Tổ Tôm và Tổ Tôm điếm – Tác giả: Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng

Làm trai biết đánh tổ tôm
Uống chè mạn hảo, xem nôm Thúy Kiều

Chơi là một hoạt động phổ biến, nhưng chơi luôn được xem là thứ hoạt động không nghiêm túc, nhất là các trò chơi may rủi, nên cũng thường bị cấm vì sự quá đà sẽ ảnh hưởng đến công ăn việc làm, tiêu hao tài sản, sinh ra tệ nạn… Xứ ta ngày xưa, chủ yếu là canh tác nông nghiệp; do đó, hoạt động của con người hàng năm diễn ra theo chu kỳ nông lịch nên làm việc và vui chơi lễ lạc cũng theo mùa: Tháng Giêng là tháng ăn chơi, Tháng hai cờ bạc… Chơi bài Tổ Tôm cũng rộ lên vào tháng hai; song ngày thường, bài Tổ Tôm là trò tiêu khiển của lớp người già và trung niên. Riêng Tổ Tôm điếm rộ vào dịp tết và các lễ hội cộng đồng. Tổ Tôm / Tổ Tôm điếm đặc biệt phổ biến ở miền bắc. Miền Trung cũng có chơi Tổ Tôm, song không thịnh bằng Tam Cúc, Tứ  Sắc, Bài Tới, Bài Chòi. Ở miền Nam, sau 1954, Tổ Tôm mới bắt đầu thịnh.

I. Cơ cấu bộ bài Tổ Tôm
Nhân sinh quý thích chí
Chẳng gì hơn vui cuộc tụ tam
(Nguyễn Công Trứ)

Theo một số tài liệu thì Bài Tổ tôm được đọc ra chệch ra từ chữ “Tụ tam” và cho rằng đó là tên gọi chính trong bộ bài gồm có ba pho “Văn, Vạn” và “Sách”. Trên cây bài dài thì phần trên và dưới được viết tên con bài theo chữ Hán, còn chính giữa là hình vẽ. Người không đọc được chữ Hán thì nhận diện qua hình tướng của chữ viết: “Vạn vuông, Văn chéo, Sách lằng ngoằn”.

Nhưng theo ý kiến của người viết bài này thì từ “Tụ tam” ở đây muốn nói đến cơ cấu tổ hợp quân bài. Có nghĩa là từ 3 quân bài trở lên mới tròn bài và tạo thành một phu. Tương tự như thế, bộ bài này còn được gọi là Bài Chắn, vì cơ –cấu tổ hợp quân bài của phép đánh chắn thì chỉ cần sự tổ hợp 2 quân bài là đủ.

(*) Viết chung với Nguyễn Đại Phúc

Bài Tổ Tôm (Chắn) gồm có 30 quân bài, mỗi quân bài lại có 4 cây giống y hệt nhau, và được sắp xếp như sau:

– Pho vạn thì có từ Nhất Vạn đến Cửu Vạn (36 cây)

– Pho Văn thì có từ Nhất Văn đến Cửu Văn (36 cây)

– Pho Sách thì có từ Nhất Sách đến Cửu Sách (36 cây)

– Yêu đỏ (có 3 quân bài là Chi Chi, Thang Thang và Ông Cụ.)

Như thế tổng cộng có 120 cây cây bài.

Chú ý: Nhất Vạn, Nhất Văn và Nhất Sách cùng với Chi Chi, Thang Thang và Ông Cụ. còn có tên gọi khác là Yêu. Nhưng trên lá bài Chi Chi, Thang Thang và Ông Cụ có đóng một hoa văn đỏ, nên gọi phân biệt là Yêu đen và Yêu đỏ. Ngoài ra, những cây bài Bát Sách, Bát Vạn, Cửu Sách, Cửu Vạn cũng được đóng hoa văn đỏ lên chữ.

Pho Văn (Cửu văn... Nhất văn) Pho Sách (Cửu sách...Nhất sách)

II. Cách tổ hợp quân bài

1/ Cứ 3 quân bài được tổ hợp theo hàng ngang cùng số khác pho gọi là phu bí. Nhị đi với Nhị … cho tới Cửu đi với Cửu của 3 pho Văn, Vạn, Sách.

Ví dụ:

Nhị Vạn, Nhị Sách, Nhị Văn đi thành bộ … cho đến Cửu Vạn, Cửu Sách, Cửu Văn.

2/ Cứ 3 quân bài liên tiếp trở lên được tổ hợp theo hàng dọc cùng pho gọi là phụ dọc. Từ Nhất Sách đến Cửu Sách, từ Nhất Vạn đến Cửu Vạn, từ Nhất Văn đến Cửu Văn. (Giống trong bài Tây gọi là “sãnh”)

Ví dụ:

Nhị Sách, Tam Sách, Tứ Sách (hoặc nhiều hơn nữa).

Ngũ Vạn, Lục Vạn, Bát Vạn, Cửu Vạn

3/ Một số tổ hợp ngoại lệ khác gồm có:

  • Tam Vạn, Tam Sách, Thất Văn
  • Nhị Vạn, Nhị Sách, Bát Văn
  • Cửu Vạn, Bát Sách, Chi Chi

4/ Như thế những lá bài còn dư được gọi là rác, kể cả đôi. Hàng Yêu không được tính là rác (Giống như con Tướng trong bài Tứ sắc).

III. Cách chơi bài

Bộ bài 120 lá được chia làm 6 phần cho 5 người chơi. Một phần được cho vào dĩa gọi là nọc để bốc.

Năm người chơi bỏ ra một số tiền giống nhau vào trong một cái hộp để giữa bàn gọi là Hội. Sau đó lấy một phần tiền trong hộp cất riêng vào một chỗ gọi là nuôi “Heo”. Số tiền này dành cho những ván bài thắng lớn được qui định. Người nào thắng sẽ lấy một số tiền đã được qui định trong hộp, khi hộp hết tiền thì mọi người lại bỏ tiền vào hộp và lại tiếp tục nuôi “Heo”. Như thế “Heo” sẽ lớn dần theo thời gian khi chưa có người thắng ván bài lớn. Do đó, khi Heo càng lớn, thì mọi người càng nô nức xoay bài để có thể lấy được con “Heo” này.

Ngoài ra còn một số qui ước khác là “Kê” hay còn gọi là “Gà”, là số tiền túi mọi người phải bỏ ra chung thêm cho người người thắng ở các ván bài từ thắng trung  đến thắng lớn.

Bắt đầu thì một người lấy 1 phần cho vào dĩa để làm nọc. Lấy từ nọc ra 1 quân bài cho vào 1 trong 5 phần bất kỳ còn lại trên khay, sau đó lật 1 quân bài và tùy theo số (Nhất đến Cửu) mà người cái sẽ lấy phần nào trong 5 phần trên diã và những người khác sẽ tuần tự lấy các phần còn lại theo vòng xoay ngược chiều kim đồng hồ. Như thế bài của nhà cái sẽ có 21 cây, trong khi bài nọc còn lại 19 cây.

Khi lên bài trên tay, 4 cây giống nhau thì phải đặt xuống bàn có tên gọi là “Thiên Khai”. 3 Cây giống nhau thì gọi là “Khàn”, có thể xé Khàn để xếp vào bộ. 2 cây giống nhau thì gọi là chắn. Nguyên tắc của đánh tổ tôm là chắn không được tồn tại, có nghĩa là 3 con trở lên mới gọi là tròn bài. Nhưng nếu trên bàn xuất hiện con bài giống như đôi đang có trên tay thì được quyền hạ xuống, gọi là “Phỗng”, giông như hạ đôi trong bài tứ sắc, như thế người cầm 2 cây giống nhau được lấy quân bài tương tự như thế ở bất kỳ cửa nào, do 1 nhà đánh ra hay bốc từ nọc. Yêu trên tay không được đánh đi.

Sau khi lên bài trên tay, xếp vào bộ “Tụ tam”, phần còn dư thì đánh đi, nếu nhà dưới không cây ăn thì bốc từ nọc ra.

Ví dụ:

Trên tay có Nhị Vạn, Nhị Sách thì khi Nhị Văn hay Bát Văn xuất hiện đều có thể ăn được.

Trên tay có Tam Sách, Tứ Sách thì khi Nhị Sách hay Ngũ Sách xuất hiện đều có thể ăn được.

Trên tay có Nhị Văn, Tam Văn, Ngũ văn thì khi Tứ văn xuất hiện có thể ăn được.

Khi đã tròn bài (không còn cây dư) gọi là Thập Thành. Trên bàn xuất hiện Yêu thì bài Thập Thành sẽ tới. Hoặc xuất hiện bất kỳ quân nào có thể gắn vào các bộ đã tròn bài trên tay đều cũng có thể tới.

Ví dụ trên tay có bộ Tam sách, Tứ sách, Ngũ sách thì Nhị Sách và Lục Sách xuất hiện thì cũng tới.

Bài chờ nhiều cây để tới gọi là chờ rộng, còn chờ ít cây gọi là chờ hẹp. Trong Tổ tôm, tới gọi là “Ù”.

Nếu người cái lên bài không có cây dư, thì có thể hạ xuống tới luôn gọi là “Thiên Ù”.

Khi mới lên bài trên tay, chưa ai đánh cây nào, nếu bài xấu quá, người đánh được quyền “chịu”, có nghĩa là úp bài xuống không chơi, để cho 4 nhà còn lại chơi với nhau. Trong ván này nếu người nào ù lớn, có kê, thì người chịu không phải trả kê. (Thông thường, khi nào bài đen quá, ngưới ta thường chịu một hay hai ván để để “xả xui”).

IV. Các hình thức “Ù”

Nếu như bài không có chất, gọi là “Ù suông”. Lấy mức tiền thấp nhất được qui định trong hộp. Thông thường thì trước khi chơi, mọi người có giao hẹn trước, khi ván bài có các yếu tố đặc biệt khác thì người ù sẽ lấy trong hộp số tiền chênh lệch bao nhiêu. Ví dụ Ù suông lấy 3000 thì sự chênh lệch sẽ là 1000 hay 2000. Chẳng hạn giao hạn ban đầu là “Suông 3 dịch 1 hay 2. Có nghĩa là Ù suông thì 3000 còn có thêm mỗi yếu tố đặc biệt thì được cộng thêm chênh lệch là 1000 hay 2000. Các yếu tố đặc biệt của ván bài gồm có:

1/ Ù liên tiếp 2 ván gọi là “Thông”. Liên tiếp từ 3 ván trở lên gọi là “Nhị thắng”, “Tam Thắng”, “Tứ Thắng…”

2/ Tôm: Các quân bài trên tay có tổ hợp 3 cây Tam Vạn, Tam Sách, Thất Văn được gọi là có “Tôm”

3/ Lèo: Các quân bài trên tay có tổ hợp 3 cây Cửu Vạn, Bát Sách, Chi Chi được gọi là có “Lèo”

4/ Bạch thủ: Trên tay bài đã tròn, nhưng còn lẻ 1 đôi (đôi vẫn coi là rác), trên bàn mà xuất hiện quân ấy để phỗng và ù thì gọi là “Bạch thủ”.

5/ Xuyên: Trên tay có 2 phu dọc nhưng thiếu con giữa. Thí dụ: Trên tay có Nhị Sách và Tứ Sách, thì khi Tam Sách xuất hiện được gọi là “Xuyên”.

6/ Xuyên Tư: Trên tay có 4 phu dọc nhưng thiếu con giữa để liền lạc. Thí dụ: Trên tay có Nhị Sách, Tam Sách, Ngũ sách và Lục Sách, thì khi Tứ Sách xuất hiện được gọi là “Xuyên tư”.

Bên cạnh đó, những ván bài được gọi là ù lớn để có kê và heo bao gồm:

1/ Kính Cụ: Toàn bộ bài đều đen và chỉ có 1 ông cụ

2/ Kính Tứ Cố: Toàn bộ bài đều đen và chỉ có 4 ông cụ. Đây là một ván bài ù rất lớn. Nhưng mọi người đều sợ ù ván bài này, vì theo dị đoan nó tượng trưng cho việc tang tóc.

3/ Bạch Định: Toàn bộ bài đều đen.

4/ Thập Điều: Toàn bộ bài chỉ có 10 cây đỏ.

5/ Chi Nẩy: Trên tay bài đã tròn, chỉ còn 2 cây lẻ là Cửu Vạn và Bát Sách. Nếu Chi Chi xuất hiện thì ù. Đây là một ván bài ù lớn, vì Chi Chi chỉ có thể xuất hiện trong nọc bốc ra.

V. Tổ Tôm điếm

Trong bối cảnh sinh hoạt văn hóa truyền thống của xứ ta chủ yếu vào cộng đồng làng xã nên các hình thức giải trí may rủi đều phát triển theo hướng công cộng hóa và trình thức hóa. Cờ Tướng thành Cờ Bỏi / Cờ Người, Bài Tới thành Bài Chòi, Tam Cúc thành Tam Cúc điếm và Tổ Tôm thành Tổ Tôm điếm. Chính vì những biến thái này mà các trò chơi cờ bạc trở nên hìnht hức sinh hoạt văn hóa, mười phần thanh lịch. Tập tục chơi Tổ Tôm điếm không chỉ tổ chức vào dịp vui Tết mà còn phổ biến trong các lễ hội địa phương – đặc biệt là ở miền Bắc.

Connaissance du Vietnam (E.F.E.O, 1954)Connaissance du Vietnam (E.F.E.O, 1954).

Hình vẽ trong sách Connaissance du Vietnam cũng như trong sách Imagerie populaire Vietnamienne (E.F.E.O, 1960, tr 48) cho chúng ta thấy “điếm” là cái chòi được tạo tác công kỹ. Mỗi cuộc Tổ Tôm điếm có 5 cái điếm (Đông, tây, Nam, Bắc và Trung ương). Điếm là những chòi cao, bắc thang để đối thủ lên xuống, cất trên khoảnh đất rộng. Giữa năm điếm là sân rộng để khách tụ tập theo dõi cuộc chơi.

Tổ Tôm điếm sử dụng bộ bài Tổ Tôm nói trên, nhưng con bài là hai mảnh gỗ ghép lại, có thể mở ra được: trên một mảnh gỗ viết tên quân bài và mảnh gỗ kia ghép lại làm nắp đậy, dấu tên quân bài cho “kín đáo”.

Imagerie populaire Vietnamienne (E.F.E.O, 1960, tr 48)

Chú thích những câu thơ nôm ở 4 điếm

  • Giáp (góc trên bên phải): Bán chi không đánh nhất văn, Bát văn cầm kết muôn phần giá cao.
  • Ất (góc dưới bên phải): Bài tôi ăn thường không thang, Lục Văn cũng nghĩ kết ngang chẳng cầm.
  • Bính (góc trên bên trái): Tam khôi bắt kiệt tưng bừng, Tinh thần đứng dậy tâm trường múa lên.
  • Đinh (góc dưới bên trái): hàng văn làng hãy còn nhiều, Cầm chơi một ván đánh liều thử xem.

Chơi Tổ Tôm điếm cần có người chạy bài, rao những quân bài do các điếm đánh (hoắc bốc từ nọc để chính giữa) để các điếm khác muốn phổng hay ăn. Mỗi nước bài đều được báo hiệu bằng trống và lời rao có giai điệu trầm bỗng, véo von rất nghệ thuật. Chẳng hạn:

– Vác đèn đi Tết Trung Thu

Đầu bài Cửu sách vị nào ù chăng ?

– Bán chi không đánh Nhất văn

Bát văn cầm kết muôn phần giá cao

– Hàng văn làng hãy còn nhiều

Cầm chơi một ván đánh liều thử xem

Chơi Tổ Tôm điếm thú vị như đánh Bài Chòi. Ù thì thưởng một bánh pháo, một vuông nhiễu điều. Pháo thưởng được đốt lên rôm rã xen lẫn tiếng trống thúc dồn dập làm cho ngày hội sôi nổi, tưng bừng. Cái thú ở đây là tài cao thấp được cộng đồng tán thưởng… thật hả dạ!

Tổ Tôm điếm mở ở các lễ hội lớn thường đi đôi với cuộc đánh Cờ  Bỏi/Cờ Người. Hai môn này thường dành cho bậc trưởng thượng. Còn Tam Cúc điếm (4 điếm) là nơi dành cho lứa trai trẻ, bởi luật chơi đơn giản hơn, được thua có tần suất nhanh hơn. Điều muốn nói là: Không biết trên thế giới có nơi nào mà các trò chơi may rủi lai vui vẻ, hội hè tưng bừng như vậy không?

H.N.T

 

 

 

 

     


     

Bài trướcĐặc sắc trang phục truyền thống của phụ nữ Pà Thẻn
Bài tiếp theoLễ đón Thủ tướng Phạm Minh Chính thăm Các Tiểu Vương quốc Arab Thống nhất

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây