lụa còn cho phép đốt pháo, nên pháo nổ kinh hồn là “đoàn quân của Huyền Thiên thượng đế lên đường: Đi đầu là pháp sư và trợ tế, kế đó là các đội hẩu, các kiệu xen vào các đội múa cù (ở đây gọi lân là cù), các nhân vật hóa trang làm Bát Tiên, các đội nhạc. Đám tuần du đi theo lộ trình vòng tròn: Khởi đi từ chùa Ông và đi vòng quanh khu vực cư trú của cộng đồng để trở về nơi xuất phát. Đoạn đường độ 6 đến 8 cây số, từ 0 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau. Trên đường đi, đoàn tuần du dừng lại để cử hành các nghi lễ ở một số nơi. Lễ đầu là lễ khai quang điểm nhãn biểu thị lễ xuất quân và các lễ sau có tính chất ma thuật nhằm tống ôn trừ tà ra khỏi khu vực cư trú. Các gia đình ở dọc đường đi bày bàn thờ, hương đèn bánh trái, lễ vật nghênh tiếp. Dọc đường đông như hội, hẩu múa mặc hẩu, cù múa mặc cù và các phu kiệu thì lắc kiệu như bị lên đồng. Đội này lắc thế này, đội kia lắc thế khác, lắc càng mạnh càng được tán thưởng. Người ta bảo kiệu lắc nhiều là Ông vui nhiều. Thế thì tại sao để các thần thánh không vui trong ngày hội thế là lắc tiếp. Hầu như cuộc lễ nào khi về gần đến nơi hành lễ, các đoàn kiệu cứ lắc mặc cho ban tổ chức gào lên rằng: “Yêu cầu các đoàn kiệu nhanh chóng trở về chùa để làm lễ”. Cuối cùng thì ban tổ chức phải áp dụng biện pháp mạnh: cử người ra giữ chặt kiệu và đẩy đi từng milimét vào chùa! Đội quân áp tải này coi bộ dữ dằn hơn đội phu kiệu mới mong ốp từng kiệu vào chùa: tháo dây buộc đưa tượng vào an vị trên điện thờ.

Về tập tục lắp kiệu tôi được một cụ già giải thích bằng một chuyện khác: Ở bên Tàu người ta bắt cóc cô dâu bỏ lên kiệu mà chạy. Chạy phải lắc cho cô dâu tá hỏa không nhảy xuống mà chạy về nhà mẹ. Chuyện này coi ra không ăn nhằm gì với tục lắc kiểu ở đây. Đó là vấn nạn mà mãi về sau tôi mới có cách giải thích có lý hơn. Chuyện này hạ hồi phân giải

7. Phàm nghe nói vậy thì biết vậy, thấy vậy thì hay vậy… Nhưng khi tìm được bộ Bắc du Chơn Võ ở cửa hàng sách cũ,đọc xong thì mới đồ ra rằng như thế, như thế.

Cứ vào thần tích của Huyền Thiên thượng đế được tiểu thuyết hóa trong Bắc du Chơn Võ thì lễ rước thần đi tuần du là hình thức tái hiện công việc trừ ma, diệt quỷ, trấn yểm yêu tinh. Trong chuyến bắc du của Chơn Võ theo lệnh của Ngọc Hoàng Thượng đế với việc giúp sức của các thần thánh Đạo giáo.

Số là Chơn Võ sau một thời gian vui thú trần gian đã bị ô trọc thân tâm nên lúc được lệnh trở về thượng giới tu luyện mãi vẫn không sao thanh tịnh nên không “thăng thiên” được. Các thánh trên cao thương tình bèn lừa lúc Chơn Võ đang tơ lơ mơ thì rạch bụng: cắt bỏ ruột và bao tử đã nhiễm phàm để thay vào đó bằng cọng và hoa sen tinh khiết. Chơn Võ nhờ đó mà về lại với thiên đình làm thánh. Thế nhưng khúc ruột và cái bao tử của ông vẫn bỏ dưới chân núi lại hóa thành hai con yêu tinh là tinh (ruột) và Qui tinh (bao tử) làm hại người vô số kể. Do đó khi nhận lệnh Bắc du. Thọat tiên Chơn Võ phải trấn áp và thu phục hai con tinh của mình và cho chúng làm bộ hạ thân tín với tên gọi là “Qui – Xà tướng quân”. Đây là hai trợ thủ đắc lực nhất của Chơn Võ trong suốt cuộc tuần du. Đến đây thì ra con hẩu là Qui – Xà tướng quân. Hèn chi mà cái mặt của nó tròn như mai rùa và cái thân uốn lượn như rắn. Tôi đoán chắc là như vậy vì khi trở lại các nơi thờ Huyền Thiên Thượng đế thì tượng của ông lúc nào cũng có con rắn và con rùa bị đạp dưới chân. Cái sự là vậy, còn cái lý cao xa thì con rắn biểu thị cái gì, con rùa biểu thị cái gì mà Đạo giáo muốn trừ tiệt thì ai mà chẳng biết đó là… cái ấy, cái ấy – cái thứ làm hao tổn tinh – khí – thần của con người. Hẩu là “Qui – Xà tướng quân” đã được kiềm thúc để theo Chánh Đạo.

 

 

 

 

 

     


     

Bài trướcChủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Phiên họp thứ 5 Hội đồng Quốc phòng và An ninh
Bài tiếp theoRa mắt sách ‘Nhà & Người’ của họa sĩ Lê Thiết Cương

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây