Trong tư duy lịch sử của Phùng Văn Khai, cuộc chiến giành độc lập dân tộc không chỉ diễn ra trên chiến trận, mà muốn duy trì bền vững thành quả chiến thắng, từng dân tộc phải định hình rõ nét và sâu sắc nền tảng văn hóa, thứ “quyền lực mềm”, “chất xúc tác”, “mạch nguồn bất tận” làm nên sự tự chủ, ý thức tự vệ trước sự xâm lấn văn hóa ngoại lai.
Không phải vô cớ, các triều đại phong kiến Trung Quốc, sau khi bình định phương Nam về quân sự, chính trị, ngoại giao, luôn tìm mọi cách đồng hóa người bản địa. Bởi chỉ bằng cách ấy, mới hòng thủ tiêu ý chí, tinh thần, xóa bỏ những nguy cơ ẩn tàng của sự kháng cự và lật đổ. Và lẽ cố nhiên, những thành tố thuộc về văn hóa nơi các triều đại phong kiến Trung Quốc trị nhậm luôn bị phớt lờ, “đánh vắng”, không được ghi chép trong các bộ sử. Nhận thấy sự thiếu khuyết này, nhà văn đã nỗ lực phục dựng văn hóa Phật giáo như là nền tảng tinh thần của người phương Nam kháng cự lại văn hóa phương Bắc. Khi nhìn về quá khứ, người Việt có quyền tự hào về những chiến tích phi thường giành quyền độc lập, tự chủ; và đặc biệt, về một dân tộc có nền văn hóa riêng, có phong tục, tập quán, tín ngưỡng riêng, đặc sắc. Lịch sử không đơn thuần là sự đối kháng quân sự, mà sâu sắc hơn, là sự xác lập ý thức hệ, nền tảng văn hóa tinh thần của tộc người. Nhận diện được điều này, mới thấy rõ ý đồ tư tưởng của nhà văn được thi triển trong bộ tiểu thuyết của mình. Nhà văn đã dày công tìm hiểu lịch sử và văn hóa Phật giáo, đặt định song hành với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc của vương triều Tiền Lý. Bên cạnh sự luận giải về vai trò của Phật giáo, nhà văn còn thể hiện tinh thần đối thoại rõ nét và vô cùng sinh động.
Bộ tiểu thuyết lịch sử Vương triều Tiên Lý của nhà văn Phùng Văn Khai.
Trong sự diễn giải sâu sắc của nhà văn, Phật giáo đã hiện hữu trong đời sống tinh thần cõi Giao Châu từ những năm đầu thời kỳ Bắc thuộc. Phật giáo không phải theo chân các đoàn quân xâm lược, bành trướng từ phương Bắc, mà được truyền trực tiếp từ các tăng lữ, thương gia Ấn Độ – cái nôi của Phật giáo. Thậm chí, ở cõi Giao Châu, đã sớm hình thành một trung tâm Phật giáo nơi cổ trấn Luy Lâu, phát triển vượt hơn hẳn Phật giáo phương Bắc. Khởi nguồn từ Ấn Độ, quê hương Phật giáo, dòng thiền của người phương Nam mang những nét đặc trưng riêng, hợp với văn hóa, dân tộc tính bản địa: “Dòng thiền Luy Lâu vừa có bề ngoài trang nghiêm quy củ theo tổ chế của Phật tổ vừa có sự mềm mại ôn hòa nhập thế theo bản tính của người Giao Châu” (Nam Đế Vạn Xuân, tr.103). Từ trung tâm, thiền phái Luy Lâu tỏa đi khắp hang cùng ngõ hẻm, hòa nhịp tự nhiên vào công cuộc mưu sinh và đời sống tinh thần, tạo nên nề nếp quy củ, ăn sâu bén rễ trong toàn cõi Giao Châu. Không chỉ thông thạo đạo pháp kinh Phật, giỏi võ nghệ, y thuật, các vị chân tu, chư tăng đệ tử còn thuần thục lục nghệ, mọi việc thổ mộc, nông tang, dựng nhà, cất nóc đều thông thuộc. Hình ảnh Từ sư phụ giữa trời giá rét xắn quần xuống cày ruộng với dân chúng, tự mình gặt lúa, tự tay đẽo rui đục cột giúp người dân cất nhà; Đỗ sư phụ tham gia vào sới vật; Phùng sư phụ phóng khoáng bên chiếu rượu; hay sau này, hình ảnh Lý Thiên Bảo cởi bỏ cà sa thiền trượng, cầm lấy đao thương lên yên ngựa, xuống chiến thuyền đánh đuổi giặc phương Bắc; Lý Bí sau khi đánh đuổi quan quân nhà Lương đã tự xuống tóc, mặc áo cà sa cùng với các cao tăng đi quanh đàn tràng đọc kinh siêu độ cho những người chết oan trong cuộc chiến… là những minh chứng rõ nét cho sự huyền diệu nơi đạo Phật khi đạo và đời cân bằng, trong đạo có đời, trong đời có đạo. Với người nhà Phật, quan niệm về đạo đức Phật giáo cũng thuận theo lẽ tự nhiên, “tùy duyên”: “Sư phụ vẫn dạy việc đạo lấy hành thiện làm đầu, tuyệt đối tránh binh đao thoán đạt, song mối nhục mất nước đâu chỉ can hệ riêng đến đạo Phật chúng ta? Việc giành lại ngôi nước là việc lớn mà chúng ta không thể đứng ngoài” (Nam Đế Vạn Xuân, tr.132). Rõ ràng, sự nhiệm màu của đạo đã luôn đồng hành với đời sống dân chúng từ sinh hoạt đời thường đến những biến cố lớn lao của dân tộc. Và ở chiều ngược lại, chính đời sống muôn dân trăm họ đã góp phần xiển dương, lan tỏa, phát triển đạo Phật: “Ai là người xây đình đền chùa miếu? Ai là người cấy lúa trồng cây hương hỏa cửa chùa hàng trăm năm nay? Đó đều là chúng dân trong một nước” (Nam Đế Vạn Xuân, tr.132).
Bộ tiểu thuyết lịch sử Vương triều Tiên Lý của nhà văn Phùng Văn Khai.
Lúc bấy giờ, trong diễn giải của nhà văn, chốn thiền môn trở thành môi trường tu tâm dưỡng tính, rèn luyện lục nghệ, nơi bảo lưu các giềng mối phong tục cổ truyền, được người dân Giao Châu tin tưởng gửi gắm con em. Rất nhiều người đã trưởng thành từ đây, quay về cuộc sống đời thường, lấy đạo lý nhà Phật làm chuẩn mực đối nhân xử thế, đem lục nghệ áp dụng cho cuộc sống mưu sinh. Và quan trọng hơn, các vị chân tu như Đỗ Khuông, Từ Học Lương, Lý Pháp, Phùng Hiến, Phạm Biền, Cù Hải đã khơi dậy, nuôi dưỡng tinh thần tự tôn, ý chí tự chủ, khát khao độc lập trong mỗi con dân Vạn Xuân. Họ luôn đau đáu, trăn trở về sự nghiệp nhất thống, truyền thống Rồng – Tiên và mong mỏi, kiếm tìm, bồi dưỡng người tài đức đặng khôi phục nền quốc thống.
Tinh thần Phật giáo hộ quốc chính là cánh cửa mở rộng cho Phùng Văn Khai một cách thức với vô vàn chiêu thức đưa ra những thông điệp vừa thuyết phục vừa hữu ích trong giấc mộng văn bút của mình.
Với tiểu thuyết lịch sử, đã trót bày ra chiêu thức gì, nhất định phải theo đuổi đến cùng, kết thúc thấu tình đạt lý, thỏa đáng những thứ đã sắp đặt, bày biện, giương đông kích tây. Rốt cuộc là không thể vô cớ biệt tích bất kỳ một chi tiết nào. May thay, trong các mưu hoạch của mình, Phùng Văn Khai đã không đem con bỏ chợ, ỷ vào sự thực lịch sử mà bất chấp logic sáng tạo của tiểu thuyết gia. Như là việc ông hổ vàng chúa sơn lâm nơi rừng thiêng Cổ Pháp trong đêm đông đẫm lệ canh chừng tiểu thí chủ Lý Bí đã cho thấy dấu hiệu phi phàm của đấng quân chủ một nước trong tương lai, thì lúc Nam Việt Đế thua binh nơi hồ Điển Triệt buộc phải rút về động Khuất Lão ở vào giây phút cuối cùng, cũng lại chính là thần hổ thiêng tìm tới cõng đi. Việc đời như thế nào ắt việc đạo như thế ấy. Ông hổ vàng bờm trắng ngày trước đã đến, ắt không thể cứ thế tuyệt tích trong trang sách, mà phải xuất hiện làm sao không chút cưỡng cầu chính là đao pháp của nhà văn. Ở những xen tiếp sau, vẫn là bùa cao một thước quỷ cao một trượng. Khi các vị danh tướng của quốc chủ Lý Bí là Triệu Quang Phục, Phùng Thanh Hòa giong buồm vượt bể thẳng tới Hợp Phố đốt giết quân doanh, chiến thuyền của Lương triều, sau này ắt phải gánh chịu bão táp chiến tranh. Lương triều là như thế nào? Không thể nào cam tâm chịu nhục! Việc thủy quân Vạn Xuân thảm bại trên biển Hoàng Châu khiến Đô đốc Triệu Quang Thành – chú ruột của Tả tướng Triệu Quang Phục cùng binh tướng bị chôn vùi trên biển chính là một tất yếu của chiến tranh. Và cũng theo quy luật ấy, đội thủy quân của Lương Vũ Đế cầm đầu là Dương Sằn sau rốt cũng phải mạng vong thảm bại nơi xứ người, cũng là tất yếu của vòng tròn lịch sử. Trong chu trình khép kín ấy, nhà văn vừa khẩn thiết vừa nhẩn nha trình bày nó ra trên trang giấy cũng là góp phần tường minh lịch sử của tổ tiên.
Trong Vương triều Tiền Lý, đồng đều bốn cuốn luôn nổi lên tinh thần văn hóa hộ quốc. Văn hóa ở đây không chỉ dài rộng vươn xa mà còn sâu thẳm từ thượng cổ, từ những lễ hội dân gian nơi thôn cùng xóm vắng tới nghi lễ quốc gia, nghi vệ triều đình trong quốc điện Vạn Xuân. Một đất nước, một quốc gia với nền quốc thống dày vững không thể nào tách rời văn hóa. Đó là vẻ đẹp của các vị lão trượng đầu tóc bạc phơ được mời đến kinh thành tham vấn việc quân, việc nước. Đó là việc sắp xếp các tú nữ cầm dải lụa đỏ buộc lên trán mỗi tráng đinh thắng giải trong hội đua thuyền. Đó là trên sới vật từ vua chí dân đều thượng võ xe đài trước khi phân cao thấp. Đó là tinh hoa bách nghệ được xiển dương, vật chất được trọng dụng và sử dụng trùng tu quốc điện. Đó là những cuộc tha bổng tù nhân, cấp cho lương thuyền trở về cố quốc. Đó là hịch văn đánh vào quân tâm, nhân tâm để bớt đi máu xương sĩ tốt phải đổ xuống vô cớ vì binh lửa chiến tranh. Trong một xen ở Nam Đế Vạn Xuân, đến như đại thần phương Bắc khi đem vàng lụa xuống phương Nam đút lót để mưu cầu sự sinh tồn đã phải cúi đầu nhận tội cũng chính là nội lực văn hóa người phương Nam không chỉ sánh ngang bằng mà còn vượt trên phương Bắc. Dám dựng nên những chi tiết ấy, quả nhà văn đã dũng cảm và kiêu hãnh đến tận cùng.
Bộ tiểu thuyết lịch sử Vương triều Tiên Lý của nhà văn Phùng Văn Khai.
Một trong những vẻ đẹp của Vương triều Tiền Lý mà điển hình là Lý Phật Tử định quốc đã mạnh dạn khẳng định việc mở mang bờ cõi về phương Nam là một tất yếu lịch sử. Đã một khoảng thời gian dài, chúng ta dường như né tránh hoặc khuôn chừng sự thực này. Chúng ta một mặt phải đương đầu với bành trướng bá quyền từ phương Bắc, một mặt lại phải cương quyết mở mang cương vực về phương Nam. Những điều tưởng như mâu thuẫn ấy đã giằng xé và phân hóa tư tưởng của chúng ta từ rất lâu, còn kéo mãi tới hôm nay cũng là lẽ thường tình. Song, lịch sử phải là một lịch sử trọn vẹn, và trước tiên phải là một sự thực lịch sử như nó đã diễn ra. Giáp mặt với khó khăn này, ngòi bút nhà văn đã không hề né tránh. Những trang mở mang bờ cõi về phương Nam nơi đất Lâm Ấp và về phía Tây nơi đất Di Lạo đã được ngòi bút của nhà văn thẳng thắn dựng lên. Không ít lúc chúng tôi lo lắng cho nhà văn, liệu có đi quá giới hạn của mình, động chạm chính trị, xâm lấn địa tầng văn hóa, sắc tộc, tôn giáo, rồi thì dẫn đến những tranh cãi không cần thiết, thậm chí kỳ thị dân tộc, dẫn đến bị quy chụp và cô lập? Song, giống như lịch sử đã diễn ra, việc mở mang cương vực về phương Nam với quy thuận tích cực của các vùng đất đã nói lên sự cường thịnh của Vạn Xuân, tiếp đó là Đại Việt và hôm nay là Việt Nam, chính là tiến tới văn minh của loài người. Bây giờ có thể dễ dàng nói như vậy. Song, cách đây gần 1.500 năm, đâu dễ dàng nói thế? Khi đó đang là mạnh được yếu thua, quần hùng tranh bá, nên phải có tài năng như thế nào, đức độ như thế nào, sự bao dung như thế nào mới quy tụ được con người, và đất đai để thành cương vực quốc gia? Lý giải những vấn đề trên, ngòi bút của Phùng Văn Khai đã phải vượt qua biết bao gian nan trắc trở.
Văn hóa trong Vương triều Tiền Lý trước tiên chính là văn hóa chính trị đã đạt một đỉnh cao đáng khâm phục trong thời điểm lịch sử của nó. Nếu chúng ta không có tầm cao về văn hóa chính trị, không giải quyết thấu đáo các vấn đề xoay quanh văn hóa chính trị, thì chắc chắn quốc gia sẽ rối loạn, vương triều sẽ đổ gãy, muôn dân sẽ lầm than. Bài toán văn hóa chính trị là bài toán của muôn đời, đặc biệt trong ngày hôm nay, khi mọi thứ đang trở nên vô cùng phức tạp. Vấn đề văn hóa chính trị trong Vương triều Tiền Lý đã được nhà văn dốc sức khai triển trên tinh thần độc lập dân tộc. Phải đặt Tổ quốc, nhân dân lên cao hơn quyền lợi chính trị của một ông vua cụ thể, của một dòng họ cụ thể. Tập cuối bộ Vương triều Tiền Lý là Lý Phật Tử định quốc đã được triển khai và thể hiện trên tinh thần đó. Một tinh thần Vạn Xuân nhất thống, bách tính thị tộc đồng quy, xây dựng quốc phú binh cường, đủ sức mạnh vững chắc trước đại họa phương Bắc chính là căn bản duy nhất của nền quốc thống. Những cuộc vua nước Vạn Xuân thân chinh dẹp tan giặc biển khẳng định chủ quyền hải phận nơi biển đảo. Những cuộc binh tướng triều đình cố kết các thị tộc nơi biên ải dẹp tan giặc núi từ phương Bắc đều tỏ rõ một thông điệp nêu cao độc lập dân tộc, xây nền quốc thống Vạn Xuân. Vẫn còn nguyên đó quốc điện trên núi Nghĩa Lĩnh mấy nghìn năm trước triều đại Hùng Vương dựng nước và giữ nước. Vẫn còn nguyên đó các mỹ tục từ nơi núi rừng heo hút tới các vùng thung châu, hạ bạn, miền biển, miền rừng, tới phố phường kinh đô sầm uất đều vô cùng đặc sắc sinh động. Điều đó không chỉ là thách thức mà còn là niềm vui của nhà văn khi được hòa mình vào, thể hiện ra những đặc sắc ấy. Trong bộ Vương triều Tiền Lý, nhà văn đã gắng hết sức để những đặc sắc đó gần gũi, còn lại, diễn ra ngay trong ngày hôm nay, ở liền xung quanh chúng ta, như hơi thở, như miếng cơm thơm manh áo ấm thường ngày.
Bộ sách được viết liền một mạch, tổng hòa các vấn đề kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội, bản sắc dân tộc đồng loạt hiện lên, khi dồn dập nối nhau như sóng vỗ bờ, khi ẩn tàng lặng lẽ chìm khuất thẳm sâu hút hắt, thì vẫn nguyên ở đấy, một tấm lòng trung trinh với đất nước, với dân tộc, với nhân dân.
Bốn vị hoàng đế, quân vương của Vương triều Tiền Lý, các ngài ấy đều đã cống hiến đến tận cùng, tuyệt không màng danh lợi cho riêng mình. Có vị mở đầu đã cơ cực mà kết thúc càng rất đỗi bi ai. Quốc chủ Vạn Xuân Lý Bí bốn tuổi mồ côi cha, bảy tuổi mồ côi mẹ, mười mấy năm tu tập ăn chay niệm Phật, hai mấy năm bôn ba nếm mật nằm gai, lên ngôi quốc chủ vẫn dép cỏ áo nâu vào chùa dâng hương niệm Phật. Đặc biệt, giây phút cuối đời ngài là một khung cảnh khiến người đời rơi lệ. Triệu Việt Vương – tùy tướng của ngài vâng di mệnh đánh giặc phục quốc suốt nhiều năm ròng không một phút giây nào lơ là việc quân việc nước. Triệu Việt Vương không chỉ vâng mệnh quốc chủ Lý Bí đòi lại quốc thống cho Vạn Xuân, mà còn được nhị thánh Chử Đồng Tử – Tiên Dung ban cho móng rồng cũng là các tiên thánh phương nam giao trọng trách việc khơi nguồn độc lập. Triệu Việt Vương thân làm tướng soái, tay dẫn trọng binh, bên ngoài là thánh tướng cổ kim hiếm có, bên trong là quốc vương đầy ứ khuất khúc triều chính, càng là thách thức ngòi bút nhà văn. Không phải vô cớ mà nhà văn phải để cho Triệu Vương xuống tóc. Viết tới những dòng đó, hẳn ông đã nhiều đêm nhỏ máu mắt, nén nỗi đau đớn bi ai để việc nước vẹn toàn.
Trong các vị hoàng đế, quân vương, dường như chỉ có Lý Đào Lang Vương được đôi phần nhẹ nhõm. Vốn là anh ruột của Nam Việt Đế Vạn Xuân tức quốc chủ Lý Bí, Lý Đào Lang Vương đã phải thân hành mở một cõi khác – một nước khác – nước Đào Lang nơi núi rừng heo hút và từng bước mở mang bờ cõi, thống thuộc Ái Châu, Hàm Hoan, Cửu Đức và các huyện phía tây Di Lạo, phía nam Lâm Ấp. Quả thực, ngài là một bậc đại anh hùng, huân công rực rỡ, văn võ kiêm thông. Chỉ riêng việc khuất phục các bộ tộc phía tây, xây chùa dựng tháp, khai mở giao thương, trấn trị cướp biển đã thấy được không chỉ chí lớn ngút trời mà chính là đức độ của Lý Đào Lang Vương đều là trăm năm hiếm có. Có phải như vậy chăng, mà khi nhìn vào huân công, đức trị của ngài đã khiến Triệu Việt Vương chỉ biết than thầm mà thuận lẽ trời tìm cách trao ngôi nước Vạn Xuân về cho dòng họ Lý. Lý Đào Lang Vương là một ca khác biệt, cũng là một vùng đất lớn để nhà văn vẫy vùng từ những biên chép sơ sài ở phần Ngoại kỷ trong Đại Việt sử ký toàn thư.
Lý Thiên Bảo xuất hiện trong Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ở phần Ngoại kỷ rất khiêm tốn. Khi soạn Kỷ Triệu Việt Vương, các nhà soạn sử đã nêu thêm, xét sử cũ không chép Triệu Việt Vương và Đào Lang Vương, nay nhặt trong dã sử và các sách khác, bắt đầu chép vị hiệu của vương và phụ chép Đào Lang Vương để bổ sung: “Anh của Nam Đế là [Lý] Thiên Bảo, ở đất người Di Lạo, xưng là Đào Lang Vương, lập nước gọi là nước Dã Năng. Trước đó, khi Nam Đế tránh ở động Khuất Lão, Thiên Bảo cùng với tướng người cùng họ là Lý Phật Tử đem 3 vạn người vào Cửu Chân. Trần Bá Tiên đuổi theo đánh, Thiên Bảo bị thua, bèn thu nhặt quân còn sót được vạn người chạy sang đất người Di Lạo ở Ai Lao, thấy động Dã Năng ở đầu nguồn Đào Giang, đất phẳng rộng màu mỡ có thể ở được, mới đắp thành để ở, nhân tên đất ấy mà đặt quốc hiệu. Đến bấy giờ quân chúng tôn làm chúa, xưng là Đào Lang Vương. Ất Hợi, năm thứ 8 [555], (Lương Kính Đế Phương Trí, Thiệu Thái năm thứ nhất), Đào Lang Vương mất ở nước Dã Năng, không có con nối, quân chúng suy tôn Lý Phật Tử lên nối ngôi, thống lĩnh quân chúng (Đại Việt sử ký toàn thư – Ngoại kỷ – Quyển IV)”.
——————-
![Lời bạt thứ nhất về bộ tiểu thuyết vương triều Tiền Lý [kỳ II] - Tác giả: Nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn và nhóm bằng hữu Viện Nhân học Văn hóa Lời bạt thứ nhất về bộ tiểu thuyết vương triều Tiền Lý [kỳ II] - Tác giả: Nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn và nhóm bằng hữu Viện Nhân học Văn hóa](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2025/01/Bo-tieu-thuyet-lich-su-Vuong-trieu-Tien-Ly-cua-nha-van-Phung-Van-Khai-1-min-1068x1640.jpg)



















