Vansudia.netluôn đồng hành cùng bạn đọc trên các lĩnh vực Văn học, Lịch sử, Địa lý và mở rộng ra trên các lĩnh vực liên quan đến Triết học, Văn hóa, Vật lý, Thiên văn, phần nào đã đáp ứng được nhu cầu đa dạng, đa chiều của bạn đọc ủng hộ và động viên.
Nhà thơ Hải Thanh tên khai sinh là Bùi Xuân Thanh, sinh năm 1970, quê xã Nghĩa Hưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã xuất bản các tập thơ: Bến trăng (NXB Thanh niên, 1994); Bến thu xưa (NXB Thanh niên, 1998); Tự thanh (NXB Hội Nhà văn, 2005); Con đường không có vết chân (NXB Hội Nhà văn, 2006); Thượng huyền (NXB Văn học, 2009); Tự thanh II (NXB Văn học, 2012); Tự thanh III (NXB Quân đội nhân dân, 2017) và các tập tản văn đã để lại dấu ấn sâu sắc với bạn đọc. Ông vừa xuất bản tập thơ: Tự thanh IV (NXB Hội Nhà văn, 2023) với lời đề từ: “Từ thuở nhỏ, tôi đã thầm mơ ước lớn lên làm nhà văn, để được viết những gì đẹp nhất về cuộc sống, về con người. Ấu thơ tôi làm sao biết được đó là một nghề nhọc nhằn, và theo chữ của cổ nhân là “lập thân tối hạ”. Nhưng đã mang lấy nghiệp, tôi cứ chuyên cần khai khẩn lối đi. Và trước những cô đơn đầy ắp, tôi đã viết. Viết là một nhu cầu tự thân.
Hầu như tất cả nỗi niềm đầy vơi, ấm lạnh trong cuộc đời đều làm tôi trăn trở. Nhưng tôi nghĩ chậm và viết chậm, trong khi cái mới, cái hay luôn thôi thúc mỗi ngày.
Suốt năm tháng dài, tôi cũng chỉ quẩn quanh ở làng. Trong không gian nhỏ hẹp ấy, tôi luôn tự nhủ: Đi đến tận cùng của làng này sẽ bước sang làng khác”.
Trời cao mỏi mắt Cánh chim xa vời Ơ kìa hạt thóc Ai người đánh rơi
Tay tự cầm tay Thấy đời biến mất.
Nỗi niềm hạt thóc
Thẳng tắp đời tôi là những đường cày Những tươi tốt bắt đầu từ hạt giống Vầng trăng vàng như mộng Cứ sau rằm lại giăng bóng tròn sân
Nghe gió ngoài đêm Hứa hẹn những chiêm mùa Di-lặc Sao vẫn nhiều ẩn ức Nối dài day dứt cha ông
Dáng mẹ giữa đồng Chòng chành nón lá Một nắng hai sương Nỗi lành rau má Mây trắng đưa nôi Hoa cải về trời
Đàn bà làng tôi Nhàu như câu chuyện cũ Những nỗi niềm chưa rõ họ tên Gửi vào lời ru đỡ lạnh “Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”
Tai trời ách giặc triền miên Máu xương khôn xiết kể Lại về nương bóng mẹ “Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”
Ai người nuôi cái nuôi con Vá víu mùa màng Dây bầu dây bí Mẹ và chị chuyền tay nhau dảnh mạ Bao khấn trời chưa vẫn mong manh
Lấp loá tháng ngày xanh Những người đàn bà của làng khăn gói ra đi Vội vàng như trốn vã Sau buốt giá Những đồng tiền sấp ngửa Có những đứa con mang họ mẹ Những xa xôi không hẹn ngày về
Chiều nay ai hát thương quê Cho lòng người cả gió Đây vơi chất chứa Lại thêm phập phồng
Ánh mắt xa xăm hướng về phía cánh đồng Câu hạt thóc vẫn bời bời mưa nắng.
Ký họa chân dung nhà thơ Hải Thanh của Công Quốc Hà.
Chiều chậm
1. Làng vẫn cũ, người vẫn xưa Mấy ai gọi, mấy ai thưa Còn trong ẩn ức đây mưa gió Chiều chậm Khói nhoè sau luỹ tre.
2. Có điều cũ làm ta yên tâm Có điều mới làm ta xao động Ở ngoài tầm súng đạn Có khi là chiến tranh.
3. Niềm vui lớn lên Nỗi buồn không bé lại.
Nhà thơ Hải Thanh (bìa phải) và nhà văn Phùng Văn Khai.
Ký ức ga Hương Canh
Gom tất cả tin yêu Tôi xanh mướt như triền đê cỏ dại Hoa cũng nở tưng bừng trên phố mới Nụ môi ai đã chạm đến môi cười
Nhà máy dập dìu, sông Cánh còn tươi Đất Hương Canh mùa này như thiếu nước Những lò gốm từ lâu thôi rạo rực Bước người đi xa lắc đã ai về?
Trên chuyến tàu thế kỷ cuối rặng tre Ga Hương Canh vẫn là ga thuở trước Lấp loá những con đường thân thuộc Có ai buồn mua vại giữa đêm mưa?
Hàng cây cũ vẫn gieo vào đất xưa Những lá vàng, gió sương không tính tuổi Không biết sau những chân cầu tươi mới Có bao người đã thổn thức vì nhau
Hương Canh ga xép Tiếng còi tàu khảm sâu trong ký ức Những mùa tân binh hừng hực Những lần ai đón đưa ai… Muối mặn gừng cay Nước mắt ngắn, nụ hôn dài…
Hương Canh Tĩnh lặng chiều nay Tiếng còi tàu làm giật mình con phố Cuộc sống đi lên Hương Canh hối hả Những con tàu lại đến, rồi lại đi, muôn ngả Ga vẫn êm ắng một niềm tin Như giọt nắng bên thềm.
Nhà thơ Hải Thanh (bìa phải) và nhà văn Phùng Văn Khai.
Hoang hoảng Đường Lâm
Ngây ngấy xứ Đoài Mang mang mây trắng Hồn ai về xuôi Bóng nước đổ dài
Mẹ kính yêu ơi, Thế thời muôn mặt đổi thay Mẹ vẫn “muôn năm cũ” Mẹ chỉ còn trong nỗi buồn, nỗi nhớ, nỗi xa thương
Dáng hình của mẹ dâm dãi cành cong Gió mưa còn lưu lại Mẹ hoá vào làng nước Một tên chung
Đấu cật chung lưng Những người đàn ông dựng nhà, đàn bà xây tổ Đất nước Bao làng xóm sinh ra trong khói lửa Sao giờ chỉ có một Đường Lâm
Tên làng đã mấy trăm năm Hoặc lâu hơn thế Cái cây mọc lên, con chim có tổ Ngôi chùa mọc lên, phật có nơi nương tựa Con đường dày thêm những số phận người
Chẳng biết cây đa đã và đang nói những gì với những bức tường đá ong bạc màu nắng gió? Những cái cổng hình quai giỏ, cảm giác như hằn sâu những vảy cá, vảy rồng, để bước chân người ngập ngừng, tư lự với hàng gạch lát nghiêng? Màu thổ hoàng từng bị lãng quên, chợt rực lên sau trận mưa rào. Những dáng người liêu xiêu ào ào ra bắt cá… Cá gì cá ở Đường Lâm? “Một ấp hai vua” vẫn còn đọng câu gì gửi nơi Chùa Mía? Ai lẩy Kiều riêng nỗi xứ Đoài mây: – Dở hay muôn sự tại người Đi đâu vẫn dưới một trời nắng mưa.
Chẳng ai sống không ăn Chẳng ai ăn không muốn sống Trời cao đất rộng Ai đấy yêu em là việc của đời thường
Ở ngoài kia vẫn còn ánh sáng Ngôi nhà trong bóng tối chui ra Con đường có hoa thơm và nắng ngọt Yêu cây này, trái khác ngừng hương Cả thế gian vẫn cồn cào như biển Lấp sóng này, sóng khác lại dày thêm
Em ơi, chúng ta có khi nào dừng lại nghĩ Bài toán đất đai là dấu hỏi của muôn đời.