Chùm thơ Phùng Trang Nhung

Chùm thơ Phùng Trang Nhung

Nhà thơ Phùng Trang Nhung.

 

 

 

SỰ TÍCH CON MUỖI

Đêm hè tiếng muỗi vo ve
Thiu thiu, anh kể em nghe chuyện đời
Trăng thanh gió mát dịu trời
Nỉ non mà ngỡ như lời ngàn xưa…

Chuyện rằng vào một đêm mưa
Có người phụ nữ vừa lìa trần gian
Anh chồng thảm thiết kêu than
Vọng vang trời đất lời oan não nùng
Ba năm vừa bén duyên cùng
Trầu cau mới thắm đã ngừng nhịp tim.
Thuốc tiên nhất định đi tìm
Gian nan đáy bể mò kim chẳng nề
Đưa nàng xuôi cõi u mê
Vững tâm cho trọn lời thề sắt son
Lênh đênh chín suối mười non
Quyết gặp ông Bụt trên hòn núi cao
Cất lời, Bụt hỏi: ” Tại sao
xả thân vì phận má đào bạc duyên?”
Nghe chàng thưa, cụ mới khuyên:
– Đoản mệnh là bởi mắc tiền kiếp xưa!
Chàng quỳ khóc lóc như mưa
Van Bụt cứu giúp, chớ lìa lứa đôi
Vuốt râu, cụ nói một hồi:
– Con đừng hối hận với lời cầu xin
Cô ta sắc vóc ưa nhìn
Sống lại,con phải chịu nghìn nỗi oan
Khuôn mặt đẹp thoảng nét gian
Cuộc đời con sẽ chỉ toàn khổ đau…
Anh khóc,cụ đành buông câu:
“Chích nhanh ba giọt máu đầu ngón tay
Nhỏ vào miệng vợ con ngay
Uyên ương đoàn tụ tới ngày răng long…
Sau này vợ có đổi lòng
Thì con đòi lại máu hồng tái sinh!”
Lạ thay, cô vợ rùng mình
Từ từ mở mắt hồi sinh tức thì
Nhờ ba giọt máu nghĩa nghì.
Anh chồng hạnh phúc ôm ghì vợ yêu…
Từ đó,trên bến “ninh kiều”
Ngân nga suối hát,sáo diều du dương
Chồng đánh cá, vợ làm nương
Đói no rau cháo càng thương yêu nhiều.
Ngắm nhìn cô vợ mĩ miều
Ngư dân đâu hiểu bao điều sắp qua
Trăm năm trong cõi ta bà
Kim tiền – đen trắng … người ta thay lòng!
Một chiều trên bến thong dong
Thương gia ghé lại . Bão dông kéo về.
Thấy người phụ nữ thôn quê
Lưng ong giặt áo mà mê mẩn hồn
Ông đem vàng bạc cầu hôn
Lụa là gấm vóc, dầu thơm tặng nàng.
Anh ngư dân thật bẽ bàng
Buông câu, rớt lưới vội vàng đuổi theo
Kéo nàng về túp lều nghèo
Nhưng cô vợ quyết đi theo sang giàu
Anh chồng bất lực đập đầu
Bao năm tình nghĩa còn đâu hỡi người?
Cô vợ nhếch mép mỉm cười
(Thuyền rồng phút chốc hơn đời thuyền nan)
Thiếp xinh, xứng hưởng bạc vàng
Chàng về đi nhé, lỡ làng từ đây!
Ngư dân như dại như ngây
Phu thê nồng thắm, đổi thay một giờ
Chôn chân đứng ngẩn trên bờ
Nhìn theo cô vợ thuyền mơ xuôi dòng
Bầu trời nhằng nhịt chớp dông
Vội vàng dứt áo sao không động lòng?
Thôi đành, chẳng nói lòng vòng
Xin nàng trả giọt máu hồng cho tôi…
Cắn tay, ba giọt huyết rơi
Cô vợ ngã vật xuống nơi mạn thuyền
Thân xác bỗng hoá đảo điên
Thành con vật nhỏ đen tuyền vo ve
Đêm ngày lùng sục hẻm,khe
Kiếm tìm hút máu hết hè lại đông.

Ai ơi! Ngẫm đó mà trông
Có vay ắt trả, ăn không sao đành
Mặc cho vôi bạc trầu xanh
Chớ như con muỗi mà thành vô ơn
Cũng đừng so sánh thiệt hơn
Tham vàng phụ ngãi, bông lơn miệng đời…
Anh kể em đã hiểu rồi
Chìm trong giấc ngủ là lời người xưa
Đêm hè trăng gió đòng đưa
Vẳng nghe tiếng cuốc như vừa sang canh./.

 

 

 

SỰ TÍCH CÂY HUYẾT DỤ

Chuyện rằng xưa rất là xưa
Từ hồi cụ kị ta chưa ra đời
Ở làng nọ có một người
Làm nghề đồ tể, cả đời mổ heo…

Vì rằng gia cảnh đói nghèo
Nên hàng ngày giết lợn,đèo đi giao
Bình minh là đã cầm dao
Ra chuồng chọc tiết đem vào phanh thây…

Chờ nghe chuông của sư thầy
Tinh mơ chuông thỉnh, dậy ngay-Đúng giờ!
Một hôm cũng thật bất ngờ
Chiêm bao,sư bỗng nằm mơ thấy là:

Một đàn con nít gào la
Một người phụ nữ thiết tha khẩn cầu
Tay dắt năm trẻ, từ đâu
Đến bên sư cụ, dập đầu van lơn.

Khóc rằng sư phụ ban ơn
Sáng mai chuông đánh chậm
hơn canh giờ.
Sư thầy hết sức bất ngờ
Vội choàng tỉnh giấc:”Nằm
mơ ấy mà!”

” Nhưng mà …” rồi lại ” Hay là…”
Cuối cùng thầy quyết la cà, chậm chuông!
Cả đời, thanh tịnh yêu thương
Lẽ nào, ” Thôi cứ…” kẻo vương vấn lòng.

Mặt trời lên,đánh chuông xong
Sư thầy cất bước lên phòng
thảnh thơi
Đầu ngọn tre ló mặt trời
Anh chàng đồ tể có lời sang thăm…

Đi vào, vẻ mặt đăm đăm:
-Sao chuông đánh chậm, thầy nằm ngủ quên?
Thở dài anh mới kêu rên:
“Chuông nay đánh muộn, bắt đền thầy nha!”

” Làm sao con kịp mổ, pha
Cả một con lợn khi mà chợ tan?”
Một hồi suy nghĩ, hỏi han
Sư thầy, đồ tể vội vàng đi ngay

Đến bên chuồng lợn, mới hay
Con heo định giết, đẻ bầy lợn con
Năm chú chư nhỏ lon ton
Quây quần bên mẹ vuông tròn hân hoan…

Bao nhiêu hậm hực tiêu tan
Anh chàng đồ tể bình an trong lòng
Tìm dao chọc tiết,thề rằng
“Rửa tay gác kiếm”,chôn trong vườn chùa.

Sư thầy nhoẻn miệng vui đùa:
“Linh hồn vạn vật, đâu chừa nhân sinh!”
Thế rồi một sớm bình minh
Trên mộ chôn kiếm, cây hình thành lên.

Thân cây mọc thẳng mũi tên
Lá son như máu ngày đêm vẫy chào
Hình lá thì giống con dao
Sư thầy bèn đặt tên trao cho đời.

Rằng CÂY HUYẾT DỤ người ơi
Nhìn cây như nhắc nhủ lời từ bi
Nhân gian từ đó khắc ghi
Muôn loài linh hữu, phải chi vô hồn?

 P.T.N

 

 

     


     

Bài trướcBảo tồn Công viên địa chất toàn cầu Đắk Nông, hướng tới phát triển bền vững
Bài tiếp theoBiển Đông vừa xuất hiện vùng áp thấp, các địa phương khẩn trương ứng phó

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây