Vansudia.netluôn đồng hành cùng bạn đọc trên các lĩnh vực Văn học, Lịch sử, Địa lý và mở rộng ra trên các lĩnh vực liên quan đến Triết học, Văn hóa, Vật lý, Thiên văn, phần nào đã đáp ứng được nhu cầu đa dạng, đa chiều của bạn đọc ủng hộ và động viên.
Lời người dịch: Khi dịch thơ Danh nhân văn hóa lịch sử Phùng Khắc Khoan đến kỳ thứ bảy này, tôi dường như càng ngộ ra chí hướng và khát vọng đem hết sở học, tài hoa của mình của đức Trạng Bùng đều là hướng đến phục vụ đất nước và nhân dân. Mỗi lời thơ, điển tích được quan Trạng trích dẫn, đề cập đến, đều là những tấm gương, những dấu mốc lịch sử được soi rọi qua lăng kính của người trí thức trước thời cuộc. Chính bởi vậy, tôi đã dịch trên tinh thần tâm can chí hướng và nhất là phương lược hành xử của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan trong hành trình giúp vua, giúp nước của mình.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai tại văn phòng làm việc.
Bách niên tam vạn lục thiên nhật, Nhất nhật trùng phân thập nhị thì. Nhân sự thiên thời tương vãng phục, Tang điền thương hải kỷ suy di. Thánh hiền thù tạc tam bôi tửu, Kim cổ doanh thâu nhất cục kỳ. Đản đắc công danh thùy vĩnh cửu, Sở sinh bất thiểm thị nam nhi.
Dịch nghĩa:
GIẢI BUỒN (NĂM BÀI)
BÀI MỘT
Đời người một trăm năm có ba vạn sáu ngàn ngày, Mỗi một ngày lại chia ra mười hai thời(1 ). Nhân sự, thiên thời đắp đổi nhau qua lại, Ruộng dâu bãi bể(2 ) bao phen lở xuống bồi lên. Thánh hiền ứng đối với nhau như thù tạc vài chén rượu, Xưa nay cuộc tranh giành được thua chỉ như một cuộc cờ. Chỉ ai lập được công danh, có tiếng lưu truyền vĩnh viễn, Không để cha mẹ phải thẹn, thế mới xứng là nam nhi.
Dịch thơ:
KHIỂN MUỘN
BÀI MỘT
Đời người có đến trăm năm Ngày chia thời thức siêng năng mới là Nổi chìm bồi đắp lại qua Nương dâu bãi bể la đà sớm hôm Thánh hiền bầu rượu càn khôn Cuộc cờ thua được gió dồn sương mai Thân trai cho đáng thân trai Huân công sáng lập gươm mài sử xanh.
Phùng Văn Khai dịch
————- (1 ) Xưa chia thời gian trong ngày làm 12 thì, mỗi thì bằng khoảng 120 phút. (2 ) Ruộng dâu bãi bể: ý chỉ chuyện thế sự chuyển vần thay đổi, nay thế này mai thế khác, khó lường hết được.
Cổ lai chỉ kiến độc thư vinh, Hữu chí tu tri sự cánh thành. Y, Phó công danh thiên cổ trọng, Thạch, Vương phú quý nhất thời khinh. Nhãn khan thế sự phù vân cải, Tâm tĩnh phàm trần hạo nguyệt minh. Tôn chủ tí dân Nho sự nghiệp, Khẳng vi bạch diện nhất thư sinh.
Dịch nghĩa:
BÀI HAI
Xưa nay chỉ thấy người có học được hiển vinh, Nên biết rằng có chí ắt sẽ làm nên sự nghiệp. Công danh của Y Doãn, Phó Duyệt(3 ) mãi mãi vẫn được coi trọng, Phú quý như Thạch Sùng, Vương Khải(4 ) chỉ là nhất thời, đáng xem khinh. Nhìn xem thế sự như đám mây trôi luôn thay hình đổi dạng(5 ), Tâm lắng hết bụi bặm, như mặt trăng sáng mãi. Tôn chúa, cứu dân là sự nghiệp của nhà Nho ta, Sao chịu làm một anh học trò bạch diện thư sinh mãi( 6).
Dịch thơ:
BÀI HAI
Xưa nay cầu học mà thành Chí cao rèn giũa thanh danh vẹn tròn Y Doãn, Phó Duyệt khơi nguồn Thạch Sùng, Vương Khải đáng buồn lắm thay Kìa xem thế sự như mây Tâm trong như mặt trăng này soi gương Phò vua sáng đức cương thường Đâu cam tâm mãi con đường thư sinh.
Phùng Văn Khaidịch
————- ( 3) Y Doãn tên là Chí, cày ở đồng Hữu Sần, sau được Thành Thang nhà Thương vời ra làm tướng đánh đuổi vua Kiệt bình trị thiên hạ. Phó Duyệt làm thợ đắp tường ở Phó Nham, sau làm tướng giúp vua Cao Tôn nhà Thương, lập nhiều công trạng. Hai người này được nhà Nho coi là tiêu biểu cho sự nghiệp tôn vua cứu dân của nhà Nho. (4 ) Thạch Sùng người đời Tấn, làm quan Thứ sử, vơ vét của cải mà thành người giàu có nhất trong nước, lại cực kỳ xa xỉ, sau bị giết. Vương Khải người đời Tấn, có tài danh, làm tướng quân, xa xỉ kiêu ngạo, thi phú quý cùng Thạch Sùng. Thạch Sùng và Vương Khải bị nhà Nho coi là những kẻ tầm thường, trọc phú vô hạnh. (5 ) Mây trôi thay hình đổi dạng: nghĩa là đám mây trôi nổi trên không, lúc hình này lúc hình khác, chỉ thế sự biến đổi vô thường. (6 ) Bạch diện thư sinh: chỉ anh học trò chỉ biết chút tri thức sách vở, chưa từng trải việc đời
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai tặng sách “Phùng Khắc Khoan hợp tuyển thơ văn” tại Huyện ủy Thường Tín (cũ).
Nhĩ mục thông minh nam tử thân, Định tri nhụ tử bất trường bần. Truyền gia vị dẫn thi thư trạch, Vi học thường kỳ trung hiếu nhân. Phi thị thế gian toàn nhạc thác, Dã ưng thiên thượng hữu kỳ lân. Trượng phu khởi dĩ cùng thông luận, Cửu khuất ưng tri tất đại thân.
Dịch nghĩa:
BÀI BA
Làm thân trai tai tinh mắt sáng, Biết rõ người thiếu niên này không nghèo khổ mãi. Truyền gia vẫn còn có thửa ruộng Thi Thư, Đi học vẫn thường mong làm người trung hiếu. Không phải thế gian đều là nhạc thác( ) cả, Vậy nên trên trời cũng có kỳ lân( ). Chớ đem cảnh cùng hay thông mà luận trượng phu, Nên biết bị co khuất dồn nén lâu ngày ắt sẽ có lúc bộc phát lớn.
Dịch thơ:
BÀI BA
Làm trai mắt sáng tai tinh Thân ta đâu mãi nổi nênh bần hàn Thi Thư truyền tựa gió ngàn Tấm lòng trung hiếu lại càng sáng soi Như chim nhạc thác bên trời Kỳ lân hiển hiện như người trượng phu Từ trong nước đọng, ao tù Chim bằng tung cánh thiên thu giữa trời.
Phùng Văn Khaidịch
————– ( 7) Nhạc thác: một loài chim phượng nhỏ, đời cổ cho rằng nó báo điềm lành, đời thịnh mới có, ở đây ý nói về người tài đức. (8 ) Kỳ lân trên trời: kỳ lân là loài thú giống con hươu, có sừng, lông trên lưng nhiều màu, chỉ xuất hiện khi đời có thánh nhân. Con kỳ lân ở trên trời ý chỉ người thiếu niên tài năng đức độ.
Hiêu nhiên ngột tọa độc thư đường, Nhất nhật phiên thành nhị nhật trường. Vô sự tức tiên na hữu thuật, An tâm thị dược cánh hà phương. Tẩy trừ tục ngoại phiến trần tĩnh, Uẩn súc hung trung vạn giáp cường. Nhược ngộ khả vi cơ hội xứ, Công thành vị tất thiểu Trương Lương.
Dịch nghĩa:
BÀI BỐN
Ngồi tự nhiên ngay ngắn im lặng trong nhà học, Một ngày dài ra tựa như hai ngày. Vô sự tức là tiên, chả có thuật tiên nào bằng, An tâm là thuốc, thật chẳng có phương thuốc nào sánh nổi. Tẩy trừ sạch từng chút bụi ngoài phàm trần để cho được tĩnh, Dồn chứa hàng vạn giáp binh trong bụng cho mạnh mẽ. Nếu gặp cơ hội có thể thi thố được, Thì thành công chưa chắc đã kém gì Trương Lương(9).
Dịch thơ:
BÀI BỐN
Nghiêm trang ngay ngắn thư phòng Ngày sang sá kể một lần hay hai Thuật tiên vô sự bên tai Tâm an, trí vững hiền tài thong dong Bụi trần sạch tấm lòng trong Giáp binh ức vạn những mong cứu đời Mai kia ắt sẽ gặp thời Công lao há kém gì nơi Tử Phòng.
Phùng Văn Khaidịch
—————– (9 ) Trương Lương tự là Tử Phòng, báo thù cho vua Hàn, Lương có nhiều mưu kế, sau giúp Hán Cao Tổ lập đế nghiệp.
Thế loạn anh hùng lạn mạn tranh, Thùy tương khả dữ thuyết Nho sinh. Tế thời thô hữu hiền nhân chí, Trạch chủ do tàm trí giả minh. Độc Khổng, Mạnh thư tiên nghĩa lợi, Tiểu Tô, Trương thuật ngoại tung hoành. Bình sinh sở học giả hà sự, Sở học tương suy sở dĩ hành.
Dịch nghĩa:
BÀI NĂM
Thời loạn anh hùng tranh nhau tán loạn, Ai có thể cùng ta nói chuyện của nhà Nho nhỉ? Giúp đời ta vốn sẵn có chí của người hiền, Chọn chúa xấu hổ nhiều vì chưa có cái sáng suốt của bậc trí giả. Đọc sách Khổng, Mạnh trước hết phân biệt nghĩa, lợi(10 ), Coi thường thuật của Tô Tần, Trương Nghi, gạt thuyết hợp tung, liên hoành ra ngoài( 11). Cái sở học của đời người rút cục là cái để làm gì? Là cái học sẽ đem ra thi thố ở đời.
Dịch thơ:
BÀI NĂM
Anh hùng tranh bá đế vương Mấy ai bàn tới con đường Nho gia Người hiền truyền chí cho ta Bôn ba chọn chúa trời xa đất gần Đạo Khổng, Mạnh, việc nghĩa nhân Chấp gì thuật pháp Tô Tần, Trương Nghi Bình sinh sở học khắc ghi Giúp đời, giúp chúa trị vì lương dân.
Phùng Văn Khaidịch
————— (10 ) Nghĩa và lợi: đó là hai nội dung quan trọng trong học thuyết Khổng-Mạnh dùng để phân biệt quân tử và tiểu nhân, vương đạo và bá đạo… (11 ) Tô Tần, Trương Nghi: tên hai nhà du thuyết thời Chiến quốc. Tô Tần chủ trương liên kết 6 nước lại chống Tần gọi là hợp tung (liên kết theo trục dọc Nam Bắc). Trương Nghi phá kế hợp tung của Tô Tần, xúi giục 6 nước đánh lẫn nhau rồi thờ nước Tần, gọi là liên hoành (liên kết theo chiều ngang Đông Tây).