Chùm tản văn về ký ức Hà Nội của Đỗ Phấn

Đỗ Phấn là một họa sĩ thành danh của thế hệ các họa sĩ U 50, sinh sống ở Hà Nội. Ông cũng là nhà văn của gần ba chục cuốn tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn. Ông đã được trao tặng Giải thưởng văn học của Hội Nhà văn Hà Nội năm 2014, với tiểu thuyết Dằng dặc triền sông mưa. Phần lớn sáng tác của ông là cuộc sống, văn hóa, con người Hà Nội, đặc biệt là nét riêng Hà Nội trong mảng tản văn. Trong xu thế của xã hội công nghiệp, nhiều thể loại văn học viết ngắn được quan tâm, cùng với trào lưu tiểu thuyết tư liệu, hồi ký, tự chuyện… ra đời nhiều hơn trong những thập niên gần đây. Xin giới thiệu chùm tản văn về ký ức Hà Nội của ông.

Leng keng tàu điện

Tiếng còi xe, tiếng động cơ, tiếng loa phường, tiếng máy khoan bê-tông, tiếng người, chẳng rõ ra chuyện trò tâm sự hay tranh cãi. Tất cả hòa vào làm một. Tất cả làm nên một sáng thứ bảy ồn ào Hà Nội từ mấy chục năm rồi. Người Hà Nội cũng từ lâu tập cho mình lối thẩm âm hờ hững bâng quơ mới có thể bình tĩnh mà đi trên phố. Người Hà Nội cũng từ rất lâu rồi bỏ được thói quen ông ổng gọi nhau trên đường. Chẳng phải vì truyền thống thanh lịch mà bỏ. Chẳng qua là người ta đã bỏ ngoài tai tất cả mọi ồn ã phố phường. Kể cả cái tên mình.

Leng keng tàu điệnLeng keng tàu điện

Sớm nay, loa phường chưa kịp mở. Ngày nghỉ, phố cũng vắng tiếng còi xe huyên náo. Ngõ nhỏ bỗng vang lên một âm thanh nhịp nhàng tinh nghịch. Tiếng kẻng gọi người đổ rác của cô công nhân môi trường trẻ tuổi. Cô ấy mới đến làm thay người công nhân già nghỉ hưu. Thật lạ là đã từng có nhiều lần thay đổi như vậy nhưng chưa bao giờ những người công nhân có cách gõ kẻng giống nhau. Có lẽ trên đất nước mình chỉ còn lại duy nhất tiếng kẻng đổ rác là không có quy định gì cụ thể. Nó nằm bên ngoài tất cả các hiệu lệnh. Tự do vô cùng…

Tiếng kẻng vô tình giống y hệt tiếng chuông leng keng tàu điện ngày xưa. Thấm thoắt cũng hai chục năm rồi. Kể từ ngày những mét đường ray tàu điện cuối cùng trên phố được dỡ bỏ sau khi đã tồn tại vừa đủ trăm năm. Không ngờ cái giới hạn sinh tử của con người “trăm tuổi” lại áp dụng cả cho tàu điện? Và cũng thật lạ là tàu điện chạy suốt trăm năm Hà Nội mà không hề có một thay đổi gì đáng kể về cấu tạo và hình dáng. Vẫn cần tà-vẹt uốn cong tì lên dây điện trên cao. Vẫn hộp số mười một tốc độ được gạt tay quay bằng đồng vàng mòn nhẵn. Mỗi khi đến ga cuối cùng, người lái tàu rút tay quay mang theo như chiếc chìa khóa khổng lồ. Một chiếc vô lăng phanh cơ giới bằng gang nặng trịch. Trẻ con phải đu cả người lên mà quay độ hơn hai mươi vòng thì tàu dừng bánh. Và núm chuông như nửa quả bưởi gồ lên dưới chân người lái. Cái chuông duy nhất trên đời được “bấm” bằng chân.

Những người lái tàu thường rất vui tính. Họ cho phép trẻ con thoải mái  làm những thao tác trên bàn lái dưới sự kiểm soát của họ. Nhưng đặc biệt không bao giờ cho đạp vào chuông. Và trẻ con thì nhớ tiếng chuông của từng bác lái tàu. Đứng trong Bách hóa tổng hợp Tràng Tiền nghe tiếng chuông tàu điện trên phố Hàng Bài cũng có thể nhận ra tàu bác Thái, bác Liêu, chú Hùng…

Sáu tuyến đường xe điện Chợ Mơ, Bệnh viện Bạch Mai, Hà Đông, Cầu Giấy, Yên Phụ, Thụy Khuê đều tập kết về ga chính Bờ Hồ Hoàn Kiếm. Cạnh nhà Thủy Tạ bây giờ. Những năm chiến tranh phá hoại, xe điện là phương tiện giao thông chủ yếu của lũ trẻ đi học ở những trường ven nội theo diện sơ tán không chính thức. Và một số đứa tiếp tục học lên đến bậc đại học ở các trường Sư phạm, Giao thông, Ngoại ngữ, Thủy lợi, Tổng hợp, vẫn dùng xe điện là phương tiện đi về cho đến tận những năm tám mươi. Xe điện chạy tốc độ chậm, trẻ con đi học độ nửa năm là nhảy tàu thành thạo. Muộn giờ học, có thể đứng chờ ở những khúc quanh mà lên tàu dễ dàng. Nhảy xuống nguy hiểm và phức tạp hơn. Đám trộm móc túi trên tàu có kĩ thuật “bổ cắm” rất điêu luyện. Tàu chạy tốc độ nào cũng có thể quay lưng lại hướng chạy mà nhảy cắm chân xuống đất “một chạm” im phăng phắc. Chưa từng thấy ở đâu, kể cả trên phim ảnh…

Thành phố chợt rùng mình thay da đổi thịt bắt đầu từ những năm đổi mới. Như một người vạm vỡ vươn mình đứng dậy rũ tung những phù sa trầm tích vấn vương. Xe điện là lựa chọn đầu tiên cho việc xóa bỏ. Chẳng thể duy trì một phương tiện giao thông chậm chạp và chiếm nhiều diện tích phố phường đến thế. Một nét đẹp chưa kịp thành cổ xưa đã bị phá đi không thương tiếc. Mới hay cái đẹp chả bao giờ quan trọng bằng những thứ khác. Những chiếc cột sắt tán đinh ấm áp bàn tay người thợ Phố Lò Rèn dùng để mắc dây cho xe điện chạy đã đem bán sắt vụn. Đó là những chiếc cột có tạo hình thẩm mĩ kì công vĩnh viễn không còn cơ hội làm lại. Tìm một bác thợ tán đinh ri-vê bây giờ còn khó hơn tìm một nghìn chiếc cột điện bằng bê-tông!

Hình như mọi đổi thay trên con người đều bắt đầu từ diện mạo. Lâu ngày gặp nhau người ta thường khách sáo khen nhau khỏe mạnh, trẻ ra. Sự thực luôn luôn ngược lại. Bởi nếu sự thật là như vậy thì cũng chả cần ai khen làm gì? Cái diện mạo của tuổi xế chiều thường được chăm chút theo tiêu chí của tuổi trẻ. Nhuộm tóc, bơm môi, căng da mặt, xóa tàn nhang đều là nhắm đến cái đích thẩm mĩ trong quá khứ.

Thành phố không phải là con người. Dù có đến hơn sáu triệu dân. Nó vẫn phải phục vụ những cơn dậy thì đỏng đảnh phi lí nhất của con người. Những di tích kiến trúc thuộc địa ôn hòa thân thiện nhanh chóng nhường chỗ cho nền kiến trúc tối thiểu công năng. Người thành phố hãnh diện khi được nhà nước phân phối cho một căn hộ tập thể xây theo lối chuồng trại lắp ghép bê-tông tấm lớn. Bây giờ vẫn còn tồn tại ở những khu Bách Khoa, Văn Chương, Trung Tự, Trương Định… Nhưng niềm hãnh diện của dân ở đấy xem ra đã có phần suy yếu. Mỗi lần có người người chết phải cưa cửa sổ để đưa quan tài vào, ra. Và nhiều cư dân sống lâu trong những căn nhà hộp đầy ức chế ấy bị chứng bệnh gọi là “leng keng tàu điện”. Chưa hẳn là điên nhưng cứ hâm hấp lăn tăn thế nào?

Mọi thứ được người ta xóa bỏ hình ảnh không thương tiếc. Nhỏ thì như vài biệt thự, nhà hát, quảng trường. Lớn hơn nữa là vài dãy phố, mấy hồ nước, dăm ba ngôi chợ. Dĩ nhiên là xóa bỏ những nhà máy xí ngiệp trong nội thành từ thời coi công nghiệp là then chốt. Nơi giai cấp công nhân chứng tỏ vị trí tiên phong của mình? Nghe nói đến cả cây cầu Long Biên cũng có kế hoạch tháo dỡ đường sắt. Và kinh hơn nữa là một Nhà Hà Nội học còn cho rằng tháo đường sắt ở cầu Long Biên ra cũng chẳng ảnh hưởng gì đến văn hóa Hà Nội? Cái chức danh Nhà Hà Nội học hình như cũng chỉ nói lên chuyện ham học thì phải?

Một di tích bị xóa bỏ đáng tiếc nhất phải kể đến là Nhà tù Hỏa Lò. Đó không những là một công trình kiến trúc độc đáo nhất trên toàn cõi Đông Dương mà còn là một di tích cách mạng quan trọng vào bậc nhất.

Lần đầu tiên con người ở xứ thuộc địa Đông Dương biết thế nào là hình dáng và công dụng của một cái nhà tù. Ấn tượng của người Hà Nội về nó là không cần diễn giải. Sợ! Nó im lìm đứng đầy dọa nạt. Nó làm cho nỗi sợ hãi thực sự trở thành một giá trị? Tòa nhà chót vót Hà Nội tower thay vào đó chẳng bao giờ gây nổi một ấn tượng tương tự.

Đáng ra Nhà tù Hỏa Lò nên trở thành một bảo tàng của Hà Nội. Nhiều người đã góp ý cho thành phố nên giữ lại bốn bức tường đá ấy. Ít nhất thì cũng không đến nỗi bảo tàng mang tên Hà Nội lại nằm trên đất Hà Tây bây giờ? Nhưng nhịp sống mới Hà Nội ồn ào quá thể. Người ta thậm chí gọi đến tên mình ngoài kia cũng chẳng thể nghe thấy gì? Những góp ý nhẹ nhàng thanh lịch theo kiểu người Hà Nội thường không có kết quả. Mới hay đức tính tốt đẹp ấy cũng có mặt trái của nó. Một mặt trái kém kiên quyết đã làm nên diện mạo thành phố xô bồ như hôm nay?

Tàu điện vắng mặt đã hai mươi năm. Những người “leng keng tàu điện” cũng không còn thấy nữa. Một số đã khỏi bệnh. Số còn lại chuyển hẳn sang Trâu Quỳ sinh sống. Câu thành ngữ ấy cũng gần như vắng mặt trong ngôn ngữ phố phường. Thế nhưng dư âm của tiếng chuông leng keng tàu điện hình như vẫn còn vang vọng trong tâm thức của những người thành phố trạc năm sáu mươi tuổi bây giờ. Cùng với nó là hình ảnh thanh bình của một Hà Nội vài mươi năm trước cũng chợt hiện lên vời vợi nhớ thương…

Tháng 12-2009

 

Mảnh sân nhà tập thể

Dĩ nhiên là khái niệm tập thể mới sinh ra từ sau hòa bình 1954 trên miền Bắc. Khái niệm nhà tập thể hình thành ở Hà Nội khi những biệt thự cũ vắng chủ hoặc chủ cũ hiến cho nhà nước được phân chia cho cán bộ công nhân viên chức. Rất nhanh chóng sau đó chỉ vài năm là các khu tập thể Kim Liên, Nguyễn Công trứ ra đời. Mô hình này còn được nhân rộng ra ào ạt vào thập kỉ ‘70 với các khu Trương Định, Trung Tự, Văn Chương, Thành Công, Giảng Võ…

Mảnh sân nhà tập thểMảnh sân nhà tập thể

Những nhà tập thể đầu tiên ở phố không có thiết kế cho nhiều gia đình sinh sống. Người thuê thường chỉ được sử dụng phần diện tích trong căn buồng của mình. Tất cả những diện tích khác từ hành lang, cầu thang, khu vệ sinh, nhà tắm, bếp đun và mảnh sân đều là của tập thể. Những ngôi nhà kết cấu hiện đại hơn còn có cả sân thượng cũng nằm trong danh sách diện tích tập thể.

Làm thế nào để sử dụng chung một mảnh sân nhà tập thể là chuyện phải bàn bạc thống nhất khá lâu ở tổ dân phố. Trong một khối phố có nhiều tổ dân phố và cũng nhiều nhà ở tập thể theo cách được phân chia như vậy. Người ta sẽ họp bàn để đi đến thống nhất tuyệt đối phải tôn trọng những diện tích tập thể. Đại khái sân chung có bể nước rửa rau vo gạo chỉ được sử dụng khi có việc cơm nước bát đũa. Chuẩn bị bữa ăn xong phải tự mang vào bếp chung hoặc về nhà mình nấu nướng. Ăn xong mang bát ra rửa, dồn cơm canh thừa vào vại nước gạo tập thể. Cái vại nước gạo thần thánh ấy hàng ngày có người đến lấy mang về nuôi lợn. Cuối tháng người xin nước gạo lại mang đến vài chiếc chổi quét sân kể như trao đổi hàng hóa. Những cái chổi ấy cũng chỉ dùng để quét mảnh sân chung và công trình vệ sinh. Không ai được phép mang nó về nhà mình. Mảnh sân thượng nếu có sẽ là cái sân phơi tập thể. Tài sản của mỗi gia đình trên ấy chỉ là một sợi dây thép tự chăng. Quần áo phải phơi đúng dây nhà mình nếu như không muốn bị rút nhầm.

Một ngôi nhà tập thể như thế không tránh khỏi những lúc có cỗ bàn. Người ta nhường nhau chỗ ngồi làm cỗ một cách tự giác. Gia đình có cỗ bàn cũng nhanh chóng thu dọn trả lại mảnh sân cho tập thể khi đã xong việc. Sống với nhau độ chục năm sau thì cả khu nhà thuộc lòng lịch giỗ chạp của nhau. Họ biết trước như thế và chuẩn bị cơm nước nhà mình từ sớm để nhường chỗ cho gia đình có việc.

Mảnh sân chung còn là nơi giặt giũ quần áo. Đôi khi cánh đàn ông và trẻ con còn có thể đứng tắm ở đấy. Buồng tắm thường nhường cho đàn bà. Đàn ông và trẻ con chỉ dùng nó để thay quần áo khi tắm xong. Đàn bà ngày ấy lúc tắm thường hay hát. Không những chỉ để khán giả bên ngoài nghe mà còn có thể kéo dài thời gian thư giãn trong nhà tắm. Tuy nhiên nhiều chị lợi dụng việc này để hát những bài dài cỡ như “Trước ngày hội bắn” (Trịnh Quý). Và còn giả cả giọng đàn ông trong ấy khiến cho hàng xóm không nỡ nào giục giã. Hát tình ca thế thôi nhưng trai gái ở phố hiếm khi thành thân với người ở cùng số nhà tập thể. Ít ra thì việc “Môn đăng hộ đối” ở nhà tập thể là không tìm đâu ra được. Người ở mặt phố chắc chắn có địa vị xã hội hoặc giàu có hơn những người ở trong. Nhưng hơn hết nếu có thành thân thì sẽ phải bỏ qua giai đoạn “tìm hiểu” khi đã quá hiểu về nhau. Mà giai đoạn tìm hiểu hình như là quan trọng nhất trong mọi cuộc hôn nhân chẳng cứ gì thời bao cấp.

Cuối những năm 70 đầu 80 là thời kì bao cấp cực điểm khó khăn. Khái niệm “tập thể” hao mòn nhiều nhất trong thời gian này. Mọi thứ trước đây dùng tập thể thì nay biến thành tư nhân gần hết chẳng cứ gì mảnh sân. Dân số các nhà tập thể tăng nhanh cộng với điện nước thiếu thốn trầm trọng đã biến mảnh sân tập thể thành chỗ để thùng trữ nước. Dần dà mỗi nhà quanh sân lấn chiếm ra quây tường che kín lại thành nhà mình. Cái vại nước gạo công cộng là thứ biến mất đầu tiên. Chẳng phải vì hết chỗ mà chính là chẳng còn thấy thức ăn thừa đổ đi nữa. Người ta phải giữ ý với nhau khi có miếng ăn hơn hàng xóm. Vặt lông gà âm thầm trong nhà mình gói ghém mang vứt sọt rác. Gà luộc chín cũng dùng kéo cắt để không phát ra âm thanh dao thớt hơn người. Sợi dây phơi trên sân thượng tập thể cũng dần hết tác dụng. Mọi thứ phơi ở đấy đều có thể mất trộm kể cả sợi dây.

Những khu tập thể lớn dĩ nhiên cũng không thoát khỏi tình trạng lấn chiếm. Người tầng 1 lấn chiếm sân chung, tầng 2 trở lên lấn chiếm khoảng không xây dựng “chuồng chim” rất mạo hiểm nhếch nhác. Thật ngạc nhiên, khái niệm ở tập thể mất đi cho dù vẫn những con người ấy. Và nhà nước cũng đã bắt đầu nhìn nhận ra vấn đề không thể xây dựng những khu nhà tập thể có nhiều diện tích sử dụng chung như trước được nữa. Người ta buộc phải xây dựng những khu nhà tập thể mới với khái niệm căn hộ riêng biệt. Nghĩa là chỉ còn chung nhau cái cầu thang và hành lang đi lại mà thôi. Chẳng sao cả. Dù căn hộ riêng biệt thì cũng vẫn nằm trên mảnh đất sở hữu tập thể toàn dân.

Thế nhưng khái niệm “tập thể” sẽ tồn tại mãi mãi dù chẳng còn mảnh sân chung nào cả. Chưa thấy ai đơn ca bài hát “Bước chân trên dãy Trường Sơn” (Vũ Trọng Hối) kể cả các nghệ sĩ lớn của hai dòng nhạc chiến tranh cách mạng và bolero thời thượng.

Tháng 7-2018

Nếp nhà Hà Nội

Ngôi nhà ra đời hẳn là phải sau thời kì tiền sử “ăn lông ở lỗ”. Nhân loại thế nào thì người Việt cũng thế. Khắp trên đất nước Việt Nam đã tìm thấy rất nhiều dấu tích thời tiền sử. Cư dân hang động thời ấy còn để lại nhiều công cụ từ sơ kì đồ đá, một vài hình vẽ cho đến nay ta cũng chưa thật sự hiểu về nó. Nhưng những hiện vật củi lửa than tro trong hang cũng đủ minh chứng cho một sinh hoạt bầy đàn nguyên thủy có mặt rất sớm ở mảnh đất này. Đó là những “ngôi nhà” đầu tiên của người Việt. Những ngôi nhà có được do tìm kiếm hang động trong núi rừng. Phải nhiều nghìn năm sau người Việt mới có khái niệm xây dựng chỗ ở một cách chủ động.

Chùm tản văn về ký ức Hà Nội của Đỗ PhấnNếp nhà Hà Nội

Khá lâu rồi truyền hình có chiếu một bộ phim tài liệu do nhóm quay phim và đạo diễn người Nga làm ở núi rừng Tây Bắc. Bộ phim nói về một tộc người có tên là “Lá vàng”. Giờ thì ta có thể biết đó là một trong 56 dân tộc người Việt, dân tộc La Hủ chỉ có vài nghìn người. Bộ phim miêu tả bằng hình ảnh những con người lấy vỏ cây làm áo. Ăn côn trùng và muông thú săn bắn được. Họ làm những ngôi nhà bằng cành cây lợp lá rừng. Cư trú ở đấy cho đến khi lá lợp nhà vàng úa thì bỏ đi tìm chỗ khác sinh sống. Đó là vào khoảng thời gian nửa cuối của thế kỉ XX. Điều làm ta ngạc nhiên nhất chính là dân tộc ấy đã không hề chọn một phương thức sống nào khác kể từ sau thời tiền sử.

Cũng chính trong thời kì này thì những ngôi nhà ở Hà Nội đã có những thay đổi mạnh mẽ ngay từ đầu thế kỉ XX. Kiến trúc cổ truyền ở khu 36 phố phường đan xen với kiến trúc thuộc địa mang từ Pháp sang. Những ngói nâu tường trắng thấp tầng của nhà ống khu phố cổ đã bị coi là lạc hậu. Thay vào đó là kiến trúc nhà tầng lợp ngói tây và mái bê tông với những tiện nghi hoàn toàn khác biệt. Nhà cổ hình ống có mảnh sân trong làm giếng giời lấy ánh nắng. Bố trí mặt bằng vẫn theo thứ tự ngoài mặt phố là phòng khách, tiếp đến là gian thờ. Bên trong là hiên trà ngắm ra mảnh sân giời bày cây cảnh, cá vàng. Sau sân giời mới đến các phòng ngủ. Cuối cùng là bếp và hố xí thùng. Những nhà sâu có hai mặt phố trước và sau sinh hoạt còn đỡ khổ. Những nhà nông choèn một mặt phố dĩ nhiên nửa đêm phu đổ thùng gọi cửa. Những kiến trúc Tây đan xen trong khu phố này thực chất chỉ khác hình dáng mặt tiền và vật liệu xây dựng mà thôi. Mọi sinh hoạt vẫn y như phố cổ.

Khu phố Tây từ đầu Bà Triệu trở xuống đất đai rộng rãi hơn. Nếu không xây biệt thự thì ít nhất mỗi nhà đều có con ngõ nhỏ bên hông dành cho người ăn kẻ ở đi lại. Và dĩ nhiên đám phu đổ thùng ban đêm.

Khi đã gọi là “nếp nhà” thì phần lớn dân phố đã hiểu nó bằng nghĩa bóng nhiều hơn. Người ta không còn hiểu như cũ là những nếp nhà cụ thể vật chất “Đường lên Tây Bắc xa xôi/ Nếp nhà sàn thấp thoáng…” (Đường lên Tây Bắc – Văn An). Những nếp nhà Hà Nội có sinh hoạt khá khác nhau giữa khu phố cổ và phố Tây. Khu phố cổ làm ăn buôn bán nhỏ lẻ thường ngủ muộn hơn. Ăn uống phần lớn tự nấu lấy mà ít khi ra hàng ra hiệu. Cỗ bàn giỗ chạp thường khá linh đình mời mọc. Nghỉ tết kéo dài đến hết rằm tháng giêng. Phong tục tập quán gìn giữ có phần quyết liệt như một nguyên tắc sống. Âm lịch được các bà các cô trong nhà nhớ nằm lòng mà chẳng cần đến một quyển lịch nào cả. Khu phố Tây phần lớn là công chức cả cũ và mới lại có nếp sinh hoạt khác. Họ bạn bè quan hệ với nhiều người ở những khu phố khác. Phở sáng, cà phê sáng và rạp chiếu phim là nơi họ thường lui tới hàng ngày. Cỗ bàn tết nhất cũng đơn giản mời mọc khách khứa. Hẹn hò nhau phần lớn dùng dương lịch và giờ giấc cụ thể. Lối sống công chức giờ giấc có từ thời Pháp thuộc đã kịp thời ngấm vào và hình thành ra cách sinh hoạt này.

Thế nhưng cả hai lối sống cũng chỉ tồn tại được đến khoảng 1965. Khi máy bay Mỹ bắt đầu đánh phá miền Bắc. Khi chế độ cung cấp của nhà nước bắt đầu chệch choạc thiếu thốn thì mọi sinh hoạt của dân phố gần như giống nhau hoàn toàn. Cái “nếp nhà” hay đúng hơn là nề nếp mỗi gia đình cũng tự nhiên phiên phiến và dần mất đi. Nhà cửa chật chội, vài bà vợ loi choi ra ngồi đế chuyện với khách của chồng không còn là quá lạ. Thứ không thể nhìn thấy ở phố trước đây kể cả gia đình công chức và buôn bán. Lũ trẻ cũng không lễ phép chào hỏi người lớn ngoài đường nữa bởi được giáo dục lối ứng xử “3 không”. “Không biết, không nghe, không thấy” là phong trào dạy cho trẻ con cách phòng chống gián điệp đi dò la tin tức ngày ấy. Cỗ bàn tết nhất nấu theo tiêu chuẩn được cung cấp nên rất khó nghĩ khi có ai đó mời đến nhà ăn bữa cơm. Những món ăn chế biến cầu kì tinh xảo cũng vì thế mà biến mất. Thay vào đó là những phát minh ẩm thực kinh dị kiểu như bánh bẻng nắm bằng bột mì luộc lên. Hoặc nghèo hơn nữa là đi xin bã xì dầu về rang lên ăn với cơm nguội. Có con gà rù làm thịt luộc xong phải dùng kéo mà cắt cho hàng xóm đỡ chạnh lòng…

Nếp nhà Hà Nội phải có một ngày nào đó quay lại. Cái nhốn nháo lúc này là hệ quả của vài mươi năm chiến tranh bao cấp. Giờ thì nó chẳng còn lí do gì để tiếp tục như thế nữa.

Tháng 10-2018

 ĐỖ PHẤN

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây