LỊCH SỬ CĂN CỨ LÕM CÁCH MẠNG B1 HỒNG PHƯỚC – KỲ 7

phong trào cách mạng ở Hồng Phước

CĂN CỨ LÕM CÁCH MẠNG B1 HỒNG PHƯỚC PHÁT HUY VAI TRÒ CĂN CỨ TIỀN PHƯƠNG, GÓP PHẦN ĐÁNH CHO MỸ CÚT, NGỤY NHÀO, GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT TỔ QUỐC (1965 – 1975)

Căn cứ lõm cách mạng B1 Hồng Phước từ buổi đầu quân Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng đến Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân năm 1968

Giữa lúc phong trào cách mạng ở Hồng Phước đang trên đà phát triển thuận lợi, thì vào ngày 8 tháng 3 năm 1965, quân viễn chinh Mỹ ào ạt đổ bộ vào Đà Nẵng, xây dựng Đà Nẵng thành căn cứ liên hợp quân sự lớn nhất miền Trung và tăng cường lực lượng cán quét, chiếm đóng, mở rộng “vành đai trắng” xung quanh Đà Nẵng nhằm đẩy lực lượng của ta ra xa thành phố để bảo vệ căn cứ liên hợp quân sự của chúng. Từ đây, Mỹ – ngụy chuyển từ chiến lược “chiến tranh đặc biệt” sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” trên toàn chiến trường miền Nam.

Hòa Khánh là của ngõ phía Tây Bắc của Đà Nẵng. Quân Mỹ và quân ngụy đã xây dựng ở đây một hệ thống đồn bót dày đặc; quân số tăng lên đột biến, lúc cao nhất có 1 sư đoàn bộ binh Mỹ, 1 lữ đoàn thủy quân lục chiến Mỹ, 14 tiểu đoàn quân ngụy, 1 sư đoàn bộ binh ngụy, 1 trung đoàn công binh ngụy, 1 căn cứ hậu cần, 1 sân bay; đều là những đơn vị chủ lực, thiện chiến. Nếu tính tỷ lệ đầu người thì lúc này ở Hòa Khánh cứ 1 người dân có đến 7 tên lính Mỹ, chưa kể lính ngụy. Cùng với xây dựng các căn cứ quân sự, hậu cần, quân Mỹ và quân ngụy đã sử dụng xe bọc thép M113, xe cày, cày ủi làng mạc, nhà cửa dọc đường Quốc lộ 1A từ Chơn Tâm đến Xuân Thiều, đẩy dân vào các khu dồn và xúc dân từ các vùng nông thôn vào các khu dồn này để kìm kẹp, kiểm soát.

Trong bối cảnh quân Mỹ vừa đổ bộ vào, tình hình khó khăn gấp nhiều lần so với thời kỳ trước đó, thực hiện sự chỉ đạo của Thành ủy Đà Nẵng, Quận ủy Quận Một đã quyết định tiếp tục bám trụ chắc căn cứ lõm cách mạng Hồng Phước nhằm xây dựng ở đây thành căn cứ bàn đạp để chỉ đạo xây dựng các lõm chính trị trong nội thành, phát triển phong trào cách mạng, đưa lực lượng, vũ khí vào thành phố để tiến công địch trong tình hình mới: đánh Mỹ, diệt ngụy.

Về công tác xây dựng Đảng, tháng 1 năm 1965, Quận ủy Quận Một[1] quyết định thành lập chi bộ Đảng đầu tiên của xã Hòa Khánh gồm 3 đồng chí do đồng chí Nguyễn Thị Liên, đảng viên, cơ sở cách mạng nòng cốt của thôn Hồng Phước làm Bí thư. Lúc đầu Chi bộ có 3 đảng viên; về sau phát triển thêm nhiều đảng viên mới như: Nguyễn Duy Đằng, Hà Thị Mau, Đào Thị Thanh… Các đồng chí Hà Thị Mau, Đào Thị Thanh đều là những cán bộ cơ sở nòng cốt của Hồng Phước.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quận ủy Quận Một và Chi bộ Hòa Khánh, phong trào cách mạng ở Hồng Phước phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ. Căn cứ lõm cách mạng Hồng Phước phát huy vai trò, vị thế của một căn cứ bàn đạp, làm chỗ dựa, đi về, để các lực lượng của ta thọc sâu xây dựng các căn cứ lõm trong nội thành của Quận Một, Đà Nẵng. Công tác xây dựng, phát triển cơ sở cách mạng ở Hồng Phước tiếp tục được chú trọng; những gia đình ở Hồng Phước có địa thế thuận lợi đã  tiếp tục đào nhiều hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ lãnh đạo, cán bộ, chiến sỹ, lực lượng vũ trang; các gia đình không có điạ thế đào hầm thì tham gia bảo đảm cơm nước, các nhu cầu thiết yếu và nắm tình hình địch để cung cấp cho cách mạng, làm giao liên đưa thư từ, tài liệu, đưa đón lực lượng, vận chuyển vũ khí trang bị vào thành phố và kịp thời phát hiện bọn tề điệp góp phần bảo vệ an toàn cho cán bộ, chiến sỹ về hoạt động…

Do địa hình ở đây đất cát, lại gần căn cứ pháo binh địch nên các cơ sở xây dựng hầm bí mật theo kiểu hầm nổi, tầng dưới dùng để tránh bom, pháo, tầng trên làm hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ (để khi địch pháo kích không bị lún, sụt gây sụp hầm). Đây là cách làm táo bạo, địch chỉ xem đó là hầm tránh đạn của dân, không biết tầng trên lại có hầm bí mật. Tiêu biểu phong trào đào hầm bí mật giai đoạn này như:

– Gia đình bà Phạm Thị Miên có 7 căn hầm bí mật, trong đó có một căn hầm hai tầng, tầng dưới dùng để ẩn nấp, tránh bom đạn, còn tầng trên là hầm bí mật,  tầng hầm này có thể nuôi giấu 6 cán bộ, chiến sỹ.

– Gia đình bà Phạm Thị Dĩ có 4 hầm bí mật, là nơi nuôi giấu nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Quận Nhì như: Tăng Ngọc Phương, Đặng Đình Vân, Lê Thị Tính, Phan Văn Tải, Hồ Phúc Ngôn, Nguyễn Thanh Tuấn. Lê Bá Lai…

– Gia đình bà Nguyễn Thị Liên đào 3 căn hầm bí mật để nuối giấu cán bộ, bản thân bà là Bí thư Chi bộ đầu tiên ở Hòa Khánh. Đây là một nơi thường tổ chức các cuộc họp quan trọng của Quận ủy và Quận đội quận Nhì để chuẩn bị cho các trận đánh địch.

– Gia đình bà Hà Thị Mau đào 3 căn hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ, bộ đội. Khi vừa sinh được 15 ngày, sức khỏe kém, không chịu được mùi hôi, nhưng với tin thần cách mạng, bà đã đồng ý để cho một đồng chí thương binh của ta vào ẩn nấp ngay trong căn buồng của bà để cán bộ y tế của ta hằng ngày đến chăm sóc vết thương cho đồng chí thương binh.

– Gia đình  bà Lê Thị Cảnh (Bà Hoài) có 2 căn hầm bí mật ở sát khu hậu cần của quân Mỹ.

Dù nằm trong vòng kìm kẹp của địch, ngay sát nách căn cứ quân sự và hậu cần của địch, nhưng những căn hầm bí mật này đã không một lần bị lộ, vẫn giữ được bí mật và là nơi nuôi giấu an toàn cán bộ cách mạng. Có được điều đó phải kể đến yếu tố lòng dân Hồng Phước, cách ứng phó thông minh, gan dạ, can trường của các cơ sở cách mạng ở nơi đây, như những trường hợp của bà Phạm Thị Miên, bà Lê Thị Cảnh (Hoài)…

Một lần địch kéo quân đến bao vây, đào bới, xăm hầm bí mật (hầm bí mật 2 tầng) của nhà bà Phạm Thị Miên; 6 đồng chí của ta nấp dưới hầm đã lên nòng súng và rút chốt an toàn lựu đạn, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Song trên nhà, bà Phạm Thị Miên giả ngất xỉu, nằm giữa sân nhà, một mặt nhằm gây tiếng động, báo với anh em trong hầm yên tâm là bà vẫn ở tại nhà, không đi đâu, không khai báo, có chết bà cùng chết với anh em, mặt khác làm phân tán sự chú ý bọn địch đang chia phiên nhau tìm hầm… Kết quả là qua 7 hiệp đào bới, bọn địch vẫn không tìm ra căn hầm bí mật ở nhà Bà Miên. Chúng không ngờ rằng căn hầm bí mật lại nằm ở bên trên căn hầm tránh bom đạn bình thường.

Trường hợp ở nhà bà Lê Thị Cảnh (Hoài): một hôm trời mưa lạnh, có 2 tên lính đang đi do thám, thấy trong nhà có người liền xông cửa vào nhà; 3 cán bộ chiến sỹ của ta vừa lên khỏi hầm và đang ngồi họp trong nhà liền tiêu diệt một tên, một tên chạy thoát, và đem xác tên bị diệt ra vùi ngoài ruộng lúa rồi rút về căn cứ. Bọn địch đến bao vây và phá nhà bà Hoài nhưng không phát hiện được hầm bí mật.

Cùng với những căn hầm bí mật an toàn đó, các điểm “Chong đèn” ở nhà bà Phạm Thị Dĩ, Nguyễn Thị Liên…vẫn đều đặn phát tín hiệu cho cán bộ, chiến sỹ ta từ căn cứ về hoạt động, giống như hình ảnh trong bài thơ Những ngọn đèn đứng gác của Nhà thơ Chính Hữu: Trên đường ta đi đánh giặc/Ta về Nam hay ta lên Bắc/Ở đâu/Cũng gặp/Những ngọn đèn dầu/Chong mắt/Đêm thâu…

Mặc dù nằm trong vùng địch kiểm sát, kìm kẹp, đời sống vô cùng khó khăn nhưng cán bộ, nhân dân Hồng Phước luôn nhường cơm sẻ áo, hết lòng nuôi dưỡng, bảo vệ, che chở cho cán bộ, chiến sỹ về đây hoạt động. Không những thế, nhân dân Hồng Phước đã tích cực tham gia, phối hợp với các đơn vị đặc công, biệt động tổ chức nắm địch, chuẩn bị chiến trường, tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu, tạo điều kiện để bộ đội, du kích của ta đánh vào các mục tiêu quan trọng của địch và bảo vệ căn cứ, trong đó, một trong những trận đánh lớn, nổi tiếng của quân ta trên địa bàn Thanh Vinh – Hồng Phước, có sự đóng góp trực tiếp của nhân dân Hồng Phước là trận tiêu diệt trận địa pháo Thanh Vinh của quân viễn chinh Mỹ trong chiến dịch Xuân Hè năm 1966.

Trong bối cảnh lịch sử lúc này, quân Mỹ đã đổ bộ vào Đà Nẵng, xây dựng Đà Nẵng thành khu liên hợp quân sự lớn của chúng; phong trào “Ra Hòa Vang đánh Mỹ” sôi nổi khắp Quảng Đà, Thành ủy và Thành đội Đà Nẵng quyết định thành lập Tiểu đoàn Đặc công 89, là tiểu đoàn hậu cứ của thành đội Đà Nẵng. Tiểu đoàn có nhiệm vụ chuyên trách đánh cứ điểm sân bay, bến cảng, kho hàng và cơ quan đầu não, tên lửa, pháo binh, kho xăng dầu, bom đạn của địch.

Đúng như dự kiến, ngày mùng 5 tháng 11 năm 1965, Tiểu đoàn Đặc công 89 được thành lập, đồng chí Hồ Phúc Ngôn, một người con của quê hương Hồng Phước, làm đại đội phó của Đại đội. Một thời gian ngắn sau, đồng chí Ngôn được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn Đặc công 89 của Thành đội Đà Nẵng. Tháng 5 năm 1966, trong lúc phong trào đấu tranh chính trị “76 ngày đêm làm chủ thành phố Đà Nẵng” của nhân dân Đà Nẵng vừa kết thúc, Đại đội 1 của Tiểu đoàn 89 được giao nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường và trực tiếp chiến đấu tiêu diệt trận địa pháo Thanh Vinh của quân Mỹ. Trận địa pháo này của địch chỉ cách thôn Hồng Phước khoảng 250m về phía Nam.

Nhận nhiệm vụ, Đại đội 1 đã chọn 6 đồng chí:  Ngôn, Bân, Ngưu, Qui, Tỉnh và Chuyên, do đồng chí Ngôn, đại đội trưởng chỉ huy, đi điều tra căn cứ pháo binh của địch ở Thanh Vinh. Từ căn cứ miền núi, tổ trinh sát xuống đồi Hố Chuối (Kim Liên), vượt qua sông Thủy Tú và hướng về mục tiêu. Khi đến gần Thanh Vinh thì đã 4 giờ sáng. Đồng chí Ngôn đã dẫn cả tổ về nhà Mẹ Xiềng – mẹ của đồng chí Ngôn để trú ẩn. Đây cũng là lần đầu tiên sau khi đi tập kết ra Bắc rồi về lại miền Nam chiến đấu, đồng chí Ngôn về lại nhà và gặp lại mẹ của mình. Sau những giây phút cảm động, mọi người trong nhà tròn xoe con mắt ngạc nhiên và người mẹ “chỉ biết đứng nhìn và từng giọt nước mắt lặng lẽ chảy trên gò má đầy nếp nhăn nheo”, bà Xiềng và những người trong nhà đã “khẩn trương ngụy trang, biến ngay hầm trú ẩn bom pháo Mỹ của gia đình thành hầm bí mật” cho tổ trinh sát. Mẹ Xiềng còn hướng dẫn cho 6 đồng chí cách “cơi nới thêm hầm, làm thêm ngách để bảo đảm đủ nằm, vì vách hầm đã có sẵn bao cát” và căn dặn: “Các con dưới hầm cứ bình tĩnh ngủ yên, đừng lo lắng. Trên này có động tĩnh gì để một mình mẹ đối phó” [2]. Với sự giúp đỡ của gia đình Mẹ Xiềng, tổ trinh sát phân công nhau mỗi người một hướng, đột nhập vào trận địa pháo Thanh Vinh quan sát và nắm tình hình, quy luật hoạt động của quân Mỹ ở căn cứ này. Trên đường về lại hậu cứ, tổ trinh sát gặp được các đồng chí Nguyễn Duy Đằng, Phan Văn Tải, Phan Văn Bảy cung cấp thêm những chi tiết và quy luật hoạt động của địch ở trận địa pháo này. Khi về đơn vị, tổ nhanh chóng vẽ sơ đồ và đắp sa bàn trận địa pháo của địch, thông qua phương án chiến đấu và được Đảng ủy, Ban Chỉ huy Tiểu đoàn phê duyệt, đồng thời giao nhiệm vụ cho đồng chí Hồ Phúc Ngôn trực tiếp chỉ huy trận đánh này.

Ngày mùng 10 tháng 6 năm 1966, đại đội chọn 60 đồng chí, tổ chức thành 3 mũi, tấn công căn cứ địch. Mũi thứ nhất, là mũi chủ yếu, do đồng chí Hồ Phúc Ngôn trực tiếp chỉ huy từ hướng Tây đánh xuống. Mũi thứ 2 do đồng chí Bân phụ trách, từ hướng đông đánh lên. Mũi thứ 3 do đồng chí Chuyên phụ trách, từ hướng bắc đánh vào. Ngoài ra, còn một đội hình dự bị có thể chi viện kịp thời khi có tình huống ngoài dự kiến xảy ra. Lực lượng của ta được trang bị các loại vũ khí gồm B40, B41; thủ pháo, lựu đạn, 7 khối bộc phá 5kg bằng thuốc TNT, 3 bộc phá ống dùng để phá rào.

Đúng 14 giờ cùng ngày, đại đội bắt đầu hành quân. Mỗi cán bộ chiến sĩ của đơn vị thể hiện quyết tâm bằng cách cắt dán câu: “Thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” lên báng súng AK của mình. Đến 23 giờ, đơn vị bắt đầu triển khai các hướng để tiếp cận mục tiêu và 30 phút sau, các mũi nhanh chóng tiến hành cắt rào đưa hỏa lực lọt vào bên trong căn cứ địch. Và đúng 24 giờ, tức giờ G, cả 3 mũi quân của ta đã bắn B40, B41 dồn dập vào trận địa pháo của địch, đánh sập hai lô cốt đầu cầu, tiến vào khu trung tâm. Quân Mỹ, sau những giây phút hoảng loạn lúc đầu đã đánh phản kích ta dữ dội, tuy nhiên, chúng bị ta áp đảo và tiêu diệt.

Sau 30 phút chiến đấu, các mục tiêu cơ bản đề ra trong phương án đều thực hiện được. Các chiến sĩ đặc công của ta đã làm chủ hoàn toàn trận đánh và biến trận địa pháo đầy uy lực của quân viễn chinh Mỹ thành một biển lửa. Sở chỉ huy của Mỹ trung tâm thành phố Đà Nẵng báo động và cho máy bay Đa-co-ta thả đèn sáng, bắn rốc két, nhưng không thể cứu vãn được tình thế. Kết quả trận đánh, ta tiêu diệt gần 200 lính Mỹ, phá hủy 7 khẩu pháo 105 ly, 7 xe kéo pháo, 20 nhà bạt cùng công sự, lô cốt hầm ngầm, thu 4 đại liên M60 và một số súng đạn, quân trang quân dụng.

Có thể khẳng định, đây là một trong những trận đánh Mỹ đầu tiên và là một trận đánh hay của cán bộ chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn Đặc công 89 Đà Nẵng. Và trong thắng lợi đó, có phần đóng góp tích cực của căn cứ địa cách mạng Hồng Phước, từ trong quá trình nắm tình hình địch đến trong và sau trận đánh, tiêu biểu như mẹ Xiềng và người trong gia đình của mẹ đã nuôi giấu, che chở cho tổ trinh át khi đi chuẩn bị chiến trường; hay như các đồng chí Phan Văn Tải, Nguyễn Duy Đằng, Phan Văn Bảy, đang hoạt động tại căn cứ dẫn đường đi trinh sát