Luôn gần hai mươi năm, chúng tôi thấy nhà văn Phùng Văn Khai một mực chuyên tâm lịch sử. Ông hoặc cùng các đoàn nghiên cứu, văn nhân miệt mài điền dã đình, đền, chùa, miếu, hoặc mải miết bôn ba khắp nơi tham gia tổ chức các hội thảo khoa học đều là về danh nhân lịch sử. Đó là vị vua khai nguyên lập quốc Bố Cái Đại vương Phùng Hưng đánh đuổi giặc Đường. Đó là vị trọng thần chính trực mưu lược trùm đời tham dự chuyển giao êm thuận triều chính Lý – Trần – Thái phó Phùng Tá Chu. Đó là vị trọng thần triều Lê ngoại bảy mươi vẫn nhận mệnh vua làm Chánh sứ vang danh Bắc quốc – Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Đó là vị thần tướng giúp Lý Bí đánh giặc Lương xác lập quốc hiệu Vạn Xuân, sau trở thành thần Thành hoàng đình Phùng Xá – Thạch Thất – ngài Hữu tướng Phùng Thanh Hòa cách đây đã gần 1.500 năm. Công việc của ông lúc nào cũng cuồn cuộn như mây, mà xem ra việc chuyên tâm viết tiểu thuyết lịch sử càng không phút nào sao nhãng.
Còn nhớ ngày nhà văn dốc sức viết tiểu thuyết Ngô Vương, câu đề tựa đã khẳng khái nhắc nhở người phương Bắc: Đằng Giang tự cổ huyết do hồng (Giang Văn Minh) khiến lão huynh Phạm Lưu Vũ đọc xong một mạch khoan khoái viết thêm hồi mở đầu với đoạn kết luận rằng: “Quả bốn mươi chín đời sau có một nhà văn họ Phùng kể chuyện đại anh hùng Ngô Quyền trong tiểu thuyết Ngô Vương. Văn chương khoát hoạt, sang trọng, lời thoại theo lối tiên tụng hậu phê hơi giống chính văn Tàu để cho bọn hậu sinh của Cao Biền dễ tiếp cận mà mở mắt ra. Phùng tiên sinh viết chi tiết như thực lục, mạch lạc như đường quang, phấn chấn như dọn cỗ. Tả giặc phương Bắc như đám ghẻ chỉ thích chui vào nằm ở hạ bộ. Đối với một vị tướng nhà trời như Ngô Quyền, thì đuổi giặc phương Bắc cũng chả khác gì cạo lông lợn. Cuộc đầu nhàn như đánh hộ, cuộc sau dễ như đuổi gà, và cuộc thứ ba, diễn ra trên sông Bạch Đằng, là một cuộc chiến oanh liệt gấp trăm lần Xích Bích. Viết rõ ràng, thứ tự, lớp lang… như người trong cuộc vậy. Phùng tiên sinh đúng là hậu sinh trong bài kệ của Vương Ngọc chân nhân.
Bài kệ như sau:
Vương Ngọc chân nhân ở đây chính là Giáo sư Trần Ngọc Vương – một học giả am tường phương Bắc tới chân tơ kẽ tóc.
Phùng Văn Khai vốn là học trò của Giáo sư Trần Ngọc Vương. Có lẽ Giáo sư Trần cũng không lạ việc họ Phùng sau này sẽ chuyên tâm cho lịch sử. Trong một cuộc hội thảo khoa học luận về Bố Cái Đại vương Phùng Hưng, Giáo sư Trần đã một mình nói khác về vùng đất hai vua Đường Lâm khiến thiên hạ kinh động. Song có hề gì, sức ôm chứa của lịch sử vốn vô cùng cũng là để hậu nhân đời sau thỏa chí bình sinh đoán định. Cuộc đó, cùng với những hội thảo kế tiếp về các vị vua, danh thần, danh tướng, danh nhân có công giành độc lập dân tộc, lập quốc lập pháp, mở mang bờ cõi, chế định triều nghi, nối thông quốc thống từ thời kỳ Hồng Bàng tới vương triều Tiền Lý; tiếp đến họ Mai quật khởi xưng đế, họ Phùng tụ nghĩa giành độc lập dân tộc xưng vương; tiếp đến mấy đời họ Khúc xác lập quân quyền của người phương Nam, nối tới anh hùng dân tộc Ngô Quyền mở kỷ nguyên độc lập; tiếp một mạch Đinh – Lý – Trần – Lê – Nguyễn. Dẫu người phương Nam nhiều phen phải nằm gai nếm mật, dùng xương máu bách tính thị tộc đuổi giặc phương Bắc về nước chúng, thì luôn là tinh thần quật khởi muôn chết không sờn, nhất định dân ta phải làm chủ nước ta, từ thượng cổ đã Nam – Bắc phân phong, các đời sau đều rành rành sách trời đã định.
Trong tâm thức và tinh thần ấy, Phùng Văn Khai đã dốc toàn bộ trí tuệ, sức lực và thời gian, từng bước, từng trang tường minh lịch sử bằng văn chương thấm thoắt đã gần hai mươi năm. Âu cũng là một chặng đường vô cùng cần lao kiên định!
Về Phùng Vương và Ngô Vương, các nhà nghiên cứu phê bình, giới văn bút trưởng lão và bạn văn đồng thời đã có nhiều ý kiến, bài viết, nhiều bạn sinh viên, học viên cao học đã chọn làm Khóa luận tốt nghiệp, Luận văn Thạc sĩ, Luận án Tiến sĩ cũng là tấm lòng ưu ái với lịch sử, với văn chương của nhà văn. Đó như tia nắng bình minh buổi sớm mai lấp lánh, như ngọn gió mát lành đầu thu xôn xao lay động, như ngọn lửa ấm đêm đông nơi tiền đồn cương vực xa xôi. Tất thảy đều là khích lệ nhà văn trong đường xa dặm thẳm nghề văn bút trùng trùng. Những tấm lòng ấy, thanh âm ấy hữu ích xiết bao với người sáng tạo luôn đơn độc một mình. Ở lúc này đây, rõ ràng nhà văn là người hạnh phúc. Và cái duyên ắt đến, cái nợ phải trả luôn luôn chất chứa trong tim óc nhà văn.
Hơn mười năm gần đây, bỗng thấy Phùng Văn Khai đi đình, đền, chùa, miếu chăm chỉ khác thường. Viết xong Ngô Vương đã lâu, vẫn thấy ông tuần tiết nào cũng tới Cổ Loa, lên Đường Lâm, đi Cổ Pháp dâng hương, trò chuyện với các vị thủ đền, thủ đình, các nhà nghiên cứu lịch sử, nhất là các bô lão địa phương. Có chuyến mời nhiều người cùng vân du điền dã. Lại có khi một mình một bóng một mạch đi – về. Riêng chùa Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Phùng Văn Khai trong vòng một năm đi về luôn bảy, tám bận. Khi có người hỏi thường đăm chiêu tư lự, nhất là lúc xem lại những bức ảnh chụp quang cảnh tiêu điều, sơ sài bên bà vãi, ông sư, người tứ xứ trôi dạt, tụ bạ ở sân chùa, góc giếng, vạt đồi, rặng cây, đều thấy ông lao lung lắm. Có lẽ nào một ngôi chùa lừng danh như Cổ Pháp, nơi quốc chủ Vạn Xuân Lý Bí từng tu tập mười mấy năm, đã được Hội thảo khoa học cấp toàn quốc tổ chức ở tỉnh Thái Nguyên năm 2007 khẳng định rõ ràng, mà thời gian bãi bể nương dâu vẫn mặc kệ không ai ngó ngàng, trùng tu, tôn tạo? Gặng hỏi mãi, nhà văn chỉ bảo đã cùng một số nhân sĩ trí thức có trách nhiệm lên tiếng tới chính quyền địa phương cấp huyện, cấp tỉnh, với cả những sư thầy có chức vụ cao nơi trung ương Phật giáo, nhưng mọi chuyện vẫn là nước chảy mây trôi. Tấm lòng của người nghiên cứu lịch sử, của nhà văn viết về lịch sử dân tộc như Phùng Văn Khai âu chỉ còn biết gửi vào từng trang sách. Văn mạch theo dòng lịch sử, nếu thành tâm thành ý ắt có đời sống của riêng mình.
Bộ tiểu thuyết lịch sử Vương triều Tiên Lý của nhà văn Phùng Văn Khai.
Rất nhiều lần, trong lúc trà dư tửu hậu, Phùng Văn Khai rất băn khoăn trả lời một câu hỏi, rằng tại sao vương triều Tiền Lý kéo dài 58 năm (544-602), với bốn vị hoàng đế, quân vương: Lý Nam Đế; Triệu Việt Vương; Lý Đào Lang Vương; Lý Phật Tử, với huân công giành độc lập dân tộc, lập nước Vạn Xuân, nối nền quốc thống, mở mang cương vực, xây dựng và xác lập Phật giáo làm quốc giáo với Khai Quốc tự (nay là chùa Trấn Quốc), để chúng ta tự hào tới ngày nay, lại được nhắc đến vô cùng ít ỏi? Thậm chí, vị quân vương – hoàng đế hùng mạnh Nam Việt Đế – Lý Phật Tử (hậu Lý Nam Đế) còn bị sử sách lên án nặng nề. Có lẽ nào, chúng ta mãi ở một góc nhìn thiển cận, định kiến hẹp hòi, tư duy lệ thuộc, bị áp đặt bởi người phương Bắc, để đến mức ngay cả tổ tiên mình, cha ông mình cũng không dám minh định công lao? Tại sao một mảnh đất giàu bản sắc văn hóa với phong tục, tập quán, tín ngưỡng độc đáo như thế, lại còn rất ít dấu vết trên trang sử? Đây là một nỗi niềm khôn khuây của giới trí thức mà nhà văn Phùng Văn Khai hẳn vô cùng đau đớn, vân vi.
Lại một thách thức đặt ra, đó là vị hoàng đế đầu tiên của vương triều Tiền Lý – Lý Nam Đế vốn xuất thân cửa Phật, tuổi trẻ tu tập trong chùa, chuyên tâm Phật pháp, mọi giáo lý của nhà Phật đều đã thấm đẫm tận tóc tơ gốc rễ, ngài trong lòng kính ngưỡng hoàng đế phương Bắc đương thời Lương Vũ Đế vốn nức tiếng với việc xây chùa, hộ pháp, độ tăng, từng diện kiến Bồ Đề Đạt Ma sư tổ luận bàn đạo pháp đã trở thành giai thoại dân gian. Tiếp đó, Lý Bí xuất gia theo nghiệp võ, làm đến chức Giám quân châu Cửu Đức, tức viên quan đứng đầu việc binh vùng Cửu Đức rộng lớn (Hà Tĩnh ngày nay), thì hẳn là sự chuyển động về nhận thức, đốn ngộ về tinh thần và sự nhập thế để thực hành đời sống sẽ rất khác thường. Tương truyền, khi binh bại phải lui về động Khuất Lão, Lý Nam Đế lại chuyên tâm đạo Phật, trở thành truyền thuyết cũng là tấm lòng của hậu nhân hướng Phật dành cho bậc đế vương. Giải quyết hành trạng này, hẳn Phùng Văn Khai phải vượt qua rất nhiều ngưỡng cửa, nhất là các giới ngưỡng giữa đời và đạo, đạo và đời luôn luân chuyển huyền vi.
Trong dòng chảy vương triều Tiền Lý 58 năm, việc khu xử, sắp xếp, thể hiện thấu đáo, tổng hòa nhịp nhàng mà tuyệt không xa rời lịch sử, không đơn thuần minh họa lịch sử, không làm méo mó lịch sử bằng văn chương quả khó như bắc thang lên trời. Xưa nay văn – sử bất phân cũng là câu nói để người đời viện dẫn lúc mình gặp khó. Đó còn là sự đơn giản, thúc thủ, lười biếng của văn nhân.
Cũng trong dạo ấy, nhiều lần Phùng Văn Khai có các cuộc đàm đạo với các vị trụ trì, những bậc cao tăng đủ mọi lứa tuổi, trong đó rất hứng khởi với một hậu duệ họ Lý – thượng tọa Thích Đồng Đạo hiện đang trụ trì chùa Phương Lan, xã Nam Phương Tiến – Chương Mỹ – Hà Nội. Sư thầy họ Lý tu tập từ năm bảy tuổi, đã vân du khắp mọi vùng miền, làm Tiến sĩ Phật học nơi quê hương Bồ Đề Đạt Ma – đất nước Ấn Độ, ngài rất tinh thông Phật pháp và luôn có tinh thần Phật giáo nhập thế cũng là bậc học một biết mười. Nhiều cuộc trò truyện ôn hòa sâu sắc nhưng không ít cuộc nảy lửa về Phật giáo hộ quốc, nhất là tư tưởng từ các truyền thuyết về đạo Phật trong dân gian. Sau những cuộc như thế, thường Phùng Văn Khai lại lặng lẽ tới các đình, điền, chùa, miếu để khai thị, khai tâm theo cách của riêng mình.
Phùng Văn Khai khởi động Nam Đế Vạn Xuân trong tư thế nhân tâm thông suốt, tinh lực dồi dào, bạn hữu thân thuộc trong văn giới luôn đồng hành thuận thảo. Phùng Văn Khai từ lúc viết văn luôn đưa trước cho mọi người xem thử, thì nay vẫn nguyên nết ấy. Lại còn kiên quyết giữ lối chương hồi, không ngại dùng cổ văn, cổ ngữ, điển tích, điển cố, ông dường như càng trơn bút hơn buổi đầu khi sáng tác Phùng Vương. Viết xong chương nào, hoặc tự cắt gọt thành những truyện lịch sử in các báo, hoặc đưa lên các trang mạng để cộng đồng bàn tán thỏa thuê. Có một bạn đọc người Hải Phòng tên Đặng Xuân Lương từ lâu quý trọng văn của Phùng Văn Khai, liên tiếp còm những lời tốt đẹp, còn vẽ nhiều hình họa đặc sắc đã được những bạn văn gom lại. Lại có người chê bai, dè bỉu, cho rằng không cần thiết phải viết lại lịch sử theo lối chương hồi, ông cũng chỉ lẳng lặng lắng nghe. Thôi thì ở đời muôn sự của chung, những đúng sai hay dở của con người, của văn chương, bao gồm cả lịch sử đi chăng nữa, hãy cứ để thế gian tham góp và cùng minh định.
Vạn sự khởi đầu nan đâu chỉ nhằm vào một mình Phùng Văn Khai? Ai cầm bút đều phải đối diện với những thách thức này. Viết một dòng đã khó, viết nhiều chương, nhiều tập càng thập phần gian khó. Vương triều Tiền Lý sẽ ra sao nếu không chạm được vào tâm tư bạn đọc, không mang những thông điệp gửi thẳng tới trái tim con người, nhất là người hôm nay đang phải đối diện với vô vàn áp lực, sự đổ vỡ, suy thoái, bao gồm cả niềm tin, lẽ sống đã càng như thách thức ngòi bút Phùng Văn Khai. Căn tính mỗi dân tộc, thành tựu mỗi triều đại, thời đại, nhất là sức ép đa chiều trong thời đại hôm nay đã dường như vây bủa, níu giữ mọi ngòi bút, cho dù là sáng tác văn học về lịch sử. Đường xa dặm thẳm. Ánh đao bóng kiếm mịt mùng dọa dẫm không khoan nhượng lúc nào cũng là hình ảnh thường trực của người cầm bút.
Đình, đền, chùa, miếu, những bộ kinh sách được giảng giải, văn bia khắp chốn được lưu truyền, hoành phi câu đối muôn nơi được gửi gắm, nhất là các bậc lão trượng ngót trăm tuổi, các nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử tóc bạc phơ phơ, ai nấy đều yêu quý thù tiếp, cung cấp mọi chất liệu cho Phùng Văn Khai. Ngay cả những kẻ du thủ du thực tụ tập nơi chùa bỏ miếu hoang cũng sẵn sàng chỉ cho nhà văn mọi mắc mớ ẩn tàng khuất lấp. Từ những nền tảng và chi tiết chân thực, sinh động ấy, chỉ kẻ vô tâm vô tình vô vị mang trái tim gỗ đá mới chẳng động lòng, động bút để viết ra.
Nam Đế Vạn Xuân viết về vị đế vương khởi thảo vô cùng dân dã. Bóng một thiền sư lặng lẽ giữa chiều tà hoang lạnh. Cậu bé sớm mồ côi cha mẹ chân trần tứa máu trên con đường đất sỏi trập trùng. Từng câu kinh thấm đẫm lời dặn dò đường ăn nét ở lấy nghĩa nhân làm bạn đồng hành. Ngay như mãnh chúa sơn lâm hổ vàng bờm trắng chốn rừng xanh cũng biết phục quỳ rơi giọt lệ. Mọi chỉ dạy ân cần, từ cấy trồng mùa vụ đến lục nghệ nhân gian đều thảo thơm nghĩa nước tình làng. Những điều đó, dường như Phùng Văn Khai đều chủ trương xây đắp ngay từ dòng đầu tiên khi viết Vương triều Tiền Lý.
Một điều chính yếu cũng là văn mạch xuyên suốt Vương triều Tiền Lý bao gồm: Nam Đế Vạn Xuân, Triệu Vương phục quốc, Lý Đào Lang Vương, Lý Phật Tử định quốc chính là tinh thần Phật giáo hộ quốc đã được đóng đinh nhất quán trong hai nghìn trang sách của nhà văn. Tinh thần Phật giáo được thể hiện sinh động từ bước chân lẫm chẫm của cậu bé Lý Bí bảy tuổi trong đêm đông vắng một mình trước mộ mẫu thân cùng chúa sơn lâm hổ vàng bờm trắng nghe câu kinh tiếng mõ lốc cốc của sư phụ, tới hình ảnh Triệu Việt Vương xuống tóc đi tu nơi chùa Bến trong một đêm đông nơi cổ trấn Luy Lâu. Các cuộc luận đàm Phật pháp diễn ra trùng điệp, đan cài, khi ngay giữa vương triều Vạn Xuân ngày khai quốc, khi ở nơi chiến trận muôn tên nghìn giáo thập diện mai phục vẫn là tinh thần Phật giáo hộ quốc mà tiêu biểu là lục đại hộ pháp thiền phái Luy Lâu dòng thiền thuần Việt. Nhà văn quả đã coi tâm Phật chính là trung tâm ngòi bút của mình, từ đó hòa chung việc đạo, việc đời, việc nước, việc quân tốt tươi nhuần nhụy. Song hành với mạch truyện về cuộc đời và huân nghiệp của các vị hoàng đế, quân vương, Vương triều Tiền Lý còn là những diễn giải và đối thoại sâu sắc về Phật giáo. Nhà văn đã mở rộng các vấn đề trọng đại trong lịch sử dân tộc khi nối kết vai trò của Phật giáo trong đời sống tinh thần người Việt. Phật giáo trong luận giải của nhà văn như là thứ văn hóa kiến thiết đời sống tinh thần người Việt cổ xưa – đời sống chính trị – xã hội; đời sống văn hóa – tâm linh. Những miêu tả về lịch sử, giáo lý, đặc biệt sự ảnh hưởng lớn lao của đạo Phật tới chúng dân luôn thấm đẫm trong từng trang viết.
—————
![Lời bạt thứ nhất về bộ tiểu thuyết vương triều Tiền Lý [kỳ I] - Tác giả: Nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn và nhóm bằng hữu Viện Nhân học Văn hóa Lời bạt thứ nhất về bộ tiểu thuyết vương triều Tiền Lý [kỳ I] - Tác giả: Nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn và nhóm bằng hữu Viện Nhân học Văn hóa](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2025/01/Nha-van-Nguyen-Xuan-Tuan-min-696x1043.jpg)



















