Giới thiệu khái quát huyện Buôn Đôn

Giới thiệu khái quát huyện Buôn Đôn

Giới thiệu khái quát huyện Buôn Đôn

1. Vị trí địa lý:

Huyện Buôn Đôn cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 30 km về phía Tây, nằm trong vùng có tọa độ địa lý từ 12o40’08” đến 13o05’22” vĩ độ Bắc và từ 107o28’56” đến 108o01’41” kinh độ Đông. Vị trí địa lý của huyện tiếp giáp như sau:

– Phía Bắc giáp huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk;

– Phía Đông giáp huyện Cư M’gar và thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk;

– Phía Tây giáp Vương quốc Cam Pu Chia;

– Phía Nam giáp thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk và huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.

Với lợi thế có đường tỉnh lộ 17 đi qua trung tâm huyện và hầu hết các xã, có đường biên giới dài khoảng 45 km chung với Vương quốc Cam Pu Chia, nên Buôn Đôn có vị trí địa lý, kinh tế quốc phòng rất quan trọng đối với tỉnh Đắk Lắk và vùng Tây Nguyên. Huyện Buôn Đôn còn được xác định là vùng kinh tế trọng điểm phía Tây của tỉnh Đắk Lắk, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch, năng lượng, công nghiệp chế biến nông sản và các dịch vụ nông nghiệp.

2. Địa hình, địa mạo:

Phần lớn diện tích của huyện Buôn Đôn nằm trong vùng bán bình nguyên Ea Súp, địa hình có 03 dạng chủ yếu:

– Địa hình đồi núi thấp trung bình chiếm hầu hết diện tích phía Bắc, có sườn dốc tạo nên các tiểu bình nguyên hẹp, được hình thành từ các trầm tích Mezozoi. Độ cao trên 250 m và nghiêng theo hướng Tây – Tây Nam, diện tích khoảng 121.900 ha chiếm 86,4% diện tích tự nhiên.

– Địa hình cao nguyên núi lửa chiếm hầu hết diện tích phía Đông – Đông Nam, có mức độ phân cắt mạnh tạo thành những dãy đồi dạng bát úp, độ dốc trung bình 08 – 10o, độ cao trung bình 200 – 250 m, địa hình có xu thế thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Diện tích khoảng 17.900 ha, chiếm 12,7% diện tích tự nhiên

– Địa hình dốc tụ bao gồm các bãi bồi, các bậc thềm của các sông suối thuộc lưu vực sông Sêrêpốk và các suối lớn. Độ cao tuyệt đối nhỏ hơn 200 m. Bề mặt khá bằng phẳng, về mùa mưa thường bị ngập úng. Diện tích khoảng 1.200 ha, chiếm 0,9% diện tích tự nhiên.

Bảng 1.1. Tổng hợp diện tích huyện Buôn Đôn theo cấp độ dốc

Cấp độ dốc Phân cấp (o) Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Cấp  I

0 – 3

40.486

28,71

Cấp II

3 – 8

52.005

36,87

Cấp III

8 – 15

22.606

16,03

Cấp IV

15 – 20

16.627

11,79

Cấp V

20 – 25

6.214

4,41

Cấp VI

25 – 30

1.517

1,08

Cộng

139.456

98,88

Mặt nước và sông suối

1.558,13

1,12

Tổng diện tích tự nhiên

141.014,13

100,00

Nguồn: Tổng hợp từ Bản đồ đất do Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp xây dựng.

3. Đặc điểm khí hậu:

Theo số liệu của trung tâm khí tượng thuỷ văn Đắk Lắk (2010-2015) khu vực dự án nằm trong vùng ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc mang tính chất khí hậu Cao nguyên nhiệt đới ẩm, được chia thành hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa.

Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 11, lượng mưa trong các tháng này tập trung tới 75% – 85% lượng mưa cả năm, về mùa này độ ẩm không khí cao. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 10% – 20% lượng mưa cả năm, mùa khô nắng nóng, độ ẩm không khí thấp.

* Nhiệt độ: nhiệt độ trung bình năm là 25,60C, nhiệt độ trung bình cao nhất là 27,40C, nhiệt độ trung bình thấp nhất là 22,30C.

* Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm là 1.422 mm, lượng mưa lớn nhất trong năm là 1.633mm, lượng mưa thấp nhất là 930 mm, tháng có lượng mưa nhiều nhất là tháng 9 (410,4mm), tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 2 (không có mưa).

* Độ ẩm: Độ ẩm trung bình năm 79,8%, tháng có độ ẩm thấp nhất trong năm là tháng 2, 3, 4 với độ ẩm 73,5-74,7%, tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 6,7,8,9 với độ ẩm 82,9-84,6%.

* Gió: Khu vực dự án nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên chịu ảnh hưởng của các hướng gió:

– Gió Đông và Đông Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 4 (năm sau), tốc độ gió  trung bình 2,6 m/s.

– Tháng 5 – tháng 9 gió đổi sang Tây Nam với tốc độ gió trung bình khoảng 1,4-1,8m/s.

4. Thủy văn:

Buôn Đôn nằm trong lưu vực sông Sêrêpốk, có mạng lưới sông suối dày đặc, từ 0,4-0,6 km/km2. Các sông suối trên địa bàn có hướng chảy từ Đông – Đông Bắc đến Tây Nam và đổ vào dòng sông Sêrêpốk chảy về hướng Tây sang biên giới Cam Pu Chia. Lượng nước trên các sông suối thay đổi theo mùa, vào mùa mưa lượng nước dâng nhanh.

Sông Sêrêpốk vừa là con sông chính chảy qua địa bàn huyện vừa là dòng sông lớn nhất của khu vực Tây Nguyên. Sông bắt nguồn từ các dãy núi cao Chư Yang Sin, chảy theo hướng Đông Nam – Tây Bắc qua địa bàn huyện và Vương quốc Cam Pu Chia rồi đổ vào sông Mê Kông. Chiều dài sông chảy qua huyện khoảng 70 km, lòng sông rộng khoảng từ 100 – 200m, có chỗ rộng nhất hơn 300 m. Kết quả tính toán các đặc điểm của dòng sông cho thấy lưu lượng dòng chảy bình quân 260 – 300 m3/s. Lượng dòng chảy lũ > 2.000 m3/s và lưu lượng dòng chảy kiệt là 50 – 70 m3/s. Tuy nhiên, kết quả tính toán này còn phụ thuộc vào việc mùa mưa đến sớm hay muộn mà có số liệu khác nhau.

Bên cạnh đó, trên địa bàn còn có các con suối như Ea Tul, Đắk Klau, Đắk Kin, Đắk Na, Đắk Minh,… Các suối này có nhiều nhánh nhỏ, lắm thác ghềnh, lưu lượng nước không lớn.

Mạng lưới sông, suối trên địa bàn huyện rất thích hợp cho việc xây dựng các công trình thủy điện vừa và nhỏ để phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất. Hiện nay, các công trình thủy điện như Sêrêpốk 3, Sêrêpốk 4, Sêrêpốk 4A, Ea Tul 4 đã đưa vào vận hành và hòa vào mạng lưới điện Quốc gia phục vụ cho việc cấp điện cho tỉnh Đắk Lắk và các tỉnh khu vực Tây Nguyên.

5. Tài nguyên đất:

Theo tài liệu bản đồ đất tỷ lệ 1/100.000 của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp thực hiện, trên địa bàn huyện có 05 nhóm đất, với 10 loại đất chính, diện tích phân bố và tỷ lệ các loại đất chính trên địa bàn huyện Buôn Đôn như sau:

Bảng 1.2. Thống kê diện tích và tỷ lệ các loại đất trên địa bàn huyện Buôn Đôn

TT Loại đất Ký hiệu Diện tích, ha Tỷ lệ, %
1 Nhóm đất thung lũng D 192 0,14
1.1 Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ D 192 0,14
2 Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá E 1.150 0,82
2.1 Đất xói mòn trơ sỏi đá E 1.150 0,82
3 Nhóm đất đỏ vàng F 131.171 93,00
3.1 Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính Fk 2.539 1,80
3.2 Đất vàng nhạt trên đá cát Fq 93.690 66,43
3.3  Đất vàng đỏ trên đá macma acid Fa 6.717 4,76
3.4 Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất Fs 22.491 15,95
3.5 Đất nâu vàng trên đá macma bazơ, trung tính Fu 5.734 4,07
4 Nhóm đất đen R 1.943 1,38
4.1 Đất đen trên sản phẩm bồi tụ của đá bazan Rk 1.004 0,71
4.2 Đất nâu thẫm trên sản phẩm đá bọt, ba zan Ru 940 0,67
5 Nhóm đất xám X 5.000 3,54
5.1 Đất xám trên macma acid Xa 5.000 3,54
6 Sông, suối, hồ Ho 1.557,13 1,10
  Tổng   141.014,13 100,00

Nguồn: Tổng hợp từ Bản đồ đất do Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp xây dựng.

* Nhóm đất dốc tụ (D)

Diện tích 192 ha, chiếm khoảng 0,14% tổng diện tích đất tự nhiên. Trên địa bàn huyện có 01 loại đất là đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ (D).

Đất hình thành và phát triển trên sản phẩm rửa trôi và bồi tụ của các loại đất ở chân sườn thoải hoặc vật liệu Feralit hoá được dòng nước mang từ đồi núi kế cận tập trung về nơi thấp của địa hình. Cùng với vật liệu này thường có một lượng chất hữu cơ trung bình đến khá. Nước mặt đọng trong thời gian dài có thể làm cho đất bị glây, lớp thực vật mọc dày đặc bị vùi lấp có thể tồn tại trong phạm vi độ sâu phẫu diện đất. Loại đất này thích hợp cho việc các loại cây lương thực.

* Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá (E)

Diện tích 1.150 ha, chiếm khoảng 0,82% tổng diện tích đất tự nhiên. Đây là loại đất có nhiều hạn chế do tầng mỏng và lẫn nhiều đá cứng và kết von, đá ong. Trên đất xói mòn trơ sỏi đá thường có lớp thực vật thưa thớt, sỏi đá nổi lên mặt và đang bị tác động mạnh của xói mòn, gây hậu quả xấu đối với vùng đất thấp phía dưới.

* Nhóm đất đỏ vàng (F)

Tổng diện tích 131.171 ha, chiếm khoảng 93% tổng diện tích đất tự nhiên, gồm các loại đất sau:

– Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính (Fk): Diện tích 2.539 ha, chiếm 1,8% tổng diện tích tự nhiên. Đây là loại đất được hình thành và phát triển trên các cao nguyên bazan phần lớn có độ dốc nhỏ, tầng đất mịn dày, thành phần cơ giới nặng (tỷ lệ sét >40%), tơi xốp khi ẩm, độ xốp trung bình 62-65%, khả năng giữ nước và hấp thu nước tốt… Đất bazan là đất tốt nhất trong các loại đất đồi núi của nước ta, trên loại đất này đã hình thành các vùng cây công nghiệp tập trung như cà phê, cao su, tiêu, điều và các cây ăn quả cho năng suất cao.

– Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq): Diện tích 93.690 ha, chiếm 66,43% tổng diện tích tự nhiên, phân bố hầu hết các xã trên địa bàn huyện. Đất hình thành trên tàn tích sa thạch, là loại đá trầm tích hạt thô, cấu tạo khối đặc, địa hình khá dốc 8o đến 15o. Quá trình Feralit yếu, quá trình kết von đá ong phổ biến, quá trình tích luỹ OM bề mặt (OM tầng mặt 1,44%, xuống tầng sâu giảm còn 0,3%), OM tổng số càng xuống tầng sâu càng thấp, catrion trao đổi thấp, dung dịch đất có phản ứng chua, pHKCl: 3,0 đến 4,0. Loại đất này chủ yếu phù hợp với việc phát triển các loại cây lâm nghiệp.

– Đất vàng nhạt trên đá cát (Fa): Diện tích 6.717 ha, chiếm 4,76% tổng diện tích tự nhiên, phân bố xã Krông Na, Ea Huar, Ea Wer. Đất hình thành trên đá macma acid, ở các dạng địa hình khá dốc 8o đến 15o. Tầng đất mỏng, đất chua, hàm lượng mùn và các chất dinh dưỡng đều nghèo, quá trình Feralit diễn ra mạnh, quá trình rửa trôi khá mạnh nhưng yếu hơn ở đất xám. Hàm lượng OM tổng số thấp, nhỏ hơn 1,15%, các chất tổng số thấp, lân dễ tiêu và kali dễ tiêu đều nghèo. Loại đất này chủ yếu phù hợp với việc phát triển các loại cây lâm nghiệp hoặc nông lâm kết hợp.

– Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất (Fs): Diện tích 22.491 ha, chiếm 15,95% tổng diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở các xã phía Nam của huyện như Ea Wer, Tân Hòa, Ea Bar. Đất có màu đỏ vàng, tầng đất dày trung bình 50-90 cm, hình thái phẫu diện tương đối đồng nhất. Tuy nhiên một số khu vực bị rửa trôi, xói mòn và có chiều hướng thoái hoá do không sử dụng hợp lý. Hàm lượng OM tổng số thấp (OM: 0,12-0,57%), các chất tổng số thấp (N<0,04%, P2O5<0,03%, K2O<0,1%), các chất dễ tiêu cũng thấp. Nhìn chung loại đất này có phản ứng chua, độ no bazơ thấp, dung tích hấp thu thấp. Đặc trưng tầng tích tụ đáp ứng yêu cầu của tầng B Ferralit. Đất thích hợp với các loại cây trồng cạn, cây ăn quả và cây công nghiệp dài ngày, ở độ dốc lớn trên 15o sử dụng vào mục đích lâm nghiệp.

– Đất nâu vàng trên đá macma bazơ, trung tính (Fu): Diện tích 5.734 ha, chiếm 4,07% tổng diện tích tự nhiên. Đây là những loại đất tốt, tầng đất khá dày, thành phần cơ giới thịt nặng. Đất có phản ứng chua toàn phẫu diện, pHKCl 3,7-4,2. Hàm lượng OM tổng số trung bình đến khá, OM: 2-3%. Các chất tổng số: đạm tổng số trung bình, lân tổng số giàu, kali tổng số trung bình. Các chất dễ tiêu: lân trung bình đến khá giàu, kali trung bình. Tổng số cation kiềm trao đổi trung bình. Dung tích hấp thu (CEC) cao.

Đất này rất thích hợp với nhiều loại cây trồng có giá trị xuất khẩu như cao su, cà phê, tiêu và các loại cây ăn quả. Tuy nhiên, khi sử dụng loại đất này cần phải chú ý quan tâm đến các biện pháp cải tạo đất.

*  Nhóm đất đen (R)

Diện tích 1.943 ha, chiếm khoảng 1,38% tổng diện tích đất tự nhiên, gồm các loại đất sau:

– Đất đen trên sản phẩm bồi tụ của đá bazan (Rk): Diện tích 1.004 ha, chiếm khoảng 0,71% tổng diện tích đất tự nhiên. Đất hình thành do sản phẩm bồi tụ của bazan, đất có màu đen, hay đen xám, phẫu diện thường có kết von đen, tầng B có glây yếu. Đất có phản ứng hơi chua (pHKCl 4,5-4,7), OM tổng số khá cao 1,5-3%, đạm tổng số khá (0,1-0,15%, lân tổng số trung bình 0,3-0,4%, lân dễ tiêu cũng khá 15-20mg/100g đất, kali tổng số khá 0,3-0,4%, kali dễ tiêu trung bình 12-15mg/100g đất, cation trao đổi giàu ở tầng mặt, càng xuống sâu càng giảm dần, hàm lượng Ca++ và Mg++ trung bình khoảng 10-20 lđl/100g đất. 

Đất đen trên sản phẩm bồi tụ của đá bazan có hàm lượng OM cao, có thể sử dụng vào trồng các loại cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày.

– Đất nâu thẫm trên sản phẩm đá bọt và bazan (Ru): Diện tích 940 ha, chiếm khoảng 0,67% tổng diện tích đất tự nhiên. Đất hình thành do sản phẩm phong hoá của đá bọt và bazan, có màu nâu hơi đen, phẫu diện lẫn đá bazan dạng lỗ hổng hoặc đá bọt. Đặc điểm: gần giống đất đen trên sản phẩm bồi tụ của bazan, nhưng hàm lượng OM tổng số hơi thấp hơn (OM: 1,6-1,9%), các chất tổng số đều đạt trung bình đến khá, dung dịch đất có phản ứng hơi chua. Đất sử dụng trồng cây công nghiệp dài ngày, cần chú trọng các biện pháp chống xói mòn, bảo vệ tầng đất mặt.

* Nhóm đất xám (X)

Diện tích 5.000 ha, chiếm khoảng 3,54% tổng diện tích đất tự nhiên. Trên địa bàn huyện có 01 loại đất là đất xám trên macma acid (Xa).

Quá trình hình thành cơ bản là quá trình rửa trôi và xói mòn bề mặt xẩy ra trong tự nhiên và quá trình canh tác lâu dài của con người đã dẫn đến sự thay đổi một số tính chất lý hoá học ban đầu của đất.

Đất có thành phần cơ giới nhẹ, từ cát pha đến thịt nhẹ ở tầng mặt và chuyển dần sang cơ giới thịt trung bình ở tầng dưới (sét >30%), lẫn nhiều sạn sỏi thạch anh. Tầng đất thường mỏng dưới 70 cm.

Đất xám hình thành trên macma acid thường có phản ứng chua (pHKCl: 3,3-3,4). Hàm lượng các chất dinh dưỡng đều thấp, OM tổng số <1% (0,1-0,4%), lân tổng số và lân dễ tiêu đều nghèo (0,03% và 1,5-1,6 mg/100g đất), kali tổng số: 0,4-0,7%, kali dễ tiêu 2-4 mg/100g đất, cation trao đổi nghèo, phổ biến ở mức 3-6 mg/100g đất.

Đất xám trên macma acid thường có tầng mỏng dưới 70 cm, thích hợp trồng cây ăn quả và cây công nghiệp dài ngày, ở địa hình ít dốc có thể trồng màu hoặc cây công nghiệp ngắn ngày.

6. Tài nguyên nước:

a. Nguồn nước mặt

Nguồn nước mặt trên địa bàn huyện khá phong phú do nằm trong lưu vực sông Srêpốk và các suối chính Ea Tul, Đắk Klau, Đắk Kin, Đắk Na, …, hiện nay trên sông Sêrêpốk đoạn qua huyện đã xây dựng hai công trình thuỷ điện lớn Sêrêpốk 3 và Sêrêpốk 4 tạo nên lòng hồ chứa nguồn nước mặt dồi dào. Nhìn chung, nguồn nước mặt phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp của địa phương.

Tuy nhiên, nguồn nước mặt phân bố không đồng đều trong năm dẫn đến tình trạng ngập úng cục bộ vào mùa mưa, thiếu nước vào mùa khô. Ðiều này ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt và sản xuất của người dân. Vì vậy, việc xây dựng các công trình thủy lợi để đảm bảo chủ động nguồn nước tưới là điều vô cùng quan trọng và cấp thiết.

b. Nguồn nước ngầm

Đây là nguồn tài nguyên có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất và đời sống, nó vừa là nguồn cung cấp nước sinh hoạt phục vụ cho đời sống của con người, vừa là nguồn bổ sung lượng nước để phục vụ cho tưới tiêu của người dân.

Theo kết quả lập bản đồ địa chất thuỷ văn của Liên đoàn Địa chất thủy văn – Địa chất công trình Miền Trung, nước ngầm trên địa bàn huyện không nhiều, phần lớn nước ngầm chủ yếu vận động, tàng trữ trong thành tạo phun trào Bazan độ sâu phân bố 15 – 50 m, khả năng giữ nước kém. Kết quả tính toán trữ lượng động thiên nhiên là 0,11 l/s.km2, trữ lượng khai thác QKTmin = 80m3 ngày/km2, QKTmax = 203 m3 ngày/km2, QKTtrung bình = 189 m3 ngày/km2. Một số nơi có thể thiết kế và xây dựng các nhà máy cấp nước tập trung quy mô nhỏ hơn 300 m3/ngày như trung tâm huyện, Cuôr Knia,… Phần còn lại là tầng chứa nước trầm tích Mezozoi, có mức độ chứa từ nghèo đến trung bình, chất lượng nước thường gặp có hàm lượng canxi cao, không thuận lợi cho ăn uống, sinh hoạt.

Những năm gần đây, do biến động về thời tiết và do khai thác các tài nguyên không hợp lý, đặc biệt là nguồn tài nguyên rừng đã làm cho nguồn nước ngầm có xu hướng bị suy giảm về trữ lượng và chất lượng.

7. Tài nguyên khoáng sản:

Theo quy hoạch phát triển khoáng sản tỉnh Đắk Lắk, Buôn Đôn là huyện có tiềm năng khoáng sản không lớn, song có khả năng hình thành và phát triển công nghiệp khai khoáng quy mô vừa và nhỏ gồm:

– Đá xây dựng (bao gồm đá bazan, phun trào Andezit, Riolit) trữ lượng khoảng 23,8 triệu m3 tại các vùng Ea Bar, Ea Wer, Ea Nuôl có thể dùng trong xây dựng là đá chẻ, đá hộc, đá rải đường… Hiện có 02 mỏ đang tiến hành khai thác (Tân Hòa, Ea Nuôl).

– Sét gạch ngói: Thuộc nhóm trầm tích bồn trũng, phân bố vùng thung lũng Cuôr Knia và Đắk Mar (Krông Na) trữ lượng 0,45 triệu m3, chất lượng thấp nên ít được khai thác để sản xuất gạch ngói.

– Đá vôi: trữ lượng khoảng 28 triệu tấn, phân bổ vùng Chư Minh nhưng chất lượng thấp, chỉ có thể làm vật liệu xây dựng, không có ý nghĩa trong khai thác công nghiệp.

– Kim loại quý hiếm: Vàng sa khoáng tích tụ thung lũng ven suối vùng Chư Minh, Chư Klin giáp ranh với Ea Súp, nhưng chưa có nghiên cứu sâu để đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác.

8. Tài nguyên rừng:

Theo số liệu thống kê đất đai năm 2016, tổng diện tích rừng của huyện là 106.829,70 ha, chiếm 75,76 % tổng diện tích tự nhiên của huyện. Trong đó, có 4.378,76 ha rừng phòng hộ, 8.526,06 ha rừng sản xuất, 93.924,88 ha rừng đặc dụng. Rừng trên địa bàn chủ yếu tập trung tại xã Krông Na, do Vườn quốc gia Yok Đôn và Ban quản lý rừng phòng hộ Buôn Đôn quản lý.

Là địa bàn có diện tích rừng lớn nhất tỉnh Đắk Lắk, Buôn Đôn là nơi đặc trưng nhất cho hệ sinh thái rừng của khu vực. Nơi đây không chỉ tập trung hệ thực vật đa dạng mà còn là nơi trú ngụ của rất nhiều loài động vật quý hiếm.

Hệ thực vật đa dạng đã tạo nên sự phong phú cho hệ động vật rừng. Rừng tại Buôn Đôn là nơi trú ngụ của nhiều loài động vật, trong đó có các loài quý hiếm nằm trong sách đỏ. Hệ động vật này vừa có cả các loài thú linh trưởng, vừa có cả hệ bò sát như rắn, rùa,… vừa có cả các loài chim và côn trùng.

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH

Tách ra từ huyện Ea Súp và một phần từ thành phố Buôn Ma Thuột từ ngày 07 tháng 10 năm 1995 trên cơ sở địa danh Bản Đôn trước đây, vốn một thời là thủ phủ của tỉnh Đắk Lắk. Sau này để tiện cho việc phát triển kinh tế xã hội và để chiếm giữ một vị trí an ninh quốc phòng chiến lược, người Pháp đã cho dời cơ quan hành chính về Buôn Ma Thuột, nơi có vị trí trung tâm của toàn Tây Nguyên.

Buôn Đôn là tên huyện mới đặt khi thành lập huyện mới, còn Bản Đôn cũ theo tên gọi tiếng Lào ngày xưa (sắc dân Lào chiếm đa số ở đây khi còn sơ khai) có nghĩa là “Làng Đảo” nghĩa là một ngôi làng được xây dựng trên một ốc đảo của Sông Serepôk. Đây là một trong những điểm giao thương quan trọng của 3 nước Đông Dương ngày xưa. Khi ấy, người Lào trong lúc ngược dòng sông buôn bán, bắt gặp mảnh đất này đã bị quyến rũ và ở lại cùng người Ê Đê bản địa xây dựng lên ở đây một ngôi làng trù phú. Nơi đây vốn nổi tiếng với nghề săn bắt, thuần dưỡng voi rừng, với huyền thoại về Vua Voi Khun Sa nuk, người đã bắt được và thuần dưỡng hơn 170 con voi rừng, trong đó có 1một con bạch tượng tặng vua Thái Lan và Khun Sa nuk chính là danh hiệu vua Thái Lan ban cho ông. Bản sắc dân tộc và tất cả những điều ấy, đã biến Bản Đôn trở thành thương hiệu nổi tiếng nhất của Du lịch Đắk Lắk, một nơi không thể không đến khi đến Đắk Lắk. Cho đến bây giờ vẫn có thể khẳng định: du khách trong nước và cả thế giới nay vẫn biết đến Bản Đôn nhiều hơn là cái tên Đắk Lắk, cũng giống như thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột vậy.

DU LỊCH THẮNG CẢNH

Buôn Đôn là huyện giàu tiềm năng và cũng là huyện năng động nhất về kinh doanh du lịch trong tỉnh Đắk Lắk. Với địa danh Bản Đôn vốn từ lâu đã được ghi nhận trong bản đồ Du lịch Thế giới, kết hợp với các vệ tinh khác như Buôn Đôn đang sở hữu rất nhiều Bến nước đẹp và còn tương đối nguyên vẹn như Bến nước Buôn Niêng, Buôn Kó Đung. Trong huyện còn có Vườn Quốc gia Ýok Đôn lớn nhất nước với diện tích trên 115.500 ha nơi bảo tồn Voi châu Á và hệ sinh thái rừng Khộp độc nhất vô nhị… Để khởi động chương trình và biến Bản đôn trở thành một thị trấn Du lịch, một trung tâm du lịch nổi tiếng của cả nước như Đà lạt hoặc SaPa, Bà Nà…trong một tương lai gần, trong kế hoạch phát triển du lịch đến 2010 tỉnh Đắk Lắk đã quy hoạch xây dựng làng Văn hóa dân tộc Buôn Niêng để bảo tồn và giới thiệu bản sắc văn hoá người Êđê bản địa(cách Buôn Ma Thuột 10km – trên đường tỉnh lộ đi Bản Đôn. Liên kết với khu này là hệ thống các Bến nước du lịch tại các buôn làng liền kề, một sản phẩm du lịch rất ăn khách bởi nét đặc sắc và bản sắc dân tộc của nó.
           Ở Buôn Niêng, đáng chú ý còn có Vườn cảnh Trohbư, một vườn cảnh tư nhân, với quy họach độc đáo mang đậm “Nét rừng” với một vườn lan tự nhiên; một bộ sưu tập cây gỗ và các kiểu rừng ở Đắk Lắk; những con đường đi dạo quanh co giữa rừng hay uốn lượn theo triền dốc, bờ hồ; những ngôi nhà nhỏ gĩưa rừng đẹp như trong truyện Cổ tích phục vụ nhu cầu nhà nghỉ gia đình cuối tuần. Ở đây Du khách còn có thể quan sát tận mắt việc trồng và chế biến Cà Phê của người dân, sờ tận tay những cây Cà Phê thuộc đủ các loài đang được trồng ở Đắk Lắk và thưởng thức những phin Cà Phê được chế biến theo phương pháp thủ công. Tất cả những điều ấy đã biến Vườn cảnh Trohbư trở thành một trong những khu triển lãm về Cà Phê quan trọng nhất trong Chương trình quảng bá hình ảnh “Thủ phủ Cà phê thế giới” của tỉnh Đắk Lắk.

VOI BẢN ĐÔN: 
           Nói đến Bản Đôn là phải nói đến Voi, bởi nơi dây chính là quê hương của những người săn bắt và thuần dưỡng voi rừng Việt Nam. Tiếng tăm của họ đã một thời được truyền tụng khắp một vùng rộng lớn phía Nam Châu Á. Ở Việt Nam duy nhất chỉ có ở đây Voi trở thành phương tiện sinh sống và là con vật nuôi hiền lành trong gia đình và cũng nơi đây mới có ngày hội truyền thống đua voi hàng năm. Địa danh Bản Đôn, hay còn gọi là Buôn Đôn, theo tiếng Lào là “Làng Đảo”, nằm ngay trên trục tỉnh lộ 1, cách thành phố Buôn Ma Thuột 45km về hướng Tây Bắc. Chính truyền thống của nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng ở đây đã làm cho Bản Đôn không giống bất cứ một buôn nào, hoặc của người Êđê, hoặc của người M’nông hay Gia Rai ở tây nguyên.
Phong tục tập quán và sinh hoạt văn hóa tại đây được lai tạp, kết hợp của nhiều vùng, nhiều nước và nhiều thời dồn lại khiến bản sắc dân tộc ở đây được thể hiện rất rõ ràng và được chú tâm gìn giữ phát triển cùng huyền thoại về những tù trưởng mạnh gần như là vua, khống chế cả một vùng sơn cước như: Y Thu (Khun Ju Nôp), Y Ky…cai quản những buôn làng thời xa xưa thực sự sầm uất, thịnh vượng. Đến Bản Đôn, bạn có thể được cưỡi voi ngắm rừng già, lội sông hoặc nghe các già làng kể chuyện săn bắt và thuần dưỡng voi rừng và nhiều điều thú vị khác.
Ngã sáu Buôn Ma Thuột: Ngã sáu Buôn Ma Thuột khá thân quen với tên gọi Ngã sáu Ban Mê đầy chất thơ, nhạc, không ngừng biến đổi qua thời gian, ghi nhận những thăng trầm của lịch sử khai phá vùng đất Cao nguyên Buôn Ma Thuột.
           Người Buôn Ma Thuột những năm đầu thế kỷ XX đã chọn cho mình một địa thế khá bằng phẳng để khai khẩn và lập nghiệp. Ngã sáu Buôn Ma Thuột, nơi giao lộ của những con đường đi lại giữa khu dân cư người Kinh với các buôn làng Ê đê bản địa và đường về miền trung châu. Con đường xưa đất đỏ, quanh năm lầy lội vào mùa mưa và bụi đỏ về mùa khô, rồi đường được lát đá, bây giờ là đường rải nhựa phẳng lỳ thênh thang. Trong ký ức của người cư ngụ những năm 40 của thế kỷ XX, nơi đây là trụ đèn ba ngọn tỏa sáng đường đi lối lại vùng trung tâm. Cũng chính tại nơi đây, người dân Buôn Ma Thuột không bao giờ quên hơn 100 dân lành làng Lạc Giao bị giặt Pháp giết hại khi chúng tấn công vào Buôn Ma Thuột lần thứ hai cuối tháng 11/1945, và những xúc động của người dân khi chứng kiến sự hy sinh anh dũng của chiến sĩ quân giới – liệt sĩ Trần Thệ tại chính trụ đèn ba ngọn này. Người dân Buôn Ma Thuột vẫn cần mẫn xây dựng quê hương mình. Xung quanh Ngã sáu bên cạnh nhà thờ, công xưởng của Buốcgeri, nhà Giám đốc Lục Lộ, bến xe … là phố chợ khá nhộn nhịp với đầy đủ các hiệu buôn, hiệu thuốc, hiệu bán thực phẩm của người Việt và người Hoa.
           Thời gian đã làm nên bao điều kỳ diệu. Sau ngày giải phóng năm 1975, chỉ trong vòng một thời gian ngắn Ngã sáu Buôn Ma Thuột đã có một bộ mặt bề thế mang dáng dấp của một phố thị trẻ, tựa như gương mặt một cô gái ở độ tuổi mới lớn, với quần thể kiến trúc bao quanh như Đài tưởng niệm, Khách sạn, Trung tâm văn hóa, những cơ sở dịch vụ tổng hợp, Công ty Du lịch Đak Lak, Đài phát thanh truyền hình …. Chủ nhân của Buôn Ma Thuột, những người bản địa và những người sinh cơ lập nghiệp tại vùng Cao nguyên đã góp phần vun đắp làm thay đổi bộ mặt của thị xã xưa và thành phố Cao nguyên hôm nay. Những ngày mới giải phóng năm 1975, ngã sáu còn nguyên những vết hoang tàn, những khu phố bị bom phá sụp đổ, loang lỗ. Một Ngã sáu – dấu vết của chiến tranh. Ngã sáu hôm nay đã có những công trình xây dựng khang trang, hiện đại mà rất gần gũi. Đêm đêm từ Ngã sáu xuôi đường Nơ Trang Lơng, ngược đường Phan Chu Trinh, thả bộ trên đại lộ Nguyễn Tất Thành sáng bừng ánh điện và sống động những sắc màu, ta bỗng da diết nhớ về quá vãng xa xưa …

NGÔI NHÀ SÀN CỔ: 
           Trước khi người Pháp đặt chân đến Đăk Lăk và chọn Buôn Đôn làm thủ phủ đầu tiên của tỉnh (1899) thì nơi đây chỉ vỏn vẹn 6 nóc nhà với 27 người dân. Cuộc sống đậm chất hoang sơ với nghề chính là đánh bắt cá dọc theo dòng Sêrêpôk. Thời bấy giờ, các lái buôn người Lào thường xuôi theo dòng Mê Kông qua Campuchia, Thái Lan rồi ngược dòng Sêrêpôk đến Việt Nam. Trên mỗi chuyến đi, hàng hoá chủ yếu lúc bấy giờ là trâu mộng để trao đổi voi, ngà voi và các loại lâm đặc sản khác… Không ít người đã ở lại hẳn nơi đây cùng chung sống với cư dân bản địa và trở thành người của buôn làng. “Đất lành chim đậu”, không riêng gì người Lào mà ngay cả các sắc tộc khác như Mnông, Gia Rai, Ê Đê… cũng tựu tập về đây cùng chung sống và xây dựng vùng đất mới. Do điều kiện lịch sử và văn hóa, đã tạo cho vùng đất này một nền văn hóa đa sắc tộc khá phong phú và đậm bản sắc mà không dễ vùng nào cũng có. Trong quá trình đó, tài sản văn hoá ở đây được làm giàu thêm bằng các công trình kiến trúc như nhà ở, nhà mồ… mang đậm phong cách kiến trúc cổ điển của xứ sở hoa Chămpa…
           Một công trình kiến trúc cổ ở Bản Đôn còn tồn tại cho đến ngay nay là ngôi nhà sàn cổ đã hơn 100 năm tuổi. Ngôi nhà được chính thức khởi công vào ngày 7 tháng 10 năm 1883 do một nghệ nhân người Lào là Khavivôngsao nổi tiếng về ngành mộc khởi xướng xây dựng. Là người trực tiếp chỉ huy thi công cũng như cương vị “tổng thầu”, ông đích thân chọn ra 14 thợ chính có tay nghề cao và hơn 10 thợ phụ để giúp việc. Tham gia gia đắc lực trong quá trình xây dựng ngôi nhà không thể không nhắc đến “lực lượng” của 18 chú voi to khoẻ tham gia việc khai thác gỗ và dựng nhà. Điều đặc biệt ở ngôi nhà này là hoàn toàn bằng gỗ, không sử dụng bất cứ một vật liệu nào bằng kim loại. Nhà được thiết kế theo kiểu nhà sàn của người Ê Đê, hai đầu hồi mái nhọn và cao vút mô phỏng theo kiểu tháp cổ bồng (kiến trúc chùa tháp của Lào). Họa tiết, hoa văn trang trí theo tín ngưỡng người Lào… Ước tính ngôi nhà sau khi hoàn thành hết một số lượng gỗ trên 100 m3, chủ yếu là các loại gỗ tốt như: căm xe, cà chít, cẩm lai… Chỉ tính riêng phần mái lợp của ngôi nhà để tạo ra những viên “ngói gỗ” (2 cm x 12 cm x 25 cm) phải tốn gần 10 m3 gỗ cà chít được cưa xẻ trong nhiều ngày. Thời gian thi công kéo dài 1 năm 4 tháng 12 ngày với tổng giá trị được quy đổi bằng 12 con voi trên 60 tuổi có ngà dài. Ngôi nhà được khánh thành vào ngày 19 tháng 2 năm 1885 với buổi tiệc ăn mừng hết 22 con trâu lớn… Trải qua ba thế kỉ với những biến động của lịch sử, ngôi nhà vẫn còn đó mặc dù ít nhiều đã xuống cấp theo thời gian. Chủ nhân hiện nay của ngôi nhà là Me Lĩnh (cháu ngoại của vua săn voi Y Thu Knul (còn gọi là Khunjunob – tước hiệu do hoàng gia Thái Lan ban khi ông dâng tặng cho vua Thái Lan con voi trắng vào năm 1861) là một người rất hiếu khách. Có dịp đến đây sau một vòng tham quan, chiêm ngưỡng ngôi nhà… bên ché rượu cần bạn sẽ được nghe những câu chuyện tưởng như là huyền thoại về quá trình săn bắt và thuần dưỡng voi rừng của các “vua” săn voi như Y Thu Knul, Rleo Knul, Ma Kông… vang tiếng một thời trên toàn cõi Đông Dương.

HỘI ĐUA VOI Ơ BUÔN ĐÔN: 
           Hội đua voi thường được tổ chức vào tháng 3 hàng năm ở huyện Buôn Đôn. Bãi đua thường là khu vực tương đối bằng phẳng, rộng để voi dàn hàng đua và dài khoảng 1000m. Voi từ các buôn xa, gần đều về đây tụ hội. Trước ngày đua voi các lán trại mọc lên san sát cho các nài voi đến sớm để chuẩn bị. Thắng lợi của voi còn là niềm vinh dự, tự hào của mỗi nài voi. Nó thể thiện công lao và tài thuần dưỡng của các nài.
Trước khi vào cuộc, các chú voi tham gia được bố trí xếp hàng ngay ngắn. Mỗi voi đều mang trên mình các lá cờ nhiều màu sắc và cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc. Trên mình voi còn có hai mảnh vải thổ cẩm đặc trưng của dân tộc Tây Nguyên, cưỡi trên voi thường là hai người, trong đó có một người là nài voi, người còn lại là thanh niên khoẻ mạnh vạm vỡ.
           Sau khi hồi tù rít lên, lần lượt từng hàng voi đến trước ban giám khảo quỳ phục và cúi chào khán giả rồi trở về vị trí xuất phát để chờ lệnh. Một hồi tù và nữa lại vang lên, voi đồng loạt phóng nhanh về phía trước, tiếng reo hò cổ vũ của khán giả, tiếng trống chiêng và tiếng bước chân voi khuấy động cả khu rừng. Voi nào cũng cố gắng chạy thật nhanh để về đích sớm nhất.
Với số lượng voi tham gia đua có khi lên đến vài chục con nên voi phải thi đấu qua nhiều vòng để chọn ra một chú voi chạy nhanh nhất. Và voi chiến thắng cũng được trao “vòng nguyệt quế” tết từ hoa lá trong rừng, phần thưởng cho tất cả các voi dự thi là những khúc mía hay nải chuối mà nài voi và cả khán giả cũng đã chuẩn bị sẵn, còn phần thưởng của ban tổ chức cho nài voi là các ché rượu cần ngon nhất. Giữa nắng gió của trời Tây Nguyên vào tháng 3, không gì sôi động và hào hứng bằng việc tận mắt chứng kiến và thoả thích reo hò cổ vũ cho voi chạy đua. Nghỉ giải lao trong chốc lát, voi lại vào thi ném xa, kéo co, đá bóng. Màn thi nào voi cũng cố gắng thể hiện sự nhanh nhẹn, khéo léo của mình, mặc dù thân hình không nhỏ nhắn chút nào. Ngoạn mục nhất có lẽ là màn thi vượt sông Sêrêpôk.
Khúc sông mà đàn voi bơi qua là đoạn cuối của Sêrêpôk trên đất Việt. Sau hiệu lệnh cả đàn voi chạy lao xuống nước, nước bắn tung toé một góc sông. Cảnh tượng này nhìn từ trên cao rất đẹp và hùng vĩ. Ra đến giữa sông, du khách và khán giả chỉ còn thấy nhấp nhô dáng nài voi đang ngồi chồm hổm trên lưng voi. Lúc đó ta mới cảm nhận hết được tài thuần dưỡng voi cũng như mối quan hệ mật thiết giữa voi và người dân Dak Lak.
Thời gian gần đây, được sự đầu tư của Tỉnh, hội đua voi được tổ chức qui mô hơn, đều đặn, vừa nhằm mục đích tôn vinh tinh thần thượng võ của các dân tộc Tây Nguyên, bảo tồn văn hoá bản địa và thu hút khách du lịch. Số lượng khách trong nước đến với hội voi đang tăng đáng kể, nhờ các phương tiện thông tin đại chúng quảng bá về hội voi nhiều hơn trong thời gian gần đây.
           Hội voi và liên hoan cồng chiêng là những cuộc trình diễn, giới thiệu văn hóa truyền thống ấn tượng nhất của cư dân Tây Nguyên, là sinh hoạt lễ hội không thể thiếu hàng năm. Những chú voi hiền lành, ngoan ngoãn, luôn gắn bó với con người, buôn làng, sẽ đưa ta về với quá khứ để cảm nhận đâu đây tiếng chiêng vang, tiếng voi gầm, tiếng thét oai hùng của các chàng trai dũng sĩ trong sử thi Đam San, Xing Nhã; cho ta được trở về cội nguồn văn hóa hoang sơ, hồn nhiên, đầy ắp tính nhân văn của con người và mảnh đất nơi đây.

     


     

Mã QR Code ủng hộ vansudia.net


BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây