Trong tư duy lịch sử của Phùng Văn Khai, cuộc chiến giành độc lập dân tộc không chỉ diễn ra trên chiến trận, mà muốn duy trì bền vững thành quả chiến thắng, từng dân tộc phải định hình rõ nét và sâu sắc nền tảng văn hóa, thứ “quyền lực mềm”, “chất xúc tác”, “mạch nguồn bất tận” làm nên sự tự chủ, ý thức tự vệ trước sự xâm lấn văn hóa ngoại lai.
Không phải vô cớ, các triều đại phong kiến Trung Quốc, sau khi bình định phương Nam về quân sự, chính trị, ngoại giao, luôn tìm mọi cách đồng hóa người bản địa. Bởi chỉ bằng cách ấy, mới hòng thủ tiêu ý chí, tinh thần, xóa bỏ những nguy cơ ẩn tàng của sự kháng cự và lật đổ. Và lẽ cố nhiên, những thành tố thuộc về văn hóa nơi các triều đại phong kiến Trung Quốc trị nhậm luôn bị phớt lờ, “đánh vắng”, không được ghi chép trong các bộ sử. Nhận thấy sự thiếu khuyết này, nhà văn đã nỗ lực phục dựng văn hóa Phật giáo như là nền tảng tinh thần của người phương Nam kháng cự lại văn hóa phương Bắc. Khi nhìn về quá khứ, người Việt có quyền tự hào về những chiến tích phi thường giành quyền độc lập, tự chủ; và đặc biệt, về một dân tộc có nền văn hóa riêng, có phong tục, tập quán, tín ngưỡng riêng, đặc sắc. Lịch sử không đơn thuần là sự đối kháng quân sự, mà sâu sắc hơn, là sự xác lập ý thức hệ, nền tảng văn hóa tinh thần của tộc người. Nhận diện được điều này, mới thấy rõ ý đồ tư tưởng của nhà văn được thi triển trong bộ tiểu thuyết của mình. Nhà văn đã dày công tìm hiểu lịch sử và văn hóa Phật giáo, đặt định song hành với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc của vương triều Tiền Lý. Bên cạnh sự luận giải về vai trò của Phật giáo, nhà văn còn thể hiện tinh thần đối thoại rõ nét và vô cùng sinh động.
Nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Tuấn (bìa trái) tặng sách cho Bộ Công an tại buổi ra mắt cuốn sách “Sứ mệnh cao cả”.
Trong sự diễn giải sâu sắc của nhà văn, Phật giáo đã hiện hữu trong đời sống tinh thần cõi Giao Châu từ những năm đầu thời kỳ Bắc thuộc. Phật giáo không phải theo chân các đoàn quân xâm lược, bành trướng từ phương Bắc, mà được truyền trực tiếp từ các tăng lữ, thương gia Ấn Độ – cái nôi của Phật giáo. Thậm chí, ở cõi Giao Châu, đã sớm hình thành một trung tâm Phật giáo nơi cổ trấn Luy Lâu, phát triển vượt hơn hẳn Phật giáo phương Bắc. Khởi nguồn từ Ấn Độ, quê hương Phật giáo, dòng thiền của người phương Nam mang những nét đặc trưng riêng, hợp với văn hóa, dân tộc tính bản địa: “Dòng thiền Luy Lâu vừa có bề ngoài trang nghiêm quy củ theo tổ chế của Phật tổ vừa có sự mềm mại ôn hòa nhập thế theo bản tính của người Giao Châu” (Nam Đế Vạn Xuân, tr.103). Từ trung tâm, thiền phái Luy Lâu tỏa đi khắp hang cùng ngõ hẻm, hòa nhịp tự nhiên vào công cuộc mưu sinh và đời sống tinh thần, tạo nên nề nếp quy củ, ăn sâu bén rễ trong toàn cõi Giao Châu. Không chỉ thông thạo đạo pháp kinh Phật, giỏi võ nghệ, y thuật, các vị chân tu, chư tăng đệ tử còn thuần thục lục nghệ, mọi việc thổ mộc, nông tang, dựng nhà, cất nóc đều thông thuộc. Hình ảnh Từ sư phụ giữa trời giá rét xắn quần xuống cày ruộng với dân chúng, tự mình gặt lúa, tự tay đẽo rui đục cột giúp người dân cất nhà; Đỗ sư phụ tham gia vào sới vật; Phùng sư phụ phóng khoáng bên chiếu rượu; hay sau này, hình ảnh Lý Thiên Bảo cởi bỏ cà sa thiền trượng, cầm lấy đao thương lên yên ngựa, xuống chiến thuyền đánh đuổi giặc phương Bắc; Lý Bí sau khi đánh đuổi quan quân nhà Lương đã tự xuống tóc, mặc áo cà sa cùng với các cao tăng đi quanh đàn tràng đọc kinh siêu độ cho những người chết oan trong cuộc chiến… là những minh chứng rõ nét cho sự huyền diệu nơi đạo Phật khi đạo và đời cân bằng, trong đạo có đời, trong đời có đạo. Với người nhà Phật, quan niệm về đạo đức Phật giáo cũng thuận theo lẽ tự nhiên, “tùy duyên”: “Sư phụ vẫn dạy việc đạo lấy hành thiện làm đầu, tuyệt đối tránh binh đao thoán đạt, song mối nhục mất nước đâu chỉ can hệ riêng đến đạo Phật chúng ta? Việc giành lại ngôi nước là việc lớn mà chúng ta không thể đứng ngoài” (Nam Đế Vạn Xuân, tr.132). Rõ ràng, sự nhiệm màu của đạo đã luôn đồng hành với đời sống dân chúng từ sinh hoạt đời thường đến những biến cố lớn lao của dân tộc. Và ở chiều ngược lại, chính đời sống muôn dân trăm họ đã góp phần xiển dương, lan tỏa, phát triển đạo Phật: “Ai là người xây đình đền chùa miếu? Ai là người cấy lúa trồng cây hương hỏa cửa chùa hàng trăm năm nay? Đó đều là chúng dân trong một nước” (Nam Đế Vạn Xuân, tr.132).
Nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Tuấn (cầm hoa) tại buổi ra mắt – trao tặng sách “Danh nhân – Ông tổ nghề thêu Lê Công Hành.
Lúc bấy giờ, trong diễn giải của nhà văn, chốn thiền môn trở thành môi trường tu tâm dưỡng tính, rèn luyện lục nghệ, nơi bảo lưu các giềng mối phong tục cổ truyền, được người dân Giao Châu tin tưởng gửi gắm con em. Rất nhiều người đã trưởng thành từ đây, quay về cuộc sống đời thường, lấy đạo lý nhà Phật làm chuẩn mực đối nhân xử thế, đem lục nghệ áp dụng cho cuộc sống mưu sinh. Và quan trọng hơn, các vị chân tu như Đỗ Khuông, Từ Học Lương, Lý Pháp, Phùng Hiến, Phạm Biền, Cù Hải đã khơi dậy, nuôi dưỡng tinh thần tự tôn, ý chí tự chủ, khát khao độc lập trong mỗi con dân Vạn Xuân. Họ luôn đau đáu, trăn trở về sự nghiệp nhất thống, truyền thống Rồng – Tiên và mong mỏi, kiếm tìm, bồi dưỡng người tài đức đặng khôi phục nền quốc thống.
Tinh thần Phật giáo hộ quốc chính là cánh cửa mở rộng cho Phùng Văn Khai một cách thức với vô vàn chiêu thức đưa ra những thông điệp vừa thuyết phục vừa hữu ích trong giấc mộng văn bút của mình.
Với tiểu thuyết lịch sử, đã trót bày ra chiêu thức gì, nhất định phải theo đuổi đến cùng, kết thúc thấu tình đạt lý, thỏa đáng những thứ đã sắp đặt, bày biện, giương đông kích tây. Rốt cuộc là không thể vô cớ biệt tích bất kỳ một chi tiết nào. May thay, trong các mưu hoạch của mình, Phùng Văn Khai đã không đem con bỏ chợ, ỷ vào sự thực lịch sử mà bất chấp logic sáng tạo của tiểu thuyết gia. Như là việc ông hổ vàng chúa sơn lâm nơi rừng thiêng Cổ Pháp trong đêm đông đẫm lệ canh chừng tiểu thí chủ Lý Bí đã cho thấy dấu hiệu phi phàm của đấng quân chủ một nước trong tương lai, thì lúc Nam Việt Đế thua binh nơi hồ Điển Triệt buộc phải rút về động Khuất Lão ở vào giây phút cuối cùng, cũng lại chính là thần hổ thiêng tìm tới cõng đi. Việc đời như thế nào ắt việc đạo như thế ấy. Ông hổ vàng bờm trắng ngày trước đã đến, ắt không thể cứ thế tuyệt tích trong trang sách, mà phải xuất hiện làm sao không chút cưỡng cầu chính là đao pháp của nhà văn. Ở những xen tiếp sau, vẫn là bùa cao một thước quỷ cao một trượng. Khi các vị danh tướng của quốc chủ Lý Bí là Triệu Quang Phục, Phùng Thanh Hòa giong buồm vượt bể thẳng tới Hợp Phố đốt giết quân doanh, chiến thuyền của Lương triều, sau này ắt phải gánh chịu bão táp chiến tranh. Lương triều là như thế nào? Không thể nào cam tâm chịu nhục! Việc thủy quân Vạn Xuân thảm bại trên biển Hoàng Châu khiến Đô đốc Triệu Quang Thành – chú ruột của Tả tướng Triệu Quang Phục cùng binh tướng bị chôn vùi trên biển chính là một tất yếu của chiến tranh. Và cũng theo quy luật ấy, đội thủy quân của Lương Vũ Đế cầm đầu là Dương Sằn sau rốt cũng phải mạng vong thảm bại nơi xứ người, cũng là tất yếu của vòng tròn lịch sử. Trong chu trình khép kín ấy, nhà văn vừa khẩn thiết vừa nhẩn nha trình bày nó ra trên trang giấy cũng là góp phần tường minh lịch sử của tổ tiên.
Nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Tuấn (ngoài cùng bìa phải) tại buổi ra mắt – trao tặng sách “Danh nhân – Ông tổ nghề thêu Lê Công Hành.
Trong Vương triều Tiền Lý, đồng đều bốn cuốn luôn nổi lên tinh thần văn hóa hộ quốc. Văn hóa ở đây không chỉ dài rộng vươn xa mà còn sâu thẳm từ thượng cổ, từ những lễ hội dân gian nơi thôn cùng xóm vắng tới nghi lễ quốc gia, nghi vệ triều đình trong quốc điện Vạn Xuân. Một đất nước, một quốc gia với nền quốc thống dày vững không thể nào tách rời văn hóa. Đó là vẻ đẹp của các vị lão trượng đầu tóc bạc phơ được mời đến kinh thành tham vấn việc quân, việc nước. Đó là việc sắp xếp các tú nữ cầm dải lụa đỏ buộc lên trán mỗi tráng đinh thắng giải trong hội đua thuyền. Đó là trên sới vật từ vua chí dân đều thượng võ xe đài trước khi phân cao thấp. Đó là tinh hoa bách nghệ được xiển dương, vật chất được trọng dụng và sử dụng trùng tu quốc điện. Đó là những cuộc tha bổng tù nhân, cấp cho lương thuyền trở về cố quốc. Đó là hịch văn đánh vào quân tâm, nhân tâm để bớt đi máu xương sĩ tốt phải đổ xuống vô cớ vì binh lửa chiến tranh. Trong một xen ở Nam Đế Vạn Xuân, đến như đại thần phương Bắc khi đem vàng lụa xuống phương Nam đút lót để mưu cầu sự sinh tồn đã phải cúi đầu nhận tội cũng chính là nội lực văn hóa người phương Nam không chỉ sánh ngang bằng mà còn vượt trên phương Bắc. Dám dựng nên những chi tiết ấy, quả nhà văn đã dũng cảm và kiêu hãnh đến tận cùng.
Một trong những vẻ đẹp của Vương triều Tiền Lý mà điển hình là Lý Phật Tử định quốc đã mạnh dạn khẳng định việc mở mang bờ cõi về phương Nam là một tất yếu lịch sử. Đã một khoảng thời gian dài, chúng ta dường như né tránh hoặc khuôn chừng sự thực này. Chúng ta một mặt phải đương đầu với bành trướng bá quyền từ phương Bắc, một mặt lại phải cương quyết mở mang cương vực về phương Nam. Những điều tưởng như mâu thuẫn ấy đã giằng xé và phân hóa tư tưởng của chúng ta từ rất lâu, còn kéo mãi tới hôm nay cũng là lẽ thường tình. Song, lịch sử phải là một lịch sử trọn vẹn, và trước tiên phải là một sự thực lịch sử như nó đã diễn ra. Giáp mặt với khó khăn này, ngòi bút nhà văn đã không hề né tránh. Những trang mở mang bờ cõi về phương Nam nơi đất Lâm Ấp và về phía Tây nơi đất Di Lạo đã được ngòi bút của nhà văn thẳng thắn dựng lên. Không ít lúc chúng tôi lo lắng cho nhà văn, liệu có đi quá giới hạn của mình, động chạm chính trị, xâm lấn địa tầng văn hóa, sắc tộc, tôn giáo, rồi thì dẫn đến những tranh cãi không cần thiết, thậm chí kỳ thị dân tộc, dẫn đến bị quy chụp và cô lập? Song, giống như lịch sử đã diễn ra, việc mở mang cương vực về phương Nam với quy thuận tích cực của các vùng đất đã nói lên sự cường thịnh của Vạn Xuân, tiếp đó là Đại Việt và hôm nay là Việt Nam, chính là tiến tới văn minh của loài người. Bây giờ có thể dễ dàng nói như vậy. Song, cách đây gần 1.500 năm, đâu dễ dàng nói thế? Khi đó đang là mạnh được yếu thua, quần hùng tranh bá, nên phải có tài năng như thế nào, đức độ như thế nào, sự bao dung như thế nào mới quy tụ được con người, và đất đai để thành cương vực quốc gia? Lý giải những vấn đề trên, ngòi bút của Phùng Văn Khai đã phải vượt qua biết bao gian nan trắc trở.
Văn hóa trong Vương triều Tiền Lý trước tiên chính là văn hóa chính trị đã đạt một đỉnh cao đáng khâm phục trong thời điểm lịch sử của nó. Nếu chúng ta không có tầm cao về văn hóa chính trị, không giải quyết thấu đáo các vấn đề xoay quanh văn hóa chính trị, thì chắc chắn quốc gia sẽ rối loạn, vương triều sẽ đổ gãy, muôn dân sẽ lầm than. Bài toán văn hóa chính trị là bài toán của muôn đời, đặc biệt trong ngày hôm nay, khi mọi thứ đang trở nên vô cùng phức tạp. Vấn đề văn hóa chính trị trong Vương triều Tiền Lý đã được nhà văn dốc sức khai triển trên tinh thần độc lập dân tộc. Phải đặt Tổ quốc, nhân dân lên cao hơn quyền lợi chính trị của một ông vua cụ thể, của một dòng họ cụ thể. Tập cuối bộ Vương triều Tiền Lý là Lý Phật Tử định quốc đã được triển khai và thể hiện trên tinh thần đó. Một tinh thần Vạn Xuân nhất thống, bách tính thị tộc đồng quy, xây dựng quốc phú binh cường, đủ sức mạnh vững chắc trước đại họa phương Bắc chính là căn bản duy nhất của nền quốc thống. Những cuộc vua nước Vạn Xuân thân chinh dẹp tan giặc biển khẳng định chủ quyền hải phận nơi biển đảo. Những cuộc binh tướng triều đình cố kết các thị tộc nơi biên ải dẹp tan giặc núi từ phương Bắc đều tỏ rõ một thông điệp nêu cao độc lập dân tộc, xây nền quốc thống Vạn Xuân. Vẫn còn nguyên đó quốc điện trên núi Nghĩa Lĩnh mấy nghìn năm trước triều đại Hùng Vương dựng nước và giữ nước. Vẫn còn nguyên đó các mỹ tục từ nơi núi rừng heo hút tới các vùng thung châu, hạ bạn, miền biển, miền rừng, tới phố phường kinh đô sầm uất đều vô cùng đặc sắc sinh động. Điều đó không chỉ là thách thức mà còn là niềm vui của nhà văn khi được hòa mình vào, thể hiện ra những đặc sắc ấy. Trong bộ Vương triều Tiền Lý, nhà văn đã gắng hết sức để những đặc sắc đó gần gũi, còn lại, diễn ra ngay trong ngày hôm nay, ở liền xung quanh chúng ta, như hơi thở, như miếng cơm thơm manh áo ấm thường ngày.
Nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Tuấn (bìa trái).
Bộ sách được viết liền một mạch, tổng hòa các vấn đề kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội, bản sắc dân tộc đồng loạt hiện lên, khi dồn dập nối nhau như sóng vỗ bờ, khi ẩn tàng lặng lẽ chìm khuất thẳm sâu hút hắt, thì vẫn nguyên ở đấy, một tấm lòng trung trinh với đất nước, với dân tộc, với nhân dân.
Bốn vị hoàng đế, quân vương của Vương triều Tiền Lý, các ngài ấy đều đã cống hiến đến tận cùng, tuyệt không màng danh lợi cho riêng mình. Có vị mở đầu đã cơ cực mà kết thúc càng rất đỗi bi ai. Quốc chủ Vạn Xuân Lý Bí bốn tuổi mồ côi cha, bảy tuổi mồ côi mẹ, mười mấy năm tu tập ăn chay niệm Phật, hai mấy năm bôn ba nếm mật nằm gai, lên ngôi quốc chủ vẫn dép cỏ áo nâu vào chùa dâng hương niệm Phật. Đặc biệt, giây phút cuối đời ngài là một khung cảnh khiến người đời rơi lệ. Triệu Việt Vương – tùy tướng của ngài vâng di mệnh đánh giặc phục quốc suốt nhiều năm ròng không một phút giây nào lơ là việc quân việc nước. Triệu Việt Vương không chỉ vâng mệnh quốc chủ Lý Bí đòi lại quốc thống cho Vạn Xuân, mà còn được nhị thánh Chử Đồng Tử – Tiên Dung ban cho móng rồng cũng là các tiên thánh phương nam giao trọng trách việc khơi nguồn độc lập. Triệu Việt Vương thân làm tướng soái, tay dẫn trọng binh, bên ngoài là thánh tướng cổ kim hiếm có, bên trong là quốc vương đầy ứ khuất khúc triều chính, càng là thách thức ngòi bút nhà văn. Không phải vô cớ mà nhà văn phải để cho Triệu Vương xuống tóc. Viết tới những dòng đó, hẳn ông đã nhiều đêm nhỏ máu mắt, nén nỗi đau đớn bi ai để việc nước vẹn toàn.
Trong các vị hoàng đế, quân vương, dường như chỉ có Lý Đào Lang Vương được đôi phần nhẹ nhõm. Vốn là anh ruột của Nam Việt Đế Vạn Xuân tức quốc chủ Lý Bí, Lý Đào Lang Vương đã phải thân hành mở một cõi khác – một nước khác – nước Đào Lang nơi núi rừng heo hút và từng bước mở mang bờ cõi, thống thuộc Ái Châu, Hàm Hoan, Cửu Đức và các huyện phía tây Di Lạo, phía nam Lâm Ấp. Quả thực, ngài là một bậc đại anh hùng, huân công rực rỡ, văn võ kiêm thông. Chỉ riêng việc khuất phục các bộ tộc phía tây, xây chùa dựng tháp, khai mở giao thương, trấn trị cướp biển đã thấy được không chỉ chí lớn ngút trời mà chính là đức độ của Lý Đào Lang Vương đều là trăm năm hiếm có. Có phải như vậy chăng, mà khi nhìn vào huân công, đức trị của ngài đã khiến Triệu Việt Vương chỉ biết than thầm mà thuận lẽ trời tìm cách trao ngôi nước Vạn Xuân về cho dòng họ Lý. Lý Đào Lang Vương là một ca khác biệt, cũng là một vùng đất lớn để nhà văn vẫy vùng từ những biên chép sơ sài ở phần Ngoại kỷ trong Đại Việt sử ký toàn thư.
Lý Thiên Bảo xuất hiện trong Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ở phần Ngoại kỷ rất khiêm tốn. Khi soạn Kỷ Triệu Việt Vương, các nhà soạn sử đã nêu thêm, xét sử cũ không chép Triệu Việt Vương và Đào Lang Vương, nay nhặt trong dã sử và các sách khác, bắt đầu chép vị hiệu của vương và phụ chép Đào Lang Vương để bổ sung: “Anh của Nam Đế là [Lý] Thiên Bảo, ở đất người Di Lạo, xưng là Đào Lang Vương, lập nước gọi là nước Dã Năng. Trước đó, khi Nam Đế tránh ở động Khuất Lão, Thiên Bảo cùng với tướng người cùng họ là Lý Phật Tử đem 3 vạn người vào Cửu Chân. Trần Bá Tiên đuổi theo đánh, Thiên Bảo bị thua, bèn thu nhặt quân còn sót được vạn người chạy sang đất người Di Lạo ở Ai Lao, thấy động Dã Năng ở đầu nguồn Đào Giang, đất phẳng rộng màu mỡ có thể ở được, mới đắp thành để ở, nhân tên đất ấy mà đặt quốc hiệu. Đến bấy giờ quân chúng tôn làm chúa, xưng là Đào Lang Vương. Ất Hợi, năm thứ 8 [555], (Lương Kính Đế Phương Trí, Thiệu Thái năm thứ nhất), Đào Lang Vương mất ở nước Dã Năng, không có con nối, quân chúng suy tôn Lý Phật Tử lên nối ngôi, thống lĩnh quân chúng (Đại Việt sử ký toàn thư – Ngoại kỷ – Quyển IV)”.
Ít ỏi là vậy, nhưng đây lại là ghi chép mang tính đầy đủ nhất về vị vua này. Sự hạn chế của dữ liệu chính sử đặt ra thách thức nhưng cũng là cơ hội không nhỏ cho sức bút Phùng Văn Khai.
Mặc dù vẫn nối tiếp mạch chủ đề chống giặc ngoại xâm, Lý Đào Lang Vương đã song song xuất hiện một chủ đề mới, đó là mở rộng bờ cõi, mở rộng địa vực. Phùng Văn Khai đã phát hiện, làm sáng rõ những lựa chọn lịch sử của Lý Đào Lang Vương. Con đường định mệnh của nhân vật lịch sử này là trở thành một trong những người đầu tiên viễn chinh và khai phá lãnh thổ đất Việt về phía Tây và phía Nam Tổ quốc.
Ngay mở đầu Lý Đào Lang Vương, Lý Thiên Bảo đã bị đặt vào một tình thế ngàn cân treo sợi tóc, khi quân nhà Lương từ phương Bắc dưới sự chỉ huy của Trần Bá Tiên tấn công như chẻ tre, phá thành Long Biên, thắng hồ Điển Triệt, ép Lý Nam Đế phải lui về động Khuất Lão và qua đời ở đây, mọi việc để lại cho Tả tướng quân Triệu Quang Phục. Ở Ái Châu về phía Nam, lực lượng của Lý Phật Tử được Lý Thiên Bảo giao phó giữ thành phải chịu gọng kìm kép, một bên là thế lực của Lữ Phạm, Mông Kỳ từ phía Bắc tranh thủ tình thế tập kích chiếm cứ, một bên là đại tướng Bố Đa Ngai từ phía Nam nhăm nhe vượt dãy Hoành Sơn thực hiện dã tâm báo thù của vua Rudravaman nước Lâm Ấp. Thời khắc lịch sử làm nên vĩ nhân. Trong những thời điểm ngàn cân trao sợi tóc, ngặt nghèo nhất của lịch sử, con người muốn trở nên vĩ đại phải đưa ra lựa chọn sống còn của mình. Lý Thiên Bảo là một con người như vậy!
Tây tiến là lựa chọn của Lý Thiên Bảo. Trước tình thế bất lợi, đối mặt với sự uy hiếp của thế lực phương Bắc, Lý Thiên Bảo đã gom nhặt lực lượng binh tướng tâm phúc, rút về vùng động Dã Năng, thượng nguồn sông Đào Giang, tiếp giáp với đất người Di Lạo ở Ai Lao để xây dựng căn cứ. Ở đây, nhà văn đã khéo léo lồng ghép tiểu thuyết vào bức tranh văn hóa thời đại, khi Phật giáo được truyền bá vào nước ta từ rất sớm nhờ công của Khương Tăng Hội, Mâu Tử, Khâu Đà La, Ma La Kỳ Vực, và đặc biệt được Tì-ni-đa-lưu-chi giáo hóa lan tỏa vào khoảng thế kỷ VI – VII, với trung tâm Phật pháp là Luy Lâu. Việc đầu tiên Lý Thiên Bảo cho làm khi tới Dã Năng là cho xây dựng chùa để thúc đẩy xiển dương hoằng pháp, thu phục nhân tâm, bình ổn lòng dân. Chi tiết này, khi ráp nối với lịch sử thực tế, lại trở nên logic vô cùng. Bởi sau này Lý Phật Tử đã kế thừa nền tảng từ Lý Thiên Bảo, duy trì thời gian thái bình cho chúng dân Vạn Xuân trong vòng hơn ba mươi năm.
Vương triều Tiền Lý, mọi đổ dồn đều ngóng đợi ở tập cuối Lý Phật Tử định quốc. Không ít bạn văn kinh sợ chuyện Phùng Văn Khai sẽ hụt hơi ở chặng cuối này? Lịch sử đã không dễ dàng thì văn chương càng không dễ dàng vậy. Lý Phật Tử là một vị hoàng đế khác thường và phi thường trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Sự khen chê dành cho ngài quá chất chồng đến mức thật giả khó phân, hay dở khôn lường, người đời nhiễu loạn. Chuyện đế vương xưa nay có bao giờ thuận một chiều xuôi một giọng cả đâu? Nhưng đến Lý Phật Tử quả là mâu thuẫn đã thực sự đến đỉnh điểm. Các triều đại phong kiến đã gán ghép cho ngài những tội lỗi kinh thiên động địa.
Sử thần Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Lấy bá thuật mà xét, thì Hậu Lý Nam Đế – Lý Phật Tử đánh Triệu Việt Vương là đắc kế; lấy vương đạo mà xét thì việc ấy đã từng không bằng chó lợn. Tại sao thế? Là vì khi Lý Nam Đế ở động Khuất Lão đem việc quân ủy cho Triệu Việt Vương; Việt Vương thu nhặt tàn quân giữ hiểm ở Dạ Trạch bùn lầy, đương đầu với Trần Bá Tiên là người hùng một đời, cuối cùng bắt được tướng của y là Dương Sằn, người phương Bắc phải lui quân. Bấy giờ Hậu Nam Đế trốn trong đất Di Lạo, chỉ mong thoát khỏi miệng hùm mà thôi. May mà Bá Tiên về Bắc, Lý Thiên Bảo chết, vua mới đem quân đánh Triệu Việt Vương, dùng mưu gian trá xin hòa, kết làm thông gia. Triệu Việt Vương lấy lòng thành đối đãi, cắt đất cho ở, những việc làm đều là chính nghĩa, giao hảo phải đạo, thăm viếng phải thời, há chẳng phải là đạo trị yên lâu đài hay sao? Thế mà Hậu Nam Đế lại dùng mưu gian của Nhã Lang, vứt bỏ chính đạo nhân luân, kíp tham công lợi mà diệt nhân nghĩa, đánh cướp lấy nước, tuy rằng lấy được nước, mà Nhã Lang thì chết trước, bản thân cũng không khỏi vào tù, có lợi gì đâu?”
Từ nhận định như kết án quá khe khắt, thiên kiến và thiển cận này, các sử gia, nhà nghiên cứu, các chính thể đời sau thay nhau kết tội ông, cho rằng ông đầu hàng giặc, đánh mất nước, đánh mất độc lập dân tộc… Rồi những câu chuyện trong dân gian được dựng lên khắp nơi, giả thần giả quỷ, mượn mô típ Mị Châu – Trọng Thủy để áp vào ông trong câu chuyện Cảo Nương – Nhã Lang. Ngay sử gia hiện đại Đào Duy Anh trong sách Đất nước Việt Nam qua các đời (Nxb Văn hóa Thông tin, 2005) đã nhận định: “Lý Phật Tử tranh ngôi, Triệu Quang Phục chia nước làm hai, lấy bãi Quân Thần làm giới hạn. Về sau, năm 581, nhà Tùy tiêu diệt nhà Trần thống nhất Trung Hoa, chinh phục đất nước ta”. Trước đó, trong Việt sử lược, bản dịch Trần Quốc Vượng cũng chép rất sơ sài về Lý Phật Tử: “Năm thứ 2 hiệu Nhân Thọ (602) đời Tùy Văn Đế, châu súy Lý Phật Tử giữ thành Việt Vương làm loạn. Còn người anh là Lý Đại Quyền giữ Long Biên. Tùy Văn Đế lấy Lưu Phương làm Hành quân Tổng quản đi dẹp Lý Phật Tử. Lý Phật Tử sợ xin hàng”.
Các sử sách đều nhất loạt trước sau, hoặc biên chép sơ sài, hoặc nhận định phiến diện, thiên kiến, khiến người nghiên cứu lịch sử, nhất là viết về lịch sử đời sau càng mông lung vô định.
Than ôi miệng lưỡi sử quan!
Trong sáu, bảy năm trở lại đây, Phùng Văn Khai đã có hàng chục bài nghiên cứu độc lập, bài báo, tham luận khoa học viết riêng về Nam Việt Đế Lý Phật Tử trước khi tập cuối Lý Phật Tử định quốc được in ra. Điều này hẳn nhiên không phải một sự vô tình mà là một sự tranh biện, khẳng định, một niềm tin mãnh liệt của ông về nhân vật đế vương đầy tranh cãi trong lịch sử. Nhà văn đã dày công chuẩn bị không chỉ tinh thần quật khởi cao cường, mà tất cả những cứ liệu khoa học chắc chắn để chiêu tuyết cho Lý Phật Tử. Khi thể hiện Lý Phật Tử định quốc, ngòi bút Phùng Văn Khai bỗng trở nên trầm hậu khác thường. Những nhân vật chính, đại thần trụ cột của Triệu Việt Vương – đối thủ chính của ngài đều được xây dựng hết sức công phu, đầy cá tính. Có nhân vật đã hóa thành thần thoại được dân gian thờ phụng dày đặc như nhị vị tướng quân Trương Hống, Trương Hát (sau này hóa Thánh Tam Giang) đã một mực không khuất phục Lý Phật Tử khiến ngòi bút Phùng Văn Khai đôi chỗ đã phải sững sờ, phân vân lắm. Rồi các võ tướng Trịnh Phong, Đinh Công Bính từng theo Triệu Việt Vương phục quốc dứt khoát chống lại Lý Phật Tử sẽ phải xử lý ra sao? Các văn thần Phạm Lang, Khả Mật vốn quen với việc soạn chiếu chỉ, văn bút nơi Bắc Vạn Xuân sẽ phải hành xử ra sao? Nhất là Tổng trấn Ngô Bân, một trọng thần tài đức vẹn toàn sẽ phải đi theo hướng nào đây, khi một bên là Triệu Việt Vương nhất quyết nhường ngôi nước, một bên là các kiêu binh hãn tướng nhất định không chịu buông bỏ binh quyền? Kịch tính đã có lúc lên tới đỉnh điểm. Đao thương cung kiếm đã rút ra khỏi vỏ khiến máu chảy đầu rơi thật đã gây khó cho ngòi bút của nhà văn. Trong trùng trùng vây bủa ấy, chính chiếc mỏ neo đạo pháp và văn hóa chính trị ở một cấp độ cao đã cứu cánh không chỉ đất nước Vạn Xuân mà còn cứu luôn ngòi bút của nhà văn dời xa miệng vực. Đã có lúc, chúng tôi không khỏi thất kinh, e sợ rằng Phùng Văn Khai không vượt qua được cửa ải này.
Sau các cuộc trao đổi, bàn luận về lịch sử của người Việt với các nhà nghiên cứu hàng đầu hiện nay, những người có con mắt xanh và bộ óc bách khoa trong các vấn đề nhạy cảm về lịch sử, chúng tôi càng tin tưởng vào nhận định của Phùng Văn Khai: Lý Phật Tử là vị Nam Việt Đế lớn nhất, có công nhất, để lại nhiều dấu ấn nhất của vương triều Tiền Lý.
Trước tiên, về mặt lãnh thổ, sau các vị Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục, Lý Đào Lang Vương mới chỉ làm chủ hoặc là phía bắc từ Tam Điệp – Ninh Bình trở ra (Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục), hoặc từ Hoành Môn Quan (Đèo Ngang – Quảng Bình) trở ra (Lý Đào Lang Vương) mà chưa có sự mở rộng, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ từ nam ra bắc (Hoành Môn Quan tới giáp cương vực phía bắc nhà Lương, nhà Tùy). Thậm chí, cả một vùng rộng lớn phía tây giáp Di Lạo cũng thuần phục và thuộc về quốc thổ Vạn Xuân. Vùng đất rộng lớn nữa của Lâm Ấp (dưới triều vua Rudravaman, bên kia Đèo Ngang thuộc các vùng Quảng Trị, Quảng Bình ngày nay) cũng bị khống chế, thậm chí cắt chuyển nhượng cho Vạn Xuân. Các vấn đề về tôn giáo được khẳng định. Đạo Phật được tôn làm quốc giáo với nhiều trung tâm lớn như Luy Lâu, Long Biên, Cổ Loa, Cổ Pháp… mà điển hình là việc giao lưu đạo pháp với các đại sư từ Ấn Độ theo đường biển vào. Vấn đề văn hóa được khơi mở với các lễ hội truyền thống còn đến hôm nay như: đua thuyền, bắn cung, chọi trâu, võ vật, nấu bánh chưng, bánh dày… đã thể hiện sự cường thịnh của một Vạn Xuân thống nhất. Vấn đề thể chế chính trị được kế thừa và kiện toàn từ thời các vua Hùng. Các ban văn, ban võ, quan lại từ châu, phủ, huyện, xã, ấp… được hình thành quy củ là một đặc điểm nổi trội của vương triều Tiền Lý. Đồng tiền Vạn Xuân, Thiên Đức sau này được giới khảo cổ tìm thấy đã như một minh chứng hiển hiện của vương triều. Đặc biệt, việc xác lập sự độc lập dân tộc, tự tôn, tự cường, phân chia ranh giới với người phương Bắc luôn được Hậu Lý Nam Đế – Lý Phật Tử hết sức coi trọng.
Một điều đặc biệt trong chính quyền Vạn Xuân do Lý Phật Tử đứng đầu đã sớm phong vương tước cho các tướng thuộc quyền, nhất là những người hiền đức, những tôn thất có tài trị quốc như Lý Đại Quyền tổng quản thành Long Biên; Lý Phổ Đỉnh tổng quản thành Ô Diên; các tướng Lý Thiệu Long tổng trấn châu Cửu Đức, Triệu Quốc Chính tổng trấn Ái Châu… đã tạo thế liên hoàn và chứng tỏ nhãn quan sử dụng hiền tài không hạn chế của Lý Phật Tử.
Lý Phật Tử được muôn dân suy tôn vương vị Đào Lang Vương (555-571); Hậu Lý Nam Đế (571-602), tổng cộng ông giữ ngôi vương 16 năm, giữ ngôi đế 31 năm, là một trong những vị đế vương tại vị lâu nhất và thọ nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Đây phải được coi như một dấu mốc lịch sử, một khẳng định về vương quyền của vị đế vương đặc sắc.
Phùng Văn Khai đã dứt khoát khẳng định Nam Việt Đế – Lý Phật Tử là vị hoàng đế đặc biệt có công với nước. Ông không chỉ là vị hoàng đế lớn, độc đáo, đặc sắc, mà còn là vị hoàng đế duy nhất tính tới bấy giờ có cương vực rộng lớn, chiến công hiển hách, văn thao võ lược gồm đủ, khởi dựng và giữ gìn, phát triển đạo pháp quy củ mà trước tiên còn là một con người với đầy đủ những bản tính ái, ố, hỉ, nộ vô cùng rõ nét. Ông là một biểu hiện đặc biệt sinh động của người Việt trong tiến trình dựng nước và giữ nước, luôn có ý thức sâu sắc phải độc lập, tự chủ, tự cường với phương Bắc và sớm có tư tưởng, hành động mở mang bờ cõi về phương Nam. Điều này, thật đau đớn và nực cười thay, các sử gia đời sau, con cháu đời sau, cho tới tận hôm nay vẫn vô cùng ít nhắc đến.
Là một nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử, Phùng Văn Khai đã bằng vào tư liệu lịch sử và tài văn của mình, trả lời xuất sắc những câu hỏi hóc búa trên.
Tiểu thuyết lịch sử là một cách hình dung về lịch sử, qua ngôn ngữ tiểu thuyết, lịch sử được tái hiện gắn với trạng thái đời sống sinh động nên vô cùng cuốn hút, hấp dẫn. Đọc lịch sử thông qua tiểu thuyết, phải chăng là cách hữu hiệu để lịch sử đến với mỗi người không chỉ bằng lý trí mà còn bằng cảm xúc. Viết truyện lịch sử đang trở thành trào lưu mạnh mẽ những năm gần đây ở Việt Nam. Lịch sử dân tộc bốn ngàn năm hào hùng là nguồn cảm hứng mãnh liệt và là kho dữ liệu vô giá với các nhà tiểu thuyết.
Công việc của người viết sử bằng văn chương là làm sống lại lịch sử, biến những sự kiện lịch sử vốn mang tính chất khô khan trong sử sách thành những câu chuyện lịch sử sống động và khơi mở, luận giải, đối thoại với những vấn đề được đặt ra từ lịch sử, qua đó truyền cảm hứng và tình yêu dân tộc đối với độc giả. Bộ Vương triều Tiền Lý bao gồm Nam Đế Vạn Xuân, Triệu Vương phục quốc, Lý Đào Lang Vương, Lý Phật Tử định quốc với 63 hồi với 2.000 trang in thực sự là một trường thiên tiểu thuyết đồ sộ. Phùng Văn Khai đã dẫn dắt người đọc theo bước chân hành trình của các bậc đế vương triều Tiền Lý nhằm hiện thực hóa ý chí và sức mạnh của muôn dân Vạn Xuân. Đọc tiểu thuyết của nhà văn, độc giả như được sống lại một thời kỳ oanh liệt của lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của cha ông. Dẫu câu chuyện đã qua từ rất lâu, song những bài học mà nó mang lại chưa bao giờ là cũ. Bài học về truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, về tinh thần tự chủ, tự cường, tự lực, về ý chí, khát vọng hòa bình, hạnh phúc, về sức mạnh của sự đoàn kết muôn dân, về tài năng, đức độ, tầm nhìn của người lãnh đạo, về bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán… vẫn luôn đồng hành với nhiều thế hệ dù ở bất kỳ thời đại và sự chuyển động nào. Vương triều Tiền Lý xứng đáng là bản anh hùng ca về ý chí, sức mạnh và văn hóa Việt trong tiến trình lịch sử. Phùng Văn Khai và bộ tiểu thuyết của ông xứng đáng có một vị trí trong tiến trình vận động, đổi mới thể loại với nỗ lực phục hiện/ hưng lối viết truyền thống bằng cảm thức lịch sử sâu sắc và lối kể chuyện hấp dẫn.
Đó cũng là sự chân thành của chúng tôi và nhóm bằng hữu Viện Nhân học Văn hóa cảm nhận, đồng hành và chia sẻ với nhà văn Phùng Văn Khai.
Mong bạn đọc góp ý kiến phê bình!
—————
![Lời bạt thứ nhất về bộ tiểu thuyết vương triều Tiền Lý [kỳ cuối] - Tác giả: Nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn và nhóm bằng hữu Viện Nhân học Văn hóa Lời bạt thứ nhất về bộ tiểu thuyết vương triều Tiền Lý [kỳ cuối] - Tác giả: Nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn và nhóm bằng hữu Viện Nhân học Văn hóa](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2025/01/Nha-van-Nguyen-Xuan-Tuan-h4-min-696x564.jpg)



















