
Tên của Nguyễn Văn Lạc được TP HCM sử dụng đặt tên cho một con đường (ảnh trên) ở quận Bình Thạnh và một con đường nữa mang tên Học Lạc tại quận 5(ảnh dưới). Ảnh: TẤN THẠNH.
Yêu nước và đấu tranh bằng thơ ca linh hoạt và uyển chuyển, cốt sao cho các tác phẩm của mình đến được với dân nên còn nhiều tác phẩm dù ông không ghi tên nhưng vẫn được dân chúng nhớ và cho là của Học Lạc.
Người Nam Kỳ trước đây thường truyền tai nhau, bài thơ chữ Nôm – 8 câu, mỗi câu 7 chữ – mở đầu bằng 4 câu như sau:
Chữ “Lạc” ở câu đầu tiên, chính là tên của người có tính danh đầy đủ là Nguyễn Văn Lạc. Nhà nghèo nhưng học giỏi, nên được triều đình đặc ân xếp vào ngạch học sinh, được cấp lương ăn học, nên được gọi tên ghép với “ngạch” là “Học sinh Lạc”, rồi “gọi tắt” thành “Học Lạc”.
Học Lạc là người làng Mỹ Chánh, về sau, dời nhà về chợ Thuộc Nhiêu, đều trên đất Mỹ Tho (Tiền Giang ngày nay). Ngạch Học sinh dù thứ bậc rất thấp nhưng cũng vẫn khiến Học Lạc có chút phận chức sắc trong hương đảng.
Do đó, theo hương lệ, hằng năm, đến ngày lễ Kỳ Yên, phải mang ra đình, nộp một mâm xôi, tế thần. Năm ấy, chơi ngông, Học Lạc tự xưng mình là “Thằng”, khi đề tên (đánh dấu) vào mâm xôi cúng, bị các chức sắc “vai trên” trách phạt tội bất kính.
Bài thơ giải trình lý do viết chữ “Thằng” vào mâm xôi của Học Lạc, có tên là “Tạ hương đảng” (Xin lỗi các chức sắc trong làng). Tiếng là tạ lỗi nhưng lại rất ngang tàng, coi thói quan liêu – hách dịnh của các chức sắc hương thôn lúc bấy giờ, chẳng ra gì. Do đó, rất được dân chúng ưa thích và truyền tụng.
Người Nam Kỳ xưa, mến mộ Học Lạc, còn truyền tai nhau một thi phẩm nữa, cũng đầy tính trào lộng:
Vẫn là giọng thơ ngang tàng, pha chút triết lý khôi hài về cuộc đời (thế sự đương thời) nhưng nhờ đó, người ta biết được: Năm Kỷ Sửu, dương lịch là năm 1899, Học Lạc 48 tuổi (tuổi ta, tức 47 “tuổi Tây”)! Suy ra: nhà thơ trào phúng của đất Nam Kỳ sinh năm 1842!
Học Lạc sống tuổi 20 của mình khi thực dân Pháp đến xâm chiếm đất Nam Kỳ. Nhà thơ mất ở tuổi 73 – vào năm Ất Mão (1915), khi đất Nam Kỳ đã bị người Pháp biến thành thuộc địa.
Không cầm vũ khí như Trương Định, Nguyễn Trung Trực… chống lại kẻ xâm lược ngoại bang và tay sai bản xứ, cũng không như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị… dùng ngòi bút làm vũ khí trực tiếp “đâm mấy thằng gian…”, nhưng Học Lạc với tài làm thơ trào phúng bằng giọng thơ “vần trắc” (trúc trắc) “rất Nam Kỳ” của mình, đả kích thật sâu cay những kẻ/ và thói/ hư đốn lúc đương thời, đã chính là một người làm hoa cho đất quê hương phương Nam của ông, một cách thật là đặc sắc.
Những con vật thường ngày trong cuộc sống của người dân Nam Kỳ, thường được Học Lạc lấy đấy làm đề tài ngâm vịnh nhưng là để lồng vào đấy thân phận và hình ảnh xấu xí của những kẻ cường hào, hống hách như ở bài vịnh “Con Tôm”:
Đướng Học Lạc ở quận 5 – TP HCM.
Rồi hạ một câu phê phán rất độc địa, đúng thực chất bằng ngôn ngữ dân gian:
Vịnh “Con Trâu” cũng thế, đấy là những kẻ cường hào, dù “đánh bóng cuộc đời” bằng nhiều cách: “Mài sừng cho lắm, cũng là trâu!”.
Với thực chất ngu đần kém cỏi mà dân gian đã đúc kết sẵn rồi:
Đặc biệt, hình tượng “Chó chết trôi” được Học Lạc lồng vào để chỉ những kẻ làm tay sai cho giặc, hại dân, hại nước, là điều cảnh báo thật sâu cay về thân phận và số phận, khi hết đời:
“Đánh” vỗ mặt bọn cường hào, tay sai cho giặc như thế, Học Lạc cũng còn có những bài ý nhị hơn, ca ngợi những người yêu nước, trong đó có thủ khoa Nguyễn Hữu Huân; đồng thời bóng gió mà trách cứ triều đình Huế đã “bán rẻ” đất Nam Kỳ như ở trong bài “Thuộc Nhiêu tức cảnh” – nơi định cư của ông, cũng là nơi hoạt động đánh giặc sôi nổi của những chiến sĩ yêu nước như Nguyễn Hữu Huân:
Yêu nước và đấu tranh bằng thơ ca linh hoạt và uyển chuyển, cốt sao cho các tác phẩm của mình đến được với dân nên còn nhiều tác phẩm dù ông không ghi tên nhưng vẫn được dân chúng nhớ và cho là của Học Lạc.
Nỗi niềm tâm sự của người dân mất nước, khi “Tức cảnh ban chiều” trước những nhăng nhố của xã hội thuộc địa như vẽ ra sau đây, đã được coi là của Học Lạc đấy:
Những bài thơ vạch trần thói bon chen bỉ ổi, hèn hạ của Tổng đốc Định Tường Nguyễn Kim Tri, chê bai sự hèn nhát của võ quan Hộ đốc Mỹ Tho Nguyễn Công Nhàn: “Giặc tới Bến Tranh, run lập cập/Tàu vô Cửa Tiểu, chạy bỏ càng”… cũng được nhiều người Nam Kỳ cho là của Học Lạc.
Và cùng thời, cùng giọng với những Tú Xương, Nguyễn Khuyến… ở ngoài Bắc, Học Lạc luôn được người Phương Nam – cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX – coi trọng và nhìn nhận là nhà thơ trào phúng ưu thời mẫn thế.
Tài năng của đất Nam Kỳ lục tỉnh, với những tác phẩm xuất sắc kể thêm làm ví dụ, như bài “Ông làng hát bội” sau đây:



















