Dương Khuê trong nền văn học dân tộc
Dương Khuê hiệu là Vân Trì, người làng Vân Đình, huyện Tiên Minh, tỉnh Hà Đông. Ông sinh năm Kỷ Hợi (1839), mất năm Nhâm Dần (1902), thọ 63 tuổi. Cùng với Chu Mạnh Trinh, Vũ Phạm Hàm, Dương Lâm… Dương Khuê đã góp phần phát triển, nối liền dòng mạch văn học các nhà nho tài tử nửa cuối thế kỷ XIX, làm phong phú thêm nền văn hóa và văn học dân tộc Việt Nam.
Thời niên thiếu, Dương Khuê rất thông minh, nổi tiếng văn hay chữ tốt, bạn bè ai ai cũng kính mến. Năm Giáp Tý, 1864, ông đã thi đỗ cử nhân. Năm sau, ông vào kinh thi hội nhưng không đỗ. Bấy giờ Tùng Thiện Vương đã chiếu cố mời ông về phủ dạy dỗ cho con cháu, ông ở lại kinh chờ khoa thi sau. Năm Mậu Thìn (1868 – năm Tự Đức thứ 21), ông đỗ tiến sĩ. Đồng thời là lúc bang giao với Pháp ở vào giai đoạn khó khăn, vua Tự Đức nhân thời thế đó ra đề thi là “Chiến hay hòa”. Trong bài văn Dương Khuê làm có câu: “Độc bệ hạ chi chiếu nhi bất thống khóc giả, phi nhân thần dã” (Đọc chiếu của bệ hạ không khóc lên đau đớn thì không phải là người thần vậy), để nói lên nỗi đau thương của ông trước tình hình của đất nước. Tự Đức vốn là một nhà vua rất ưa chuộng văn thơ cho nên khi thi đỗ rồi, vào triều bệ kiến, nhà vua thấy ông tiến sĩ mới lại có lời phê rằng: “Trẫm kiến tiến sĩ Dương Khuê bẩm chất ty nhược, yếu nghi gia tâm điều dưỡng, vị quốc trừ dụng…”. Và nhà vua đặc ban cho một miếng quế để dùng vào việc thuốc thang.
Dương Khuê làm quan sơ bổ chức tri phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Trên hoạn lộ, ông trải nhiều phen thăng trầm. Thời làm bố chánh, ông có dâng sớ lên vua Tự Đức xin đánh Pháp, song gặp phải lúc triều đình chủ hòa, vì thế, nhà vua phê vào sớ rằng: “Bất thức thời vụ” và giáng ông xuống chức chánh sứ sơn phòng để lo việc khai khẩn hoang. Sau đó không lâu, nhà vua nhớ tới Dương Khuê liền cho thăng lên chức Án sát Hải Phòng. Lúc đó ông có gặp người quen cũ là tri phủ Phan Đức Trạch, trước kia từng giúp cho hai nén bạc để vào Huế thi hội nhưng chưa có dịp hoàn trả. Với lại, biết ân nhân đang lúc gặp cảnh cùng túng nên ông đã tạm vay trước lương một ngày để trả cho đủ số bạc xưa. Không may có việc, quan Ngự sử xét kho, biết việc cho vay lương trước bèn tâu về triều nên ông bị giáng cách lại nguyên hàm Biên tu (Chánh thất phẩm), và phải đi làm sơn phòng lần nữa. Khi ở sơn phòng, ông có gặp người cũ và làm bài hát tặng người tình cũ tình ý lâm ly, văn cách nhẹ nhàng khiến vua Tự Đức nghe phải ngợi khen và cho ông lĩnh chức Đốc học ở Nam Định, rồi thăng chức lên Bố Chánh và sau đó là xung quyền tổng đốc. Ít lâu sau, ông được sung chức Tham tá nha kinh lược, sau đó lĩnh chức thực thụ tổng đốc Nam Định và Ninh Bình. Cuối cùng thăng lên chức Thượng thư rồi về hưu.
Dương Khuê vừa là bạn đồng khoa và cũng đồng thời là bạn thân của Nguyễn Khuyến. Khi Dương Khuê mất, Nguyễn Khuyến làm bài thơ Khóc Dương Khuê, khóc bạn với một tình cảm thiết tha. Trong suốt khoảng thời gian làm việc trong chốn quan trường, Dương Khuê thường ở nhiều nơi, việc cai trị trung hậu thanh liêm, không bao giờ động đến tiền của nhân dân. Vì vậy, những khi ông bị thuyên chuyển đi nơi khác thì dân chúng địa phương đi đưa tiễn rất đông, còn có người níu xe mà khóc. Cũng giống như văn nho đồng thế hệ, Dương Khuê có một lối sống hào hoa, phong nhã, lấy rượu xướng ca trăng thanh gió mát để khiển hứng. Ông rất sành về đánh trống chầu và ham thích thú hát ả đào. Cả cuộc đời của Dương Khuê làm quan nhưng ông sống thanh liêm, trong sạch, ăn ở với mọi người đầy tình yêu thương và có một tấm lòng yêu nước thầm kín. Với tâm trạng buồn chán của một nghệ sỹ trước cảnh nước mất nhà tan, ông đã chọn cho mình lối thoát ra ngoài cuộc sống ấy bằng thú cầm, kỳ, thi, họa và thú hát ả đào. Tuy số lượng tác phẩm còn lại của Dương Khuê là không nhiều (một phần do thất lạc, một phần không có cơ hội tiếp cận với văn bản gốc) nhưng qua những tác phẩm còn lại của ông thì cũng đã chứng minh được tài năng của Dương Khuê.
Dương Khuê vốn nổi tiếng về tài Hán văn và văn Nôm. Tác phẩm của ông chủ yếu trong tập Vân Trì thi tập và một số thơ văn câu đối. Thơ ca Nôm của ông có những nét riêng rất đặc sắc, nhất là trong thể loại Ca trù. Nói chung Dương Khuê khá đa tài và ông là người có tài năng nghệ thuật khá hoàn hảo cả bằng Hán văn lẫn chữ Nôm. Tìm hiểu thơ ông có thể phân làm ba loại chính:
Thứ nhất là thơ ca Đường luật với lời lẽ trịnh trọng, ung dung như các bài Ngũ thập tự thọ, Tự vịnh, Đánh cờ, Tiễn đưa sứ thần… Thứ hai là thơ lục bát, thường là những bài thơ nhỏ, ngắn nhưng hé mở cho ta thấy đó là một tâm hồn biết sống say mê, nặng tình cùng non sông đất nước như Hà Nội tức cảnh, Hỏi thăm bạn ở Hưng hóa, Lời hẹn…. Thứ ba là văn Ca trù, đây là thể loại sáng tác sở trường của ông nên ở thể loại này có nhiều bài tuyệt tác và trở thành mẫu mực như bài Hồng Hồng Tuyết Tuyết (Gặp cô đào cũ), Nhân vong cầm tại, Tiễn đào Cần, Tặng cô đào Cúc… Phần thứ ba có thể xem là phần quan trọng nhất trong thơ văn của Dương Khuê bởi nó thể hiện được cá tính và địa vị văn chương của tác giả, địa vị của nhà văn sành nghe hát ả đào với sở trường sáng tác Hát nói.
Ba thể loại sáng tác của ông khá phong phú về nội dung. Dương Khuê tuy lấy cầm kỳ thi tửu, ca xướng, trăng thanh gió mát làm thú tiêu sầu nhưng trong các tác phẩm vẫn đượm mầu sắc đạo đức, tuy đó chỉ là đạo đức vào thời tàn, Vịnh 55 tuổi thọ, không buồn vì tuổi già mà ông lại tưởng nhớ đến ơn vua:
Xiêm áo cũng chung nhờ lộc nước.
Thậm chí lúc vui thú với người tình cũ Bình Khang ông vẫn nhớ đến nghĩa vua tôi:
Thần tuy tội trọng đế do liên.
Văn thơ ông cũng thể hiện được cốt cách ung dung, đa tình của một bậc tài hoa, một tấm lòng trắc ẩn và thương xót trước những cô gái Bình Khang. Nội dung này được thể hiện qua những bài Ca trù. Với lối Ca trù, Dương Khuê đã để lại nhiều bài êm ái, hoa lệ, thiết tha:
Tiễn ai chi liễu giang đình,




















