Làm gì để đạt mục tiêu dân số và phát triển bền vững tại Việt Nam?

Hôm nay (11/7) là Ngày Dân số thế giới, cũng là dịp kỷ niệm 30 năm thực hiện Chương trình Hành động về Dân số và Phát triển. 30 năm qua, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức trong công tác dân số…

Xung quanh nội dung này, phóng viên đã trao đổi với Cục trưởng Cục Dân số (Bộ Y tế) Lê Thanh Dũng.

Mức sinh giảm, tỉ số giới tính khi sinh ở mức cao, thách thức mục tiêu dân số và phát triển.

– Ngày Dân số thế giới năm nay cũng là dịp kỷ niệm 30 năm thực hiện Chương trình Hành động Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển, ông có thể cho biết những kết quả Việt Nam đã đạt được trong thực hiện Chương trình hành động này?

Cục trưởng Lê Thanh Dũng: Năm 1994 tại Cairo, Ai Cập, Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển, 179 quốc gia trong đó có Việt Nam đã thông qua Chương trình hành động với tầm nhìn sâu rộng trong lĩnh vực dân số và phát triển.

Trong 30 năm thực hiện Chương trình hành động này, công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình ở nước ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, như tốc độ gia tăng dân số đã được khống chế thành công, nước ta bước vào thời kỳ dân số vàng từ 2007;

Tuổi thọ trung bình tăng nhanh, cao hơn nhiều nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Tình trạng suy dinh dưỡng, tử vong bà mẹ, trẻ em giảm mạnh.

Tầm vóc, thể lực người Việt Nam có bước cải thiện. Dân số đã có sự phân bố hợp lý hơn, gắn với quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Công tác tuyên truyền, giáo dục, nhận thức về dân số và kế hoạch hóa gia đình của các cấp, các ngành và toàn dân có bước đột phá…

Lam gi de dat muc tieu dan so min - Làm gì để đạt mục tiêu dân số và phát triển bền vững tại Việt Nam?Cục trưởng Cục Dân số (Bộ Y tế) Lê Thanh Dũng cho biết trong 30 thực hiện Chương trình hành động về Dân số và Phát triển, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức lớn như chênh lệch tỷ lệ sinh giữa các vùng; nguy cơ không đạt được mục tiêu duy trì mức sinh thay thế trên phạm vi toàn quốc; tốc độ già hóa dân số nhanh và sớm trở thành quốc gia dân số già; tỉ số giới tính khi sinh vẫn luôn ở mức cao…

Tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết vẫn chậm khắc phục; Tầm vóc, thể lực, chất lượng dân số, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn còn hạn chế; Tỷ lệ mang thai ở người chưa thành niên còn cao, nhất là khu vực miền núi phía bắc và Tây Nguyên; Tỷ lệ nhu cầu chưa được đáp ứng về kế hoạch hóa gia đình có xu hướng tăng…

Giải quyết những vấn đề này là cần thiết để duy trì phát triển kinh tế và xã hội bền vững.

– Một trong những thách thức của công tác dân số và phát triển tại Việt Nam đó là nguy cơ không đạt được mục tiêu duy trì mức sinh thay thế trên phạm vi toàn quốc. Xin ông làm rõ hơn về nội dung này?

Cục trưởng Lê Thanh Dũng: Mức sinh thay thế là mức sinh trung bình của người phụ nữ trong toàn bộ cuộc đời của mình sinh đủ số con để thay mình thực hiện chức năng sinh đẻ và duy trì (nòi giống).

Khi tổng tỷ suất sinh là 2,1 con/phụ nữ, sẽ được coi là đạt mức sinh thay thế. Khi mức sinh thấp, ảnh hưởng suy giảm quy mô dân số, cơ cấu tuổi của dân số trong tương lai, suy giảm nhóm dân số trong độ tuổi lao động; tác động mạnh vào quá trình di cư, tăng nhanh quá trình già hóa dân số, mất cơ hội tận dụng cơ cấu dân số vàng…

Hiện nay mức sinh giữa các vùng, miền đang có sự chênh lệch đáng kể. 21 tỉnh, thành phố có mức sinh thấp; thậm chí một số địa phương có mức sinh rất thấp, tập trung ở khu vực Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và duyên hải miền trung.

Vùng Đông Nam Bộ là khu vực có tỷ lệ giảm sâu: năm 1999 vùng này vẫn còn tỷ lệ một phụ nữ sinh 2,9 con thì hiện nay giảm xuống chỉ còn 1,56 con. Mức sinh thấp không chỉ diễn ra ở một số đô thị, nơi có điều kiện kinh tế phát triển mà còn xuất hiện ở nhiều tỉnh có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn như ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nơi chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, bảo đảm an ninh quốc gia về lương thực.

Các tỉnh có mức sinh thấp chiếm khoảng 39,4% dân số cả nước, sẽ tác động rất lớn đến quá trình phát triển bền vững đất nước.

Mức sinh là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tốc độ tăng dân số, quy mô dân số cũng như cơ cấu dân số tại một quốc gia. Nếu mức sinh quá cao so với mức chết sẽ dẫn đến quy mô dân số tăng quá nhanh, tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái và các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

Ngược lại, nếu mức sinh quá thấp và kéo dài sẽ tác động trực tiếp, sâu sắc tới cơ cấu dân số và để lại nhiều hệ lụy, thể hiện ở những điểm lớn sau: Một là sự thiếu hụt nhóm dân số trong độ tuổi lao động; hai là gia tăng tốc độ già hóa, số lượng và tỷ trọng người cao tuổi; ba là làm suy giảm quy mô dân số và tăng trưởng âm về dân số. Những yếu tố này đều có tác động lớn đến phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh.

Lam gi de dat muc tieu dan so 2 min - Làm gì để đạt mục tiêu dân số và phát triển bền vững tại Việt Nam?Mức sinh giảm, tỉ số giới tính khi sinh ở mức cao, thách thức mục tiêu dân số và phát triển tại Việt Nam.

Làm gì để tránh hệ luỵ do mức sinh thay thế giảm?

– Xu hướng mức sinh giảm sẽ tác động như thế nào đến cơ cấu tuổi của dân số trong tương lai, thưa ông?

Cục trưởng Lê Thanh Dũng: Dân số Việt Nam đang ở giai đoạn chuyển từ “mức sinh thay thế” sang xu hướng “mức sinh thấp”, từ mô hình “sinh sớm” sang mô hình “sinh muộn”, từ “mức chết cao” sang “mức chết thấp”, từ cơ cấu “dân số trẻ” sang giai đoạn “già hoá dân số” và chuyển sang “dân số già”. Xu hướng mức sinh giảm, ngoài tác động về quy mô dân số còn dẫn đến tỷ trọng trẻ em dưới 15 tuổi giảm, tỷ trọng người già tăng lên.

Hiện nay, Việt Nam vẫn đang ở trong quá trình già hóa dân số và là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa nhanh nhất thế giới. Trong khi các nước phát triển mất nhiều thập kỷ, có nước hàng thế kỷ mới chuyển đổi từ giai đoạn già hóa dân số sang giai đoạn dân số già nhưng ở Việt Nam chỉ khoảng 26 năm.

Nếu như năm 2009, cứ khoảng 3 trẻ em dưới 15 tuổi mới có 1 người từ 60 tuổi trở lên thì đến năm 2019 cứ khoảng 2 trẻ em dưới 15 tuổi đã có 1 người 60 tuổi trở lên, theo đó, khi mức sinh giảm càng làm thúc đẩy nhanh chóng quá trình già hóa dân số ở nước ta.

Như vậy, nếu mức sinh tiếp tục giảm thì tương lai lực lượng trong độ tuổi lao động sẽ giảm, trong khi tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng nhanh dẫn đến tỷ trọng dân già sẽ chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng dân số và Việt Nam sẽ có cơ cấu dân số già.

– Chúng ta đang ở thời điểm quan trọng trong việc xây dựng chính sách dân số, đó là đang xây dựng dự thảo Luật dân số để trình Quốc hội và hiện dự luật này đang được lấy ý kiến nhân dân, các bộ, ban ngành… Vậy ông có thể cho biết vấn đề mức sinh được đề cập thể nào trong dự thảo Luật Dân số?

Cục trưởng Lê Thanh Dũng: Năm 2023, Bộ Y tế đã xây dựng, trình Chính phủ đề nghị xây dựng Luật Dân số, Chính phủ có Tờ trình số 47/TTr-CP ngày 28/02/2023 gửi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023.

Căn cứ ý kiến thẩm tra, Bộ Y tế được giao tiếp thu, giải trình, chỉnh lý, hoàn thiện Hồ sơ Đề nghị xây dựng Luật Dân số, báo cáo Chính phủ; dự kiến trình Quốc hội trong năm 2025.

Một trong những chính sách cơ bản của Luật Dân số là “Duy trì mức sinh thay thế” với mục tiêu chính sách bao gồm: Duy trì vững chắc mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con) trong phạm vi cả nước, nhằm ổn định quy mô dân số vào giữa thế kỷ XXI; khắc phục tình trạng chênh lệch đáng kể mức sinh giữa các vùng, đối tượng; Quy định quyền, nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trong việc sinh con; bảo đảm thực hiện quyền con người trong thực hiện chính sách dân số.

Lam gi de dat muc tieu dan so 3 min - Làm gì để đạt mục tiêu dân số và phát triển bền vững tại Việt Nam?Trè chào đời tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.

Để thực hiện mục tiêu chính sách, các giải pháp dự kiến được đề xuất bao gồm: Các biện pháp điều chỉnh mức sinh trên phạm vi toàn quốc; các biện pháp hỗ trợ, khuyến khích người dân sinh đủ hai con tại các tỉnh, thành phố thuộc vùng mức sinh thấp; tiếp tục thực hiện các chính sách, biện pháp giảm sinh tại các tỉnh, thành phố thuộc vùng có mức sinh cao;

Quy định các cặp vợ chồng, cá nhân có quyền quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh; được cung cấp thông tin, tiếp cận, lựa chọn, sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình. Cặp vợ chồng, cá nhân có nghĩa vụ thực hiện chính sách, pháp luật về dân số; bảo đảm trách nhiệm chăm sóc và nuôi dạy con tốt.

Lý do lựa chọn giải pháp, thứ nhất, thể chế hóa mục tiêu Nghị quyết số 21-NQ/TW của Hội Nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới; tạo cơ sở pháp lý thực hiện các giải pháp điều chỉnh mức sinh tại các vùng có mức sinh khác nhau nhằm duy trì vững chắc mức sinh thay thế;

Thứ hai, khắc phục tình trạng chênh lệch đáng kể mức sinh giữa các vùng, đối tượng; tình trạng người ít có điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng con còn đẻ nhiều, ảnh hưởng đến chất lượng dân số;

Thứ ba, tránh tình trạng mức sinh xuống quá thấp, khó vực lên như kinh nghiệm của một số quốc gia, gây già hóa trầm trọng, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế – xã hội;

Thứ tư, bảo đảm quyền con người, phù hợp với Hiến pháp; tương thích với các điều ước quốc tế liên quan đến dân số mà Việt Nam là thành viên; phù hợp với các cam kết chính trị của Việt Nam và tạo tác động tốt với dư luận quốc tế.

Xin trân trọng cảm ơn Cục trưởng!

 

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược Dân số Việt Nam, trong đó, các nội dung ưu tiên đến 2030, cụ thể như sau:

– Điều chỉnh mức sinh phù hợp với vùng đối tượng nhằm đảm bảo duy trì mức sinh thay thế quốc gia và giảm 50% chênh lệch mức sinh giữa nông thôn và thành thị, miền núi và đồng bằng;

– Củng cố, phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ KHHGĐ để bảo đảm mọi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đều được tiếp cận thuận tiện với các biện pháp tránh thai hiện đại, phòng tránh vô sinh và hỗ trợ sinh sản; Giảm 2/3 số vị thành niên, thanh niên có thai ngoài ý muốn;

– Rà soát, bổ sung, tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách khuyến khích, hỗ trợ đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo;

– Thực hiện đồng bộ các giải pháp về truyền thông; khuyến khích hỗ trợ; thực thi pháp luật và hợp tác quốc tế để đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên, phấn đấu duy trì cơ cấu tuổi ở mức hợp lý;

– Nâng cao chất lượng dân số: thực hiện các biện pháp thực hiện để triển khai tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn; Giảm tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống; phụ nữ mang thai và trẻ em được tầm soát bệnh tật bẩm sinh phổ biến nhất; Tăng tuổi thọ bình quân và thời gian sống khỏe mạnh; tăng chiều cao người Việt Nam và Chỉ số Phát triển con người (HDI) nằm trong nhóm 4 nước hàng đầu khu vực Đông Nam Á;

– Thúc đẩy phân bố dân số hợp lý và bảo đảm quốc phòng, an ninh; phát huy tối đa lợi thế cơ cấu dân số vàng, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển đất nước nhanh, bền vững;

– Thích ứng với già hóa dân số, đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.

Thái Bình (thực hiện)

 

     


     

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây